Loading...

Thứ Bảy, ngày 19 tháng 4 năm 2014

Chuyện xưa ngẫm nay



Chuyện xưa ngẫm nay

Chủ blog tôi nhận được qua hộp thư một câu chuyện hay hay. Chuyện người xưa nhưng người đời nay vẫn nên đọc và suy ngẫm…

Ở đây điều gì còn đúng mình ghi nhận, áp dụng, khéo cư xử điều tiết trong cuộc sống. Điều gì không đúng, lạc hậu lạc điệu rồi, thì cũng biết là thế, hoặc bỏ qua…

Vệ Nhi

-----

Tiền bạc & Đàn bà không gửi cho ai được!



Khuyết danh

Vương Thành, người ở Bình Nguyên, là con nhà thế gia vọng tộc, lại hay chơi bời lêu lổng, chẳng thiết làm ăn, khiến Vương Ông âu sầu trong dạ, mà than rằng:


- Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Nay sự giàu có của nhà ta đến nay đã được ba đời, mà đời nào cũng một nắng hai sương, sớm chiều vất vả, mới tạo được cơ ngơi như vầy, hầu nở mặt nở mày với bà con lối xóm. Nay con ta lại ra ngoài ước lệ. Chỉ khoái vui chơi, thì e... lông cánh kia chẳng giống chút nào hết cả!


 



