Thứ Hai, 21 tháng 5, 2018

Cần lắm một nếp sống văn hóa ăn uống


Cần lắm một nếp sống văn hóa ăn uống

Cũng từng ngồi quán bar ở London hay là các quán ăn trong dó có bán rượu, bia uống ngay tại chỗ, nhưng mình chưa bao giờ thấy thực khách xứ này nâng cốc, nâng ly "quá mức" tưng bừng, ồn ào như ở Việt Nam mình. Cái chính là người châu Âu không bao giờ muốn gây phiền, làm phiền lòng những người xung quanh. Đó là thứ văn hóa đã thấm vào máu ở những con người này.

Về bia rượu, nên nhớ đây là xứ sở của (rượu) whitsky lừng danh thế giới và cũng là một đất nước tiêu thụ nhiều loại bia rất ngon nhập của các nước làm bia giỏi, nhưng cái cách mà họ ăn uống ở nơi công cộng (ở nhà, ở các nơi thân hữu chắc càng như thế) là luôn luôn là sự chừng mực, lịch sự. Vui vẻ thì rất vui vẻ nhưng giữ ý tứ để không ồn ã, xô bồ.

Vậy thì đã đến lúc trong chúng ra, không chỉ người Hà Nội, mà người khắp các địa phương khác trên khắp quê hương Việt Nam mình đã đến thời điểm phải "chỉnh trang" lại nết ăn, nết uống. Chứ như hiện tại thì... tệ quá rồi.

Nhân đây xin phép bạn Tuệ Phong đưa lại bài bạn viết trên facebook cách đây hơn một tuần.

Vệ Nhi   

----- 

BÀI CỦA TÁC GIẢ TUỆ PHONG:

Đợt tôi về thăm gia đình, hôm đó cùng với mấy chú em rủ nhau ra quán uống bia. Vừa ngồi được một lúc tôi đã nhận ra một sự khác biệt, đó là sự ồn ào hỗn độn nếu không muốn nói là đinh tai nhức óc.





 

Bia mang đến, tôi và mọi người vừa nâng cốc để uống thì bất chợt tôi giật thót mình khi nghe thấy ở bàn bên cạnh một tiếng hô rất to như kiểu bộ đội ra trận xung phong :1,2,3, Zdôôô...
 

Tôi ngạc nhiên nhìn sang thì thấy khoảng chục thanh niên đang đứng ngửa cổ nốc những giọt cuối cùng của cốc bia vào họng.
Lúc sau thấy yên yên, tôi không để ý và đang nói chuyện bình thường với mọi người thì một lần nữa tôi lại giật mình vì từ đằng sau cái bàn của tôi lại diễn ra cái cảnh đúng như trước và lại : 1,2,3 Zdôôô...
 

Tôi bắt đầu cảm thấy khó chịu thì cái bàn phía trước mặt lại diễn ra cái cảnh đó một lần nữa và cứ như vậy liên tục suốt cả buổi từ lúc đến chúng tôi phải ngồi uống bia trong cái khung cảnh ầm ĩ, hỗn độn và gào thét đó. 

Đến lúc ra về, cậu em tôi với vẻ ái ngại nói :


-Anh ơi, có những hôm em còn chứng kiến cảnh mấy ông mồm còn đang đầy thức ăn chưa kịp nuốt đã hô, nên bắn tung tóe hết cả vào mặt người đối diện thật là vô ý thức, mất vệ sinh và bất lịch sự. 


Nghe đến đây tôi thực sự lắc đầu ngao ngán và cảm thấy buồn cho cái văn minh hiện nay ở Thủ đô Hà nội. Và cho đến tận bây giờ tôi vẫn không hiểu cái văn minh ấy nó từ đâu mà ra ? Và ai là người đã mang nó đến đây ? Bởi từ trước đến nay tôi có nhìn thấy những cảnh như thế ở cái đất Hà nội thanh lịch này bao giờ đâu. 


Trong tiềm thức của tôi, ngày xưa mọi người nhất là các cụ trong bữa, họ ăn uống rất nhỏ nhẹ và nói năng lễ độ, xưng hô đúng mực và có ngôi thứ, cũng như kẻ nói phải có người nghe rất tôn trọng và lễ phép, bất quá thì cụng chén nhẹ với nhau một cái cho nó thân thiện và lịch sự, chứ đâu có như bây giờ ?





Tôi cũng không hiểu họ làm như thế để làm gì ? Họ đi ăn đi uống hay đi đánh trận ? Mà không phải chỉ có một vài người, ở đâu tôi cũng gặp và với mọi tầng lớp như một kiểu cách sành điệu, thời thượng hiện nay ở Hà nội. Thôi thì già trẻ, gái trai ai cũng thế cứ động uống là đồng loạt cầm cốc đứng dậy chẳng ai bảo ai: 1,2,3 Zdôôô...cứ như bộ đội cụ Hồ ra trận hô “xung phong” vậy. 


Thật là vô văn hoá và thô thiển, ồn ào ảnh hưởng và không tôn trọng người khác cũng như chính bản thân mình.
Những cái văn hoá kệch cỡm bất lịch sự du nhập vào Hà nội đó vô tình đã làm hỏng hết cái thuần phong mỹ tục, cái bình yên trang nhã của người Tràng An, cái lịch lãm cao sang của người Hà thành...


Thật là đáng tiếc.


T.P.

Thứ Sáu, 4 tháng 5, 2018

Tháng 4 & vết thương chiến tranh tạm lành


Tháng 4 & vết thương chiến tranh tạm lành

(Bài viết đã đăng trên trang facebook ngày 30/4/2018)

Nguyễn Vĩnh

Giữa tháng 4 năm nay, 2018, có thể nói là niềm vui lớn vô bờ, đúng hơn là một "hồng phúc" đã gõ cửa và bước vào nhà gia đình chúng tôi.