Đoạn, bước đến bàn thờ thắp vội nén hương thơm, mà tỏ bày tâm sự:
- Bà sống khôn thác thiêng thì chỉ vẻ cho con biết tiền là gan ruột. Có thể đổi trắng thành đen, biến thương thành ghét. Đổi cái lung tung trở thành hiền ngoan cái một. Vậy con phải dốc hết sức lực tâm trí mà kiếm mớ kim ngân. Chớ không thể cứ vui chơi mà xài hoài mãi được! Chừng đến lúc tiền kia bay hết - mới hiểu chút thâm tình có đặng hay không - thì e nước dâng cao làm sao mà nhảy được?
Nói xong, mới cho người gọi Vương Thành đến, mà bảo rằng:
- Khi lành không gặp khách, khi rách gặp lắm người quen, thì phải để ý lắm mới ra người quân tử!
Vương Thành như trên trời rớt xuống. Chẳng hiểu mô tê, nên nghệch mặt ra mà hỏi tràn:
- Cha nói vậy nghĩa là làm sao?
Vương Ông trầm tĩnh đáp:
- Đồng tiền là máu huyết. Lời hứa là khí trời. Khí trời chơi xả láng thì được, nhưng máu huyết thì không thể xả... hoài hoài như thế!
Vương Thành lặng người đi một chút, rồi thận trọng thưa:
- Tiền bạc có mang lại niềm vui, thì đồng tiền đó mới giá trị. Nay có tiền mà không xài, thì so với kẻ khố rách áo ôm chắc chẳng khác gì hết cả!
Vương Ông mặt mày tái mét. Hơi thở dồn dập. Tưởng như sắp đến hồi nhắm mắt ra đi. Vương Ông tức tối nói:
- Tiền bạc cũng như đàn bà. Nếu không giữ gìn săn sóc nó, thì nó sẽ săn sóc cho người khác. Có biết vậy hay chăng?
Ngày nọ, Vương Ông chẳng may lâm bệnh mà qua đời. Vương Thành vội vàng lo tang lễ, vén trước gọt sau, nên tuy cấp bách vẫn lễ nghi toàn vẹn. Vợ của Thành là Hàn thị, thấy chồng tất tả ngược xuôi, nên sợ sóng trước đi đâu sóng sau nhào theo đó, bèn nhân lúc Thành đang vui cùng chút rượu, mới đến bên mà nhỏ nhẹ nói rằng:
- Hơn một ngày chẳng ở, kém một ngày chẳng đi, thì rõ ra con người ôm... số phận. Nay cha có thác đi, thì cũng là tuân theo luật lệ nhà Trời. Chớ nào đáng chuyện chi, mà chàng lại bỏ ăn chỉ uống mình ên vậy. Há chẳng... điên ư?
Vương Thành nghẹn ngào đáp:
- Ngày nào cha con kề cận, sớm tối nghe... than, hốt nhiên trở thành quen thuộc. Nay bỗng dưng tan đàn xẻ nghé. Cách trở đôi nơi, khiến chốn tâm can xót xa vì đứt đoạn. Ta nghĩ. Người dưng chết còn thấy lòng tiếc nhớ. Huống chi cha. Không tiếc không thương mần răng được?
Nói rồi, dzô liền một ngụm, như muốn mượn chút men đẩy đi lòng nuối tiếc. Hàn thị thấy vậy, mới nắm lấy đôi vai, tha thiết nói:
- Xa mặt cách lòng. Người đi hẳn sẽ đi luôn, và kẻ ở rồi cũng sẽ quên người cũ, thì chàng buồn bã làm chi? Cho thêm phần héo úa?
Từ đó, Vương Thành lại càng vui chơi hơn trước. Lúc kéo máy, khi ả đào, nên chẳng mấy chốc lâm vào cảnh sa sút. Nhà cửa trống trơn, khiến Hàn thị nước mắt như mưa mà bảo thầm trong dạ:
- Vợ là một đóa hoa quý. Nếu không che chở nắng mưa thì sắc tươi cũng phải héo. Sắc thắm cũng phải phai. Sắc hương cũng theo đó mà đi về cõi khác - thì nghĩa vợ chồng - Biết có còn nồng thắm được không đây?
Gần nhà Vương Thành, có một khu vườn của nhà họ Chu, tường vách đổ hết, chỉ còn một mái nhà. Gặp lúc trời mùa Hè oi ả, nên người trong làng thường đến ngủ nhờ ở đó. Thành cũng đến đấy nằm ngủ. Sáng ra, mọi người dậy hết, mãi đến lúc mặt trời lên đến ngọn tre, Thành mới choàng dậy. Thong thả toan về, bỗng thấy một chiếc xuyến vàng rơi trong đám cỏ, hớn hở nhặt lên, thì thấy khắc hàng chữ nhỏ: Nghi tân phủ tạo, bèn rúng động tâm can mà nghĩ này nghĩ nọ:
- Ông nội của ta là rể của các Thân vương, nên các vật cũ trong nhà đều khắc mấy chữ đó. Ta đã... bán đi. Sao lại có thể rơi rớt ở đây dễ dàng như thế được?
Rồi trong lúc đương lấy làm lạ, trù trừ chưa quyết, thì thấy một bà lão mặt mày hơ hãi, đang dáo dác kiếm tìm. Vương động lòng bảo bụng:






 