Em tôi (là em của 2 anh em đầu nhưng là anh của mấy em gái tiếp sau) - liệt sĩ Nguyễn Văn Yên, giấy báo tử gửi đến nhà giữa năm 1977, phải đến hôm nay, nghĩa là 41 năm sau, mới tìm được ra nơi em hy sinh, hoàn cảnh em ngã xuống.

Người duy nhất còn sống trong trận chiến ngày ấy, giờ đã 70 tuổi, quê tận Cao Bằng, qua rất nhiều tình huống phải nói là ngẫu nhiên và quá may mắn mới biết quê quán chính xác thôn xã của em tôi. Và ông, tên là Bế Văn Hợp (tên khai sinh Bế Nhật Hợp, dân tộc Tày Cao Bằng) đã không quản đường sá xa xôi, tuổi cao, mới đây ông đã tìm tới được gia đình tôi báo tin. Tôi đang ở xa đất nước nhưng có các em gái tôi ở quê may mắn sao đã gặp được ông.

Nghe người thân tôi kể lại, đận tìm đường vào quê tôi của ông cũng khó khăn vất vả. Khi xướng tên làng xã cũ, có người ông gặp hỏi đã trả lời không biết (vì đổi tên nên không còn tên xã ở khu vực này nữa mà chỉ là phường, là thị xã, mà tên tỉnh cũng khác rồi...). Ông kiên trì tìm ra UBND phường, may mắn sao lại gặp được người con rể của chú tôi, ông em đó quá biết chuyện nên đã dẫn ngay ông cựu chiến binh già vào nhà bà em gái tôi (gọi thế vì em gái tôi cũng đã 73 tuổi).

Tôi nghĩ người cựu binh già này làm công việc báo tin trên như một nghĩa cử với người đồng đội đã khuất. Ông làm mà không ai thúc giục, không một động cơ gì, bởi sự việc 49 năm đã trôi qua rồi còn gì? (vì năm em tôi hy sinh là năm 1969, ngày 28/9; chứ không phải 1972, ngày 5/7, như giấy báo tử). Ông thật là người đáng kính trọng. Gia đình chúng tôi mãi mãi coi ông là vị ân nhân của gia đình mình.

Ông Bế Văn Hợp kể lại hoàn cảnh và giây phút Nguyễn Văn Yên hy sinh cùng 3 đồng đội khác bị lính Mỹ phục kích bắn chết; và chính ông và 1 đồng đội ngày hôm sau đi lượm xác về chôn cất lại bị phục kích tiếp, đồng đội hy sinh, ông mất tích. Ông Hợp kể tiếp là hồi đó, từ sau Tết Mậu Thân 1968, vùng đóng quân của ông và em Nguyễn Văn Yên vô cùng khốc liệt, bộ đội ta thiếu ăn vì bố ráp, càn quét liên tục. Lính Mỹ không tin lính Sài Gòn nên kéo quân thêm, thay thế hết các đơn vị tác chiến. Mỹ trực tiếp cho xe ủi phát quang nhiều cánh rừng cao su bạt ngàn khi trước là nơi ẩn nấp của quân ta chờ lực lượng tinh nhuệ từ miền Bắc vào chi viện, củng cố. Đó là một giai đoạn vô cùng khó khăn cho các cánh quân của ta đóng trên địa bàn Tây Bắc mặt trận Sài Gòn - Gia Định.

Mọi việc liên quan đến sự hy sinh của các đồng đội của ông Hợp khi đó đều diễn ra tại xã Thanh An, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương - mà ngày đó gọi là Thủ Dầu Một. Chính người chiến binh già này còn nhớ như in trong lòng, nay vẫn vẽ ra được địa đồ, rành rọt chỉ ra nơi các chiến sĩ Trung đoàn 16 bị phục kích (anh con trai tôi bảo ông Hợp chắc hồi ở bộ đội được học về trinh sát).
Và mới đây năm 2017 trong chuyến "cựu chiến binh về nguồn", ông đã vào tận nơi khi địa phương vừa xây dựng xong Đền thờ, lập bia tưởng niệm.

Tại địa phương và qua những tấm bia tưởng niệm ông mới biết được chi tiết thôn - xã - huyện nguyên quán của em Yên tôi, chứ lâu nay ông chỉ biết Nguyễn Văn Yên quê ở tỉnh Hà Bắc (hồi đó gộp tỉnh, chứ nay chia đôi thành Bắc Ninh và Bắc Giang).

Với một người chỉ biết quê quán ở tỉnh nào đó thì thử hỏi tìm ra sao được người cần tìm?! Cũng qua ông, gia đình tôi mới biết được chi tiết chính xác ngày em Yên tôi hy sinh là 28/9/1969 chứ không phải 5/7/1972 như giấy báo tử.

Sự sai sót này trong giấy tờ, trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt là điều dễ hiểu. Chính vị cựu binh này cũng nằm trong danh sách liệt sĩ ghi trên bia cùng với em tôi, mất sau em tôi 1 ngày, dù ông thì vẫn sống.

Số là sau chuyến đi với nhiệm vụ chôn cất đồng đội thì lại bị địch phục kích như tôi đã viết ở phần trên. Người chiến sĩ đi cùng bị lính Mỹ bắn chết còn ông Hợp bị thương nặng rồi mất tích; và sau đó đơn vị báo lên là ông Hợp đã hy sinh nên nay là liệt sĩ, được ghi ở bia tưởng niệm. Chuyện sai sót, lầm lẫn, thiếu tính chính xác trong một cuộc cuộc chiến tranh rất lâu dài, với nhiều mất mát thì khó mà tránh khỏi.