- Phải chi lúc nhặt được xuyến, ta vội vã chạy về, thì tránh được áy náy lương tâm đang ào lên kêu réo! Còn bây giờ thấy người đang hơ hãi. Cuống quýt kiếm tìm - mà ta lại im ru - thì còn đứng trong trời đất làm sao đặng?
Nghĩ vậy, toan bước lại hỏi thăm. Chợt nghe chốn tâm can vang vang lời phân giải:
- Ai hỏi mà trả. Ai khảo mà xưng. Hà cớ chi lại lắm điều lắm chuyện? Vả lại, bà lão mặt mày hơ hãi. Hổng chừng đang kiếm... nợ duyên, thì ta không thể cứ ngơ ngơ mà bỏ mất hoạch tài đang trước mắt!
Đoạn, quay lưng định bước đi, thì nghe tiếng hỏi rằng:
- Già đánh rơi chiếc xuyến. Cậu có thể vì già mà kiếm giúp được chăng?
Vương Thành xoay chuyển ý nghĩ thật nhanh, rồi nhủ thầm trong dạ:
- Mình biết người ta mất, mà không trả, thì so với bọn đá cá lăn dưa, nào có khác gì? Mình biết người ta già yếu mà làm điều xằng bậy, rồi lỡ một mai người ta đoàn tụ với... tổ tiên, thì cái gian đó bao giờ mới trả đặng? Mình học Đạo Thánh Hiền mà không áp dụng, thì so với kẻ không biết, nào có hơn chi? Đó là chưa nói đồng tiền không lương thiện - sẽ làm mình mất... mẹ cái nhân chi sơ - thì còn mong ước dạy dỗ con thơ làm chi nữa?
Đoạn, vội lấy chiếc xuyến đưa cho bà cụ. Bà rạng rỡ môi cười, sung sướng nói:
- Nghèo vì bạn, khốn nạn vì... đồng hương! Câu nói đó hổng phải bao giờ cũng đúng!
Rồi không đợi Vương Thành nói gì, bà ào ào phang tiếp:
- Xuyến này chẳng đáng bao nhiêu, nhưng là kỷ vật ngày xưa của chồng ta để lại.
Thành kinh ngạc hỏi:
- Đó là của ông tôi. Sao lại có sự trùng hợp lạ lùng như thế?
Bà lão ngạc nhiên đáp:
- Mày là cháu của Vương Giản Chi à? Ta cùng ông mày khắng khít bao năm, đến khi ông mày mất, ta bèn đi ở ẩn. Nay qua ngang đây, bỗng rơi xuyến lại vào tay mày. Chẳng phải số trời đã định hay sao?
Vương cũng nghe ông mình nhiều vợ, nhưng chưa có trường hợp lạ kỳ như vầy, bèn thắc mắc hỏi:
- Ông chết. Bà chẳng ở nhà lo giỗ chạp nhớ ông, mà lại đành lòng đi ở ẩn, là cớ làm sao?
Bà lão đỏ mặt đáp:
- Chỉ có mình mới hiểu được mình, ngoài ra chẳng có ai hiểu thấu như mình hết cả. Tao biết mình thuộc hàng đa cảm. Gặp mưa cũng thấy lòng thổn thức. Gặp nắng cũng thấy lòng nhộn nhạo xôn xao. Gặp trăng soi cũng mơ ước lung tung khó lòng yên nghỉ được. Còn gặp người, mà là hạng anh hùng hảo hán, thì chỉ muốn... tới luôn. Chớ không thể nhắm mắt chờ trâu tìm cột được! Tao lại nghĩ. Lao xao cho lắm cũng qua một kiếp người. Chi bằng làm hiền phụ, mà muốn làm hiền phụ thì phải tìm nơi ít người lui tới - mới giữ được... giá trong - Chứ cứ phê phê mần răng mà giữ được?
Vương Thành ngạc nhiên, hỏi:
- Đụng đậy hay không là do ở lòng mình. Hà cớ chi lại ở ẩn cho ngày xuân hư mất?
Bà lão mĩm cười đáp:
- Phòng bệnh hơn chữa bệnh. Ngươi còn nhỏ tuổi, lại có vợ gần bên - nên chưa hiểu hết sự đơn côi của phòng không chiếc bóng - thì sao có thể thấu đặng hấp lực của nó thế nào? Mà nói nọ nói kia. Chẳng khiến cho hồn ta tăng thêm phần tiếc nhớ!