---

Hôm nay là ngày 30/4/2018, với gia đình tôi, tôi muốn nhắc lại điều này một lần nữa, bởi nó có ý nghĩa thiêng liêng với gia đình chúng tôi. 43 năm đã qua kể từ ngày đất nước có hòa bình, thì với gia đình chúng tôi những ngày trước tháng 4 nhiều sự việc, nhiều sự kiện lịch sử như thế này vẫn canh cánh bên lòng, giấu kín một nỗi đau sau tờ giấy báo tử em tôi, liệt sĩ Nguyễn Văn Yên gửi cho bố mẹ tôi từ một mùa hè giữa năm 1977.

Có thể nói suốt hơn 40 năm dài dằng dặc ấy, ý nghĩa hòa bình và yên hàn cho cuộc sống bình thường vẫn chưa tới với gia đình chúng tôi, nhất là với cha mẹ khi hai Người còn sống. Cứ mỗi khi nhìn lên bàn thờ thấy tấm ảnh Nguyễn Văn Yên mặc quân phục để lại cho gia đình trước thời điểm đi B, là mỗi người thấy thắt lòng, pha chút chua sót, thua thiệt mà ở những người chịu mất mát to lớn mới cảm nhận được. Bà mẹ chúng tôi trước khi nhắm mắt, chỉ nhìn tôi và nói "còn một việc nữa là,... em Yên"; và rồi không nói gì thêm ngoài ánh mắt chỉ như muốn lặng tắt. Tôi tin chắc cả ngàn cả vạn gia đình khác có người ruột thịt ngã xuống chiến trường miền Nam mà chưa tìm ra xương cốt, chưa xác định được địa điểm và hoàn cành hy sinh của liệt sĩ, thì cũng cùng một tâm trạng như chúng tôi mà thôi.

Suốt thời gian sau 1977 đến những năm gần đây, dù các thành viên trong gia đình tôi đã cố công tìm những thông tin về trường hợp ngã xuống trên chiến trường của em Yên tôi, nhưng các ngả đường tìm kiếm đó đều không có kết quả, nói đúng hơn là vô vọng.

Nhiều lần đi thực địa, nhiều lần lên các Sở, Ban trên tỉnh cũ, tỉnh mới, từ khi có mạng internet thì tra cứu thông tin ở các website ghi danh các nghĩa trang và tên liệt sĩ, đăng thông báo nhờ tìm kiếm..., thì vẫn những thông tin loanh quanh đã cũ, những tư liệu không mấy liên quan tới Nguyễn Văn Yên. Giờ nghĩ lại cũng phải, địa phương căn cứ vào tin tức thu thập từ chiến trường để làm giấy báo tử, mà giấy báo tử kia đã sai cả về thời điểm để gửi báo đến địa phương và gia đình (hy sinh theo giấy báo tử là năm 1972 mà năm 1977 mới báo), lại sai cả về năm tháng em Nguyễn Văn Yên hy sinh khi so với người cựu binh già Bế Văn Hợp biết rõ trực tiếp vừa kể lại... thì làm sao mà tìm ra thông tin nơi em Yên tôi ngã xuống cho được.

Đúng là vỏn vẹn trong giấy báo tử chỉ ghi mấy chữ "hy sinh tại chiến trường B2 miền Đông Nam Bộ". Một vùng địa lý rộng lớn như thế, bao nhiêu chiến sĩ đã ngã xuống... Có đi tìm liệt sĩ thì mới thấy xã ấp nào của vùng đất Nam Bộ nói tới kia cũng nghĩa trang nối tiếp nghĩa trang, bia tưởng niệm rồi tiếp bia tưởng niệm. Vùng đất sát mặt trận Tây Bắc Sài Gòn - Gia Định, kế giáp với Campuchia, luôn là cái túi hứng bom đạn, là một chiến trường hết sức ác liệt, bao nhiêu chiến sĩ đã ngã xuống nơi đây, thì biết cách nào mà xác định một con người hy sinh được?

Bản thân tôi cũng nhiều lần đi các xã - huyện của tỉnh Tây Ninh, của vùng ngoại vi Tp HCM, có lúc tới cả đất của chính tỉnh Bình Dương, nhìn thấy bao nhiêu ngôi mộ, bao nhiêu tấm bia, nhưng rồi cũng không có tin tức, tư liệu gì về em mình.

Con trai tôi (năm nay cháu 46 tuổi), công tác tại Tp HCM còn có nhiều chuyến đi hơn tôi với mong muốn sớm tìm ra tin tức, tung tích người chú ruột của mình. Nhưng vô vọng.

Cho nên việc ông Bế Văn Hợp rất bất ngờ, có phần ngẫu nhiên, mang đến tin vui cho gia đình chúng tôi đã làm cho bố con tôi, bà vợ tôi và các em tôi vỡ òa trong niềm vui hạnh phúc khôn cùng.
Sau khi ông Hợp đến thăm nhà ở quê tôi để báo tin, vẽ sơ đồ gửi vào Tp HCM, thì ngay lập tức anh con trai tôi đã đi lên Bình Dương xác định rõ thêm về nơi hy sinh của người chú của cháu. May mắn chồng lên may mắn, một đồng sự cùng công tác với cháu tại cơ quan lại có quê đúng tại Thanh An, Dầu Tiếng đã hăng hái cùng đi với con trai tôi. Tại địa phương các cháu đã ghi lại được những tấm hình mà tôi post lên với stt này, tất cả rất khớp với lời mô tả qua điện thoại của ông lính già Bế Văn Hợp.