Vương Thành mở to mắt ra vì cảm phục. Chưa biết nói sao. Chợt nghe bà lão rộn ràng nói tiếp:
- Từ ngày ông mày cỡi hạc bay đi. Cứ mỗi ngày trôi qua là một lần tao làm... giỗ. Tao nghĩ. Giỗ chạp chỉ là hình thức bên ngoài - trong khi chân tình lại nằm gọn bên trong - thì cần chi phải tổ chức rùm beng mới ra điều lễ nghĩa?
Vương nghe tới đâu mát lòng theo tới đó, liền hớn hở mời bà cụ về nhà. Lúc đến nơi, Vương gọi vợ ra chào. Bà cụ thấy vợ Vương mặc áo rách. Đầu tóc rối bù. Sắc mặt thiểu não, bèn động mối từ tâm, mà than rằng: "Ôi! Con cháu Vương Giản Chi mà nghèo thế này ư?"
Lại nhìn thấy bếp núc lạnh ngắt. Giở liền chum gạo, thì thấy vài củ sắn thâm đen nằm chơi trong đó. Ngó ra sân sau, chỉ thấy cỏ cây tiêu điêu xơ xác, bèn buột miệng nói rằng:
- Cửa nhà như thế này, lấy gì mà sống?
Vợ Vương được dịp kể lễ cảnh nghèo nàn, nức nở khóc than qua hai hàng nước mắt:
- Đã là phụ nữ với nhau, ắt bà cũng thấu hiểu, là thân con gái, thì lấy chồng để nhờ chồng. Chớ làm gì có chuyện trái ngược. Lấy chồng để chồng... nhờ mà sống đặng hay sao?
Bà lão nghe vậy, bèn đưa chiếc xuyến bảo bán đi mà lấy tiền đong gạo, rồi cẩn thận dặn rằng:
- Sông có khúc, người có lúc. Lẽ nào lại tối mãi hay sao? Ba ngày nữa ta lại ghé thăm, để xem sự thể ra sao rồi sẽ liệu.
Đoạn, cất bước ra đi. Vương đưa ra tận ngõ mà nghe lòng lưu luyến. Lúc trở vào, đang bần thần rã rượi. Chợt nghe vợ lớn tiếng, hỏi:
- Vợ chồng. Muốn sống với nhau đặng lâu dài phải lấy sự thành tâm làm gốc. Nay chàng có bà con ruột thịt, mà chẳng nói năng chi. Há chẳng khiến cho thiếp buồn lên mắt biếc?
Vương Thành hốt hoảng nói:
- Với cha mẹ, ta có thể có đôi điều không thật - nhưng với nàng - Tóc... rụng còn nói ra. Huống chi chuyện thế kia làm sao mà giấu được?
Rồi đem mọi chuyện ra mà kể. Không bỏ sót một chỗ nào. Kể xong, mới cảm khái với lòng mà trút ruột trút gan:
- Ở đời phúc họa khó mà lường trước được. Nếu ta không thắng đặng lòng tham, thì cốt nhục tương thân làm sao mà tới được?
Ba ngày sau, bà lão tới, liền gọi vợ chồng Vương Thành đến, mà bảo rằng:
- Cháu nên kiếm nghề gì mà sinh sống, thì mới được lâu dài. Chớ cứ theo bè theo bạn. Nay bạc mai bài. Liệu đến tuổi già còn hối hận kịp chăng?
Vương Thành yếu ớt đáp:
- Có bột mới gột nên hồ. Cháu cũng biết vậy, nhưng trắng cả đôi tay, thì chỉ có nước... thua luôn chớ mong gì hơn được!
Bà lão kéo tay hai vợ chồng lại. Đặt vào một túi nhỏ, rồi tha thiết nói:
Lúc còn ông mày, vàng lụa lấy bao nhiêu cũng được. Tao tự nghĩ: Ông mày thích cái đẹp tự nhiên. Chớ không màng son phấn, nên tao chỉ lấy đủ để mua... dưa leo mà đắp mặt. Nay ông mày đã cưỡi hạc về trời, thì cái đẹp tự nhiên cũng chẳng cần chi đến nữa, nên tao cho vợ chồng mày làm vốn, để kiến tạo ngày mai. Cho con cháu yên vui mà sống đời tín nghĩa...
https://mail.google.com/mail/u/0/images/cleardot.gif

Thứ Năm, ngày 10 tháng 4 năm 2014

Câu chuyện 2 Quốc tịch

Câu chuyện 2 Quốc tịch

Vừa đây có nghe dư luận và báo chí phản ảnh từ hai ngành tư pháp và ngoại giao nêu lên "vấn đề giữ Quốc tịch Việt Nam" với chi tiết đáng chú ý: Là 5 năm sắp trôi qua rồi kể từ ngày Nhà nước công bố người VN ở nước ngoài muốn giữ lại Quốc tịch Việt Nam (cho phép có 2 Quốc tịch) thì đến các ĐSQ của chúng ta ở nước ngoài đăng ký giữ. Tuy nhiên vấn đề này cho đến nay xem ra chưa đưa lại kết quả khả quan. Vì con số đưa ra là trên 5 triệu người ở diện này thì mới chỉ có chừng 6.000 người đến đăng ký giữ lại Quốc tịch VN. Như vậy là quá ít.

Lại nghe nói các cơ quan chức năng VN một mặt lại muốn kéo dài thời hạn đăng ký, mặt khác sẽ tìm cách sửa đổi cơ chế, quy định sao cho “thực tế hơn”, “phù hợp hơn” với tình hình Việt kiều hiện tại (đúng ra phải dùng nhóm từ “người Việt Nam ở nước ngoài” mới đầy đủ ý nghĩa).

Việc sửa đổi luật pháp, quy chế, quy định… thì mình thấy nên nhưng kéo dài thời gina (lần này rồi lần khác nữa…) thì mình chưa thấy thuyết phục. Bởi đã trải qua đến 5 năm mà chỉ chừng ấy người Việt có Quốc tịch nước ngoài đến cơ quan đại diện nước ta đăng ký giữ Quốc tịch VN thì giả sử kéo thê một hai năm nữa cũng chắc chả hơn gì. Người nào dự định giữ Quốc tịch quê hương thì đã đi đăng ký ngay, chứ ra hạn thêm thì xem ra số người mới chắc cũng chẳng còn đông đảo nữa.

Nhân có chuyện này, chủ blog tôi xin phép tác giả ở Ba Lan đăng lại bài viết dưới đây để thấy thêm cách nhìn vấn đề cũng như một chút tâm trạng thực tế của người VN chúng ta đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài.
Vệ Nhi    

 -----

Vấn đề quốc tịch nước ngoài và quốc tịch Việt Nam


Với cương vị là công dân của Việt Nam và Ba Lan, tác giả bài viết chỉ muốn chia sẽ những góc nhìn của bản thân, khi đã có được một số kiến thức và những kinh nghiệm sống nào đó. Bài viết không hề có tính chất hướng dẫn, nhận xét hay phê bình bất cứ một ai. Ngoài ra nó cũng không thể là một chiếc bản đồ chỉ đường cùng với các nguyên tắc pháp luật, để ai đó có thể dựa vào đây lấy lý lẽ làm bằng chứng, vì một lý do đơn giản là tác giả chỉ là một công dân bình thường, hoàn toàn không có quyền (đó).
Là một công dân tự do, ai cũng có quyền đưa ra ý kiến của mình, góp phần nào đó cho xã hội ngày càng dễ dàng (về hành chính), cũng như lành mạnh và tươi đẹp (về cuộc sống) hơn. Tất nhiên, tiếng nói của 1 công dân cũng chỉ có những giá trị ở một mức độ nào đó. Nếu công dân có điều kiện để trở thành đại biểu quốc hội, thì khi đó tiếng nói sẽ có phần nào mạnh mẽ và thiết thực hơn, bởi vì khi đó sẽ được tham dự vào những công việc lập pháp cho cả quốc gia, sẽ góp phần tạo ra những bộ luật dễ hiểu, dễ áp dụng và quan trọng là thân thiện hơn cho người dân.