Vấn đề đến lúc đó chỉ còn là chuyện có đúng là Nguyễn Văn Yên ở Đồng Quang, Tiên Sơn, Hà Bắc hay không? Vậy là người thân trong gia đình tôi đã ra ngay UBND xã (nay đổi là phường), xin phép tìm trong danh sách liệt sĩ lưu ở địa phương, thì không một liệt sĩ nào trùng tên trùng họ như em Yên cả.

Từ hôm đó là những câu chuyện trên điện thoại hoặc tin nhắn giữa hai bố con tôi, giữa tôi và các em gái, với bà vợ..., thôi thì mừng tủi tủi, chỉ biết đội ơn người ân nhân Cao Bằng, cảm tạ trời phật, tổ tiên đã phù hộ độ trì để nên một kết thúc có hậu như trường hợp gia đình nhà tôi có được hôm nay.
Giả sử mà xem, người lính già 70 tuổi kia sau những năm vất vả Nam Bắc chinh chiến mất đi sức khỏe, trí nhớ?

Giả sử gia đình riêng của ông (nghe ông kể lập gia định muộn) cứ lận đận, không có ngày tháng an nhàn, không đi chuyến "về lại chiến trường xưa" thì lấy đâu ra thông tin quê quán em Yên tôi (mà chỉ chung chung ở Hà Bắc thì thật bó tay). Mà giả sử nữa, nếu ông CCB Hợp về nguồn trước 2016 thì làm sao nhìn thấy tấm bia ghi tên em tôi với quê quán chi tiết. Bởi vì cho đến năm đó thì xã Thanh An mới xây xong Đền thờ và khắc bia đá.

Rồi giả thử nữa, khi ông Hợp từ chiến trường xưa về Bắc lại ốm đau, bệnh tật chợt đến, rồi lại ngại ngùng cách trở đường xá xa xôi (với một người cao tuổi) mà không trực tiếp tìm về tận quê tôi thì sao?...

Giả sử như hôm về quê tôi khi hỏi han ban đầu mà ông nản lòng, hoặc đến ủy ban mà người tiếp chuyện không phải là con rể ông chú tôi, có khi sự việc đã khác (vì chuyện em Yên tôi hy sinh là câu chuyện đã trải qua nửa thế kỷ rồi)...

.... Tóm lại phải là may mắn, rất may mắn; phải là gia đình chúng tôi có hồng phúc trùng lai thì mới bỏ qua đi được những "giả sử" kia. Mà cái thứ giả sử đó nó lại rất có thể xảy đến bất kỳ. May mắn thật.

Các em gái tôi, vợ con tôi rồi sẽ thu xếp lên Việt Bắc thăm nhà và cám ơn ông CCB già Bế Văn Hợp. Còn tôi chờ khi có mặt trở lại VN, tôi cũng phải sớm lên tạ ơn ông Hợp, người đồng đội sống và chiến đấu bên em Yên, biết rõ giờ phút nơi chốn Nguyễn Văn Yên hy sinh.

Rồi việc nữa là tôi sẽ đến nơi em ngã xuống, lấy nắm đất tại đó mang về quê hương, phần sẽ chôn cất tại ngôi mộ trong nghĩa trang liệt sĩ địa phương, phần sẽ chôn ở góc tấm bia đá ngay trong sân vườn lối cổng vào nhà tôi ở quê - tức là thay vào hai nắm đất hơn 10 năm trước bố con tôi đi tìm, lòng thành lấy ở địa phận tỉnh Tây Ninh. Khi mang nắm đất về đã xin phép địa phương chôn cất tại nghĩa trang, và cũng chôn cất ở sân vườn nhà.

Như có linh tính, nơi lấy nắm đất hơn chục năm trước nếu tính đường chim bay thì không xa nơi Nguyễn Văn Yên hy sinh là bao nhiêu, chỉ bên này bên kia khúc sông Sài Gòn chảy phân chia 2 tỉnh Bình Dương và Tây Ninh.

Câu chuyện lấy nắm đất hơn 10 năm trước có nhiều tình tiết về tâm linh đáng nhớ, đợi có dịp tôi sẽ kể lại...

Và sau hết, đợi khi tôi có nhà tại quê (do tôi là trưởng nam nên các em có ý chờ), trong một lần cúng giỗ cho em Nguyễn Văn Yên, anh em chúng tôi sẽ thắp thêm nén hương xin được cải lại ngày giỗ cho chính xác thời điểm em tôi hy sinh. Thay vì vẫn giỗ ngày 25/5 âm lịch (báo tử ngày 5/7/1972) thì nay giỗ vào ngày 17/8 âm lịch (ngày hy sinh chính xác 28/9/1969).

Con người Việt Nam mình là thế, nghĩa tử là nghĩa tận. Ở đây hai chữ "nghĩa tử" lại là sự hy sinh của một chiến sĩ, là liệt sĩ ngã xuống nơi chiến trường, điều ấy càng làm những người thân thấm thía ý nghĩa sâu xa.

Người đời chẳng thường bảo rằng, chỉ khi làm được những gì tốt đẹp nhất cho người đã khuất thì trong lòng người đang sống mới an nhiên được.

London, UK
30/4/2018


@ Ảnh Liệt sĩ Nguyễn Văn Yên. Các ảnh còn lại do con trai tôi chụp tại Đền thờ xã Thanh An, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương hồi giữa tháng 4/2018 vừa qua. -->> Bia ghi tên liệt sĩ Nguyễn Văn Yên (ảnh thứ 2, hàng thứ 4 từ dưới lên); Bia ghi tên liệt sĩ Bế Văn Hợp (ảnh 5, hàng đầu tiên; nhưng ông Hợp may mắn vãn còn sống); ảnh 4 là Sơ đồ CCB Bế Văn Hợp vẽ địa điểm hy sinh của liệt sĩ Nguyễn Văn Yên. Ảnh 3 là ngôi nhà chính của Đền thờ xã Thanh An.