Tất cả các nguyên tắc pháp luật là do con người tạo nên. Và nó để phục vụ con người, không chỉ ở góc độ để dễ quản lý, mà ở mọi phương diện. Các bộ luật luôn được tạo ra, được sửa đổi, để tất cả mọi công dân đều cùng được áp dụng bình đẳng, khi cùng chung sống trong một cộng đồng lành mạnh. Do vậy, bộ luật nào hay nghị quyết nào, nếu không hợp lý trong cuộc sống, cũng có thể thay đổi tại mọi thời điểm, tức là phải điểu chỉnh ngay lập tức, sao cho hợp lý, có lôgic, phải có tính chất thực thi và quan trọng là phải để phục vụ mọi người dân. Mỗi một người dân khi sinh ra, đều đã có rất nhiều rất quyền lợi chính đáng, đa số mọi điều thực ra toàn là những chuyện hiển nhiên, nhưng vì một vài lý do khác nhau, không phải là ai cũng (muốn) nhìn nhận thấy những điều quan trọng này.
Nói chung, bộ luật nào đưa ra (đã được bàn luận và phê duyệt) đều phải mang tính chất thật công minh và quan trọng là phải thật dể hiểu cho tất cả mọi người dân. Tất nhiên là làm được điều này không hề dễ dàng, vì trình độ nhận thức của mỗi người là khác nhau. Nguyên tắc chung là bộ luật nào cũng phải rõ ràng, nhưng cũng không thể tạo điều kiện cho người dân dễ dàng làm những công việc được gọi là „lách luật”, đồng thời bộ luật cũng không thể là một „mớ bòng bong”, để cho người dân không thể hiểu và chỉ để cho những người có thẩm quyền có thể nhìn nhận và thi hành nó theo một cách tùy tiện. Nguy hiểm là khi nhà công chức nhìn nhận (áp dụng) luật với tiêu chí là chỉ để có lợi cho bản thân, mặc dù điều đó gây ra rất nhiều phiền hà cho người dân, chỉ theo nguyên tắc „hành là chính”, bởi vì là quốc gia nào cũng đang cố gắng bài chống tệ nạn tham nhũng.
Việt Nam và Ba Lan đều đang trên con đường phát triển, có lẽ ai cũng muốn hội nhập với thế giới, tuân thủ theo các nguyên tắc và đạo lý chung, chứ không phải là muốn làm gì cũng được, khi đang có nhiều quyền lực trong tay. Bởi vì là chúng ta đang sống trong một thời đại là đa số các quốc gia đều muốn có một nền kinh tế thị trường, cùng phát triển, cùng hội nhập và dễ dàng giao lưu, để có quan hệ hợp tác quốc tế với nhau, với tính chất toàn cầu. Chả ai muốn mình bị cô độc, vì trong cuộc sống của ai cũng cần có giao lưu, nhất là khi công việc làm ăn buôn bán đang phát triển ngày càng thuận lợi.
Về quốc tịch, Ba Lan (Việt Nam cũng vậy) có bộ luật công nhận quốc tịch theo tính chất thừa kế (theo máu). Tức là khi cha/mẹ có (những) quốc tịch nào là con cái sinh ra có được (những) quốc tịch đó. Hoàn toàn không phụ thuộc vào vị trí địa lý, nơi đứa trẻ sinh ra. Ngược lại, khi cả cha và mẹ là người nước ngoài, đứa trẻ sinh ra ở Ba Lan không có quốc tịch Ba Lan, mà nó phải nhận (những) quốc tịch của cha mẹ mình.
Trường hợp khi mà người mẹ là công dân Ba Lan, những đứa trẻ được sinh ra nghiễm nhiên có quốc tịc
h Ba Lan, trừ trường hợp khi người mẹ chỉ muốn cho con mình nhận quốc tịch nước khác (theo cha nó).