Chủ Nhật, 29 tháng 4, 2018

Ngày Hòa bình


 Ngày Hòa bình


Đúng ngày này 5 năm trước mình có ý gọi là ngày Hòa bình (hay là ngày Thống nhất non sông cũng được). Hôm nay, trước khi bước sang ngày lễ 30/4, mình vẫn tiếp tục "bỏ phiếu" cho ý tưởng này. Đây cũng là một trong những gợi ý mang tính xây dựng cho con đường thực sự hòa hợp của dân tộc ta.

Stt viết đúng 5 năm trước: Mai, ngày 30/4, mình “bỏ phiếu” gọi tên là Ngày Hòa Bình. Thua-Thắng làm gì nữa cho mệt, hòa bình rồi gắng khỏe lên mà giữ lấy mãi mãi, không ớn ngại dù đó là thế lực xâm lăng nào! Đất nước hùng mạnh lên thì đố bảo cái đứa thế lực thù địch nào nho nhe, nha...Vậy thôi.

Nhà mình mua mấy nhánh hồng. Cùng mấy đóa "địa lan" nhà trồng lấy vừa kịp nở, làm Hoa “Mừng Hòa Bình” cho 30/4.

Vệ Nhi/Nguyễn Vĩnh

 

Thứ Bảy, 21 tháng 4, 2018

Một góc nhìn về cuộc nội chiến Syria


 Một góc nhìn về cuộc nội chiến Syria

Chuyện liên can và cả ân oán nữa của Mỹ với khu vực Trung Đông vốn dĩ từ lâu, trải qua hơn tới 70 năm nay. Vùng này là dầu lửaMỹ nên tại đây Mỹ có những nước sát cánh với họ (về quyền lợi), thậm chí Mỹ coi họ là đồng minh, mang hết sức mạnh của Mỹ trợ giúp, ủng hộ họ bằng mọi giá.

Tuy nhiên có nhiều nước khác trong khu vực lại không ưa Mỹ, không theo Mỹ. Nên Mỹ chống lại họ và sử dụng tất cả vũ lực để đe dọa tới mang bom dạn, xua quân đội tràn vào lãnh thổ chủa những quốc gia này.   

Cắt nghĩa được những điều trên không phải dễ dàng. Mỹ có tư tưởng nước lớn, áp đặt ý chí chính trị lên phần đất nhiều đau thương chinh chiến này là cách ứng xử khó chấp nhận. Nhưng việc một số nước có chế độ độc tài, quân phiệt, toàn trị, lợi dụng sự khác biệt về tôn giáo và chủng tộc để triệt phá nhau cũng là một thực té lịch sử. và thực tế này khiến an ninh khu vực ảnh hưởng. Và đó chính là cái cớ tốt để Mỹ và các nước phương Tây can thiệp vào tình hình tại khu vực giàu có vàng đên này (dầu lửa).

Vụ Mỹ và các đồng minh Nato bắn tên lửa hành trình vào Syria 1 năm trước, mới đây lại tái diễn đã thu hút sự quan tâm của dư luận toàn thế giới. Mâu thuẫn giữa Nga (và cả Trung Quốc) trong cuộc tranh chấp ảnh hưởng với Mỹ và phương Tây tại vùng Trung Đông này càng ngày càng thêm sâu sắc và có thể châm ngòi cho một chiến tranh khó kiểm soát.

Xin mời bạn đọc tham khảo bài viết trên đây để thấy tình hình và cuộc chiến ở vùng đất này - ở bài này chỉ nói về Syria – có tính chất phức tạp như thế nào…

Vệ Nhi g-th

------   


Từ mưa tên lửa Tomahawk nhìn lại Nội chiến Syria

Tác giả ký tên là Sơ Nguyên

Posted on 17/04/2018 by The Observer
 



Hàng trăm loại vũ khí mới được Nga và phương Tây thử nghiệm trong cuộc chiến Syria. Dù chúng “thông minh”, “đẹp đẽ”, “mới mẻ” đến đâu cũng đều nhằm một mục đích: hủy diệt.

Thế kỷ 16, khi thực dân Châu Âu đặt chân đến Bắc Mỹ, họ rất ngạc nhiên khi thấy thổ dân da đỏ nơi đây sử dụng loại rìu đặc biệt tiện dụng mang tên Tomahawk. Chiếc rìu gọn nhẹ, vừa có thể làm dụng cụ dắt lưng, vừa có thể làm vũ khí sát thương cao bằng cách ném trực tiếp vào đối phương từ xa. Các đế quốc Châu Âu nhanh chóng học cách sử dụng loại rìu này để xây dựng thuộc địa và dần tiêu diệt các tộc người thổ dân da đỏ bản xứ.

Năm thế kỷ tiếp sau, nước Mỹ ra đời, vươn lên thành cường quốc số một thế giới, với niềm tự hào về công nghệ quân sự không ai bì kịp. Tomahawk được sử dụng để đặt tên cho loại tên lửa hành trình tầm xa vô cùng tinh vi. Giống chiếc rìu của người da đỏ, tên lửa Tomahawk có thể được lắp đặt ở bất cứ đâu, dù là trên bộ, trên tàu chiến hay từ tàu ngầm.

 “Đẹp đẽ, mới mẻ và thông minh”

Khi khai hỏa, tên lửa Tomahawk phóng đi với tốc độ và độ chính xác cao, rất khó bị phát hiện và đánh chặn. Kể từ cuộc chiến tranh vùng Vịnh 1991 đến nay, tên lửa Tomahawk liên tục được cải tiến và đã được sử dụng hơn 17 lần với khoảng 2.200 quả. Nó trở thành biểu tượng của nỗi khiếp sợ sức mạnh Mỹ tại khu vực Trung Đông.

Cái tên Tomahawk được nhắc lại vào tháng 4 này, khi cuộc nội chiến đẫm máu kéo dài 7 năm tại Syria tưởng chừng đang vào hồi kết. Một cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học tại thành phố Douma của quân nổi dậy đã khiến 70 người chết và hơn 500 người bị thương. Tổng thống Mỹ Donald Trump nhanh chóng đổ lỗi cho chính quyền Syria và tuyên bố sẽ oanh tạc Syria bằng những quả tên lửa “đẹp đẽ, mới mẻ và thông minh”.

Phía Nga đã đe dọa sẽ đánh chặn bất cứ tên lửa nào, và sẽ đáp trả vào nơi khai hỏa chúng. Hai cường quốc hạt nhân khác là Anh và Pháp sau đó đã nhanh chóng đứng về phía Mỹ.

Sáng sớm 14/4, liên minh Mỹ-Anh-Pháp oach kích thủ đô Damacus với trận “mưa sao băng” hơn 100 quả tên lửa, bất chấp cảnh báo của Nga. Chỉ trong vòng vài ngày, khu vực Trung Đông tưởng chừng như tạm bình ổn nay lại rầm vang khói lửa. Cả thế giới rúng động trước nguy cơ một cuộc chiến tranh thế giới thứ 3  – chiến tranh giữa các vì sao với tên lửa và hạt nhân.

Không chiến tranh giữa các vì sao

Tuy nhiên, những ai lo lắng thì hãy yên tâm. Bất chấp những tuyên bố của Mỹ và Nga tạo ra cảm giác cận kề miệng hố chiến tranh, các bên đều đã đạt được điều mình mong muốn và chẳng có lý do gì để đẩy khủng hoảng đi quá xa.




Với Mỹ, mối quan tâm truyền thống của họ ở Trung Đông là dầu mỏ. Nhưng dường như người ta quên mất một điều: kể từ khi đạt được đột phá với kỹ thuật khoan đá phiến và năng lượng tái tạo, những năm gần đây nước Mỹ không còn phụ thuộc vào các nguồn cung dầu thô từ Trung Đông. Từ vị trí tự chủ về năng lượng, hiện nay khả năng sản xuất của Mỹ thậm chí ở mức có thể tác động lên giá dầu thế giới, điều mà trước đây chỉ có OPEC và phần nào đó là Nga làm được.

Điều quan tâm thứ hai của Mỹ tại khu vực này trong hơn một thập kỷ qua là chống khủng bố. Từ sau 11/9 đến nay, Bush và Obama đã tiến những bước dài, từ việc đảm bảo an ninh nội địa, tiêu diệt Bin Laden, cho đến sự sụp đổ của nhà nước Hồi giáo IS (mà phần lớn nhờ công của nước Nga).

Mối lo về hạt nhân cũng đã thuyên giảm đáng kể khi Iran và phương Tây đạt được thỏa thuận JCPOA nhờ nỗ lực của cựu ngoại trưởng John Kerry cuối thời Obama. Mặc dù Tổng thống Trump từng đe dọa sẽ rút khỏi thỏa thuận này, nhưng không thể phủ nhận JCPOA đã góp phần giải quyết mối lo cuối cùng về an ninh của Mỹ tại khu vực.

Công việc của Mỹ hiện nay tại Trung Đông chỉ còn là đảm bảo “cân bằng từ xa” thông qua các hệ thống đồng minh là Israel và Arab Saudi, thay vì can dự trực tiếp như trước. Thay vào đó, họ đang trong quá trình chuyển đổi trọng tâm chiến lược sang Châu Á, nhằm kiềm chế sự vươn lên của Trung Quốc.

Mưa tên lửa và những tính toán đối nội

Sự chuyển dịch này đã có từ năm 2010 với “Tái cân bằng sang Châu Á” của chính quyền Obama, nhưng khi đó họ không rảnh tay được vì chuỗi những sự kiện xảy ra ở Trung Đông và Châu Âu. Tổng thống đương nhiệm Donald Trump hiện nay cũng có những lý do ngắn hạn khác trong bàn cờ Trung Đông, nhưng sẽ không thay đổi sự chuyển dịch chiến lược này.

Sự kiện tấn công hóa học ở Syria diễn ra trong bối cảnh ông Trump đang cần một thành tích đối ngoại để phục vụ đối nội đang rối ren. Cuộc bầu cử giữa kỳ tháng 11 đang tới gần và ông vừa mới phải sa thải Bộ trưởng Ngoại giao và Cố vấn An ninh Quốc gia. Việc lên tiếng đe dọa Nga sẽ làm lu mờ đi những chỉ trích rằng ông Trump thắng cử nhờ tình báo của Nga.

Đồng thời, quyết định oanh tạc Syria đúng vào thời điểm nổ ra scandal gian díu với cựu ngôi sao khiêu dâm khiến người ta so sánh với việc Tổng thống Clinton bắn tên lửa vào Afgranistan và Sudan năm 1998 khi sắp bị luận tội sau vụ “léng phéng” với cô thực tập sinh Monica Lewinsky.