Trường hợp khi mà người mẹ là công dân Việt Nam, nếu tình trạng hôn nhân của người mẹ đang ở cương vị là kết hôn (có chồng) thì khi sinh con ở Ba Lan, người chồng nghiễm nhiên được/phải đứng tên là cha của đứa trẻ. Nếu đứa con là kết quả của „một vụ ái tình” khác, thì khi đó người chồng, người vợ và người bồ có thể cùng ra khai báo ở tòa án. Tòa án làm công việc xác minh (thẩm tra, hỏi cung, thậm chí xét nghiệm ADN nếu cần) rồi có thể đưa ra kết luận tuyên án là người chồng khi không có quan hệ với vợ vào thời điểm thụ thai, sẽ không phải là cha đẻ của đứa bé. Khi đó Phòng hộ tịch có thể gạch tên người chồng trong giấy khai sinh của đứa trẻ và người bồ (cha thật) của nó sẽ được ra Ủy ban làm thủ tục nhận con và ghi họ tên mình vào giấy khai sinh của nó. Nếu người chồng có quốc tịch Ba Lan, đứa bé (đã) có quốc tịch Ba Lan, nhưng sau khi có sự thay đổi, người cha mới của nó (tức người bồ của mẹ nó) không có quốc tịch Ba Lan, thì khi đó đứa bé sẽ không còn quốc tịch Ba Lan, bởi vì là hiện tại cả cha mẹ của nó đều không có quốc tịch Ba Lan, đứa trẻ hoàn toàn không còn gì liên quan với công dân Ba Lan (ông chồng của người mẹ) kia nữa. Thậm chí khi nó đã mang họ mẹ (và hiện vẫn giữ họ này), mặc dù đã có quyển hộ chiếu Ba Lan với hạn giá trị là 10 năm (có thể không ai đòi thu hồi cuốn hộ chiếu này, nhưng nó sẽ không được gia hạn) – đứa trẻ không là công dân Ba Lan. Vậy là không có chuyện là đã có rồi là không bao giờ mất. Có (sở hữu) quyển hộ chiếu là một chuyện, vấn đề (có) quốc tịch lại là hoàn toàn khác.




Nếu tình trạng hôn nhân của người mẹ đang ở cương vị là không có chồng thì người cha của nó sẽ được ra Ủy ban làm thủ tục nhận con luôn (không cần kết hôn). Nếu người cha có quốc tịch Ba Lan, đứa bé sẽ có quốc tịch Ba Lan, nhưng chỉ trong trường hợp người cha làm thủ tục nhận con khi nó chưa đầy 1 tuổi. Quá một năm, đứa trẻ chỉ được nhận quốc tịch của người mẹ.
Khi đứa bé có quốc tịch Ba Lan, trong trường hợp nó theo mẹ về Việt Nam sinh sống, nó vẫn luôn có quốc tịch Ba Lan, thậm chí khi quyển hộ chiếu của nó hết hạn. Không có chuyện hết hạn hộ chiếu là mất quốc tịch (Ba Lan). Có thể đến Đại sứ quán Ba Lan để xin hộ chiếu cho đứa bé tại mọi thời điểm. Lưu ý là mỗi khi làm hộ chiếu là cần có sự (giấy) đồng ý của người cha. Giấy ủy quyền thường là viết cho từng công việc, có giá trị vào từng thời điểm. Không có giấy ủy quyền nào có giá trị vĩnh viễn (bởi mọi ý kiến cá nhân luôn có thể thay đổi).
Gần đây, có nhiều người hỏi về vấn đề còn hay mất quốc tịch Việt Nam sau tháng 7 tới và có phải ai cũng phải đi đăng ký (quốc tịch) hay không. Theo cách hiểu của tác giả thì tất cả những ai đã và đang có quốc tịch (hộ chiếu) Việt Nam, nếu chưa bị/được Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký cho thôi quốc tịch, sẽ vẫn luôn luôn là công dân Việt Nam. Gia hạn hay xin hộ chiếu (Việt Nam) mới lại là một vấn đề hoàn toàn khác, không hề có liên quan gì đến chuyện còn hay mất quốc tịch.
Chuyện đăng ký công dân với thời hạn giá trị tháng 07.2014 có lẽ chỉ liên quan đến những người dân gốc Việt ra đi khỏi Việt Nam từ trước 1975, khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa còn tồn tại và đã cấp (hay chưa hề cấp) hộ chiếu cho họ?