Về đối ngoại, ông Trump cũng muốn thể hiện tâm thế khác so với người tiền nhiệm. Tổng thống Obama đã bị chỉ trích rất nhiều khi tuyên bố tấn công hóa học sẽ là “ranh giới đỏ” tại Syria nhưng sau đó không làm gì. Trước đó vào tháng 4/2017, chỉ 3 tháng sau khi nhậm chức tổng thống, ông Trump đã bắn 59 quả tên lửa vào Syria ngay trong bữa tối khi tiếp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
Rộng hơn nữa là câu chuyện “trong nhà” của phương Tây. Chính quyền Anh quốc của nữ Thủ tướng Theresa May đang vật vã trong rạn nứt Brexit với EU và chịu nhiều chỉ trích sau vụ điệp viên hai mang người Nga bị ám sát. Tại nước Pháp, vị Tổng thống trẻ Emmanuel Macron đang chứng kiến mức tín nhiệm của mình đi xuống thảm hại trước đó đã tuyên bố với ông Putin rằng tấn công hóa học tại Syria sẽ là giới hạn đỏ. Và khi mà quan hệ giữa Mỹ với Châu Âu nói chung đang ngày một lạnh nhạt, thì cuộc oanh kích thực hiện bởi Mỹ – Anh – Pháp sẽ tạo ra hiệu ứng củng cố đoàn kết của phương Tây tại Châu Âu. Đồng thời phương Tây cũng muốn gỡ gạc lại phần nào đó khi họ đã để nước Nga gần như kiểm soát toàn bộ ảnh hưởng trong vấn đề Syria.

Mũi tên với 100 quả tên lửa bắn ra trúng quá nhiều đích. Cơ hội tốt, với chi phí thấp, chẳng tội gì không làm. Vẫn còn đó câu nói “đừng bao giờ bỏ phí một cuộc khủng hoảng”. (never let a good crisis go to waste)



Về phía Nga, Tổng thống Putin hiểu rằng kết cục của Syria hiện đã an bài. Nhà nước Hồi giáo IS sụp đổ, quân nổi dậy chỉ còn thành trì cuối, lực lượng người Kurd quá yếu. Thắng lợi hoàn toàn của chính quyền Syria của Tổng thống Assad mà Nga hậu thuẫn chỉ còn là vấn đề thời gian.

Chắc chắn phương Tây sẽ không cử quân đến Syria, mà các cuộc oanh kích sẽ là giới hạn của họ. Về lâu dài, ông hiểu rằng rồi quan hệ Nga với phương Tây sẽ phải hòa dịu, nước Nga cần phương Tây gỡ bỏ cấm vận, và phương Tây cũng cần Nga để đảm bảo ổn định ở Trung Đông, mặc dù chẳng bên nào ưa bên nào. Vì thế, mặc dù tuyên bố sẽ phản ứng mạnh, nhưng ông Putin không cần thiết phải đáp trả thực sự về mặt quân sự với phương Tây.

Thực tế là sau đó, các đường dây nóng giữa phương Tây và Nga đã được kích hoạt. Ngày 15/4, ông Trump tuyên bố trên Twitter là nhiệm vụ oanh kích đã hoàn thành “không thể tốt đẹp hơn”.

Nước nhỏ, thế yếu giữa những mâu thuẫn chính trị âm ỉ

Tuy nhiên, liệu rằng Trung Đông có bình ổn hay không thì đó lại là một câu hỏi khó trả lời khác. Bàn cờ khu vực này không chỉ bị chi phối bởi những người khổng lồ Nga, Mỹ và Châu Âu, mà còn những người chơi đáng gờm khác, tiêu biểu là Iran, Arab Saudi, Thổ Nhĩ Kỳ và Israel. Mối thâm thù ngàn đời giữa Iran và Arab Saudi, sự cọ xát mang tính lịch sử giữa người Do Thái Israel và thế giới Hồi giáo, hay niềm mong muốn trở lại đế chế Ottoman của Thổ Nhĩ Kỹ – là những nhân tố cho thấy cạnh tranh quyền lực ở khu vực này sẽ khó chấm dứt. Những quốc gia này mong muốn giữ chân Mỹ và Nga tại khu vực để làm đồng minh bảo trợ cho mình.

Những kẻ tin vào thuyết âm mưu thậm chí đặt dấu hỏi liệu chính quyền Assad có thực sự gây ra vụ tấn công hóa học cách đây mấy hôm, hay đó là sự ngụy tạo. Bởi lẽ khi chiến thắng chỉ còn là vấn đề thời gian, chẳng có lý do gì họ phải gây ra vụ tấn công hóa học để giết dân, tạo cớ “vi phạm ranh giới đỏ” cho bên ngoài can thiệp vào. Trong lịch sử, cũng không thiếu những trường hợp một quốc gia ngoại bang tạo ra sự kiện để lấy cớ gây chiến, gặp gián tiếp buộc kẻ khác gây chiến.

Trong khi bốn cái tên vừa nêu lại là những quốc gia có tiềm lực quân sự, kinh tế và vị thế độc lập, không chịu nhiều ảnh hưởng từ Nga – Mỹ, Syria là một quốc gia nhỏ bé, với một chính quyền thất bại (failed state). Đất nước Syria không thể tự quyết định số phận của mình, mà phải chịu sự định đoạt từ những người khổng lồ thế giới và những kẻ láng giềng đầy toan tính.

Nồi da nấu thịt và máu dân thường

Có lẽ ông Assad cũng chẳng mong muốn nước mình trở thành nơi nồi da nấu thịt cho cạnh tranh của ngoại bang. Nhưng đó lại là bi kịch của kẻ độc tài phải nắm giữ quyền lực của mình bằng mọi giá. Ông Assad sẽ nhìn vào ví dụ Saddam Hussein ở Iraq hay Qaddafi ở Lybia, đều gặp kết cục bi thảm khi không có được sự hậu thẫm của một cường quốc và không được nhân dân ủng hộ.

Với người dân Syria, chưa điều gì có thể khẳng định là sự đau khổ của họ sẽ chấm dứt. Mùa Xuân Ả Rập năm 2010 từng mang lại cho họ hi vọng thoát ra khỏi chế độ Assad, vươn tới ước mơ tự do dân chủ. Nhưng thay vào đó là triền miên 7 năm nội chiến, với sự tàn độc của ISIS và sự tang thương của bom đạn. Hàng trăm cuộc thảm sát, hàng chục cuộc tấn công hóa học tại Syria đã được ghi nhận, với số thương vong lên đến gần nửa triệu người. Số lượng người dân di cư khỏi đất nước ước tính khoảng 6 triệu, tức là 1/3 dân tộc Syria.

Sự thống khổ của người dân Syria được cộng đồng quốc tế biết đến, nhưng dường như không một ai lên tiếng hành động, mà chỉ có những tên lửa xé toạc bầu trời. Đứng trước làn sóng tị nạn và hình ảnh thi thể cậu bé Alan Kurdi trôi dạt vào bờ biển Địa Trung Hải, Châu Âu đã mở cánh cửa đón những người dân Syria. Thế nhưng sau đó cánh cửa cũng dần đóng lại khi các nước Châu Âu không thể thống nhất được với nhau về việc phân bổ trách nhiệm thu nhận, và những khó khăn nội tại về kinh tế – xã hội, về phong trào dân túy.

Câu chuyện Syria có lẽ là sự thất vọng lớn nhất đối với vai trò của Liên Hợp Quốc và Luật pháp quốc tế. Cách đây hơn hai thập kỷ, vào năm 1994, sau sự kiện thảm sát ở Rwanda, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan đã vận động LHQ và cộng đồng quốc tế thống nhất một chuẩn tắc về bảo vệ loài người.

“Trách nhiệm bảo vệ” (Responsibility to Protect – R2P) ghi nhận rằng bảo vệ người dân là trách nhiệm của nhân loại, cao hơn chủ quyền của quốc gia. Và sau đó là lời thề nổi tiếng “Never again” – sẽ không bao giờ trên thế giới có thảm sát hàng loạt nữa. Khi đó người ta đã hi vọng vào một hệ thống quản trị toàn cầu, vào hòa bình thế giới bền vững, và vào niềm tin đạo đức loài người.

Sự trở lại của cường quyền?

Tuy nhiên, sau đó những gì xảy ra ở Lybia và Syria sau sự kiện Mùa Xuân Arab, người ta chỉ thấy Liên Hợp Quốc họp đi họp lại, bàn tới bàn lui mà không đưa ra được biện pháp gì. Có lẽ sự nghi ngờ đã quá ăn sâu trong tâm trí của nhóm P5 các nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc, khi nước Mỹ vi phạm lời hứa với Nga lật đổ chính quyền Lybia.

Đến trận oanh kích của Mỹ – Pháp – Anh vào tháng 4 này, họ cũng chẳng thiết đem vấn đề ra Liên Hợp Quốc, chẳng thiết nhắc đến “trách nhiệm bảo vệ”, chẳng thiết vận động sự ủng hộ của Nga và cộng đồng quốc tế. Cần nhớ rằng: luật pháp quốc tế không cho phép một nước đơn phương tấn công dù bất kỳ vì lý do gì, nếu như không được sự phê chuẩn của Liên Hợp Quốc. Khi một thế giới mà luật pháp quốc tế và chuẩn mực bị bỏ rơi, sẽ chỉ còn cường quyền áp đặt. Một quốc gia không thể tự bảo vệ mình đã trở thành địa bàn cạnh tranh quyền lực và là nơi thử lửa của các cường quốc xung quanh.
7 năm đã trôi qua và cuộc chiến ở Syria vẫn chưa thực sự đến hồi kết. 7 năm cũng là quãng thời gian mà một đứa trẻ có thể được ra đời, bước vào học lớp 1. Sẽ phải rất lâu sau nữa, đất nước Syria mới có thể hồi phục lại từ kiếp nạn này. Dù hòa bình có lập lại thì đất nước cũng chỉ còn là tro tàn, với những mỏ dầu nhưng lại luôn là thứ thu hút chiến tranh.

Hàng trăm loại vũ khí mới đã được Nga và phương Tây thử nghiệm trong cuộc chiến Syria. Dù chúng có “thông minh”, “đẹp đẽ”, “mới mẻ” đến đâu thì cũng đều nhằm vào mục đích: sự hủy diệt. Dưới đáy của bậc thang quyền lực, những người dân Syria đang tiếp tục sống dưới làn bom đạn ngoại bang và chính những người đồng hương của mình. Và tiếng than của họ chẳng ai nghe đến.

Những người nghiên cứu chính trị quốc tế và lịch sử vẫn hay nhắc đến cuộc đối thoại ở Melos, Hy Lạp. Vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, Melos là hòn đảo nhỏ muốn giữ trung lập trước cuộc cạnh tranh quyền lực giữa hai cường quốc là Athens và Sparta. Khi người Athens đem quân đến chinh phạt và ép phải liên minh, người Melos đã nói về chuẩn mực, đạo đức, và công lý với hy vọng được hòa bình.

Người Athens đáp trả rằng: “Kẻ mạnh làm bất cứ những gì mình có thể, còn kẻ yếu phải chấp nhận những gì họ phải chấp nhận”.

Câu nói đó đã trở thành ví dụ kinh điển cho chủ nghĩa hiện thực trong chính trị quốc tế.

S.N.