Chính quyền và các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam cũng nên đưa ra những thông tin cụ thể, để tránh gặp những ý kiến là Việt Nam có nhiều bộ luật hay nguyên tắc khó hiểu, có quá nhiều điều luôn liên quan đến lệ phí hay là những mục đích kinh tế v.v..., bởi vì ai cũng biết là chính quyền quốc gia tiến bộ nào cũng luôn luôn tạo ra những bộ luật hữu ích nhất cho công dân nước mình. Tại sao thời hạn hay thời điểm sinh sống (trước 2008/2009, sau 2009 hay sau tháng 07.2014) lại có tính chất quan trọng như vậy, trong vấn đề có hay (không có) quốc tịch?

Tóm lại, tốt nhất là mọi người hãy chịu khó đến cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam để hỏi trực tiếp về trường hợp của bản thân, nếu thấy còn nhiều thắc mắc, khó hiểu. Khó mà có được một bài viết chung có hữu ích cho tất cả mọi thành phần. Có điều là không ai muốn có quá nhiều chuyện hành (là) chính khó hiểu!

3-2014
Ngô Hoàng Minh

Chủ Nhật, ngày 06 tháng 4 năm 2014

Đất nước mình thật đẹp

Đất nước mình thật đẹp

Là người yêu thích chụp ảnh, rất hay đi đây đó nên mình lưu tâm nhiều đến những cảnh sắc thiên nhiên và con người tứ xứ... 

Điều mà cá nhân cảm nhận được khá dễ dàng là nơi đâu trên đất nước người ta để hiện hữu những cảnh đẹp thiên nhiên. Tuy nhiên phần nhiều trong số đó là những bức tranh thiên nhiên bao la hùng vĩ, chúng cũng rực rỡ màu sắc và có sức hút mạnh mẽ du khách khắp các chân trời đến chiêm ngưỡng ngắm nghía. Nghĩa là chúng rất đẹp và có nhiều giá trị về ý nghĩa kinh tế và du lịch. 

Song quay về cảnh sắc thiên nhiên Việt Nam ta thì chúng lại có những nét đẹp riêng biệt. Đó là nhiều cảnh sắc của chúng ta lại nghiêng về một vẻ đẹp hài hòa và giản dị. Và hình như bao giờ các cảnh sắc đẹp đẽ đó cũng gắn với con người, gắn với đời sống lao động của con người...

Bữa nay đưa những bức hình đã lượm tìm được trên mạng internet.

Vệ Nhi (sưu tầm)



1Huyện Trùng Khánh, Cao Bằng có thác nước đẹp nổi tiếng cả nước

2Những đồi cát Mũi Né, Phan Thiết lúc nào cũng chờ đợi các nhà nhiếp ảnh

3Nắng ban mai trên những cánh đồng rộng tại Châu Đốc, An Giang

4Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang

5Cầu treo Phú Mỹ TP HCM
                                                                                                                          

Thứ Sáu, ngày 28 tháng 3 năm 2014

Sống như thế nào?

Sống như thế nào?

Nhóm bạn hữu chúng tôi vừa trao đổi với nhau xung quanh một chủ đề (và cũng là một câu chuyện) mà chúng tôi cùng nghĩ, nó sẽ không bao giờ là cũ hay mới, là cần hay không cần, là đúng (hẳn) hay sai (hẳn)... Đó có thể thu gọn trong mấy chữ, là "Con người (hãy) sống với nhau thế nào?". 

Một vấn đề hay nhưng khó đấy chứ. 

Một bạn trong số chúng tôi có vài lời đề nghị, bạn đó bảo rằng "thì chúng ta hãy thử thoáng chút suy tư mà xem, có thể khi ấy chúng ta sẽ thấy con người nên 'sống với nhau thế nào cho phải'. 

Đúng là bạn đó đã đặt ra một câu hỏi không dễ trả lời, tức trả lời ngay mà lại đúng đắn và lại sát thực được. Song bạn đó rất có lý khi gợi ý tiếp ngay sau đó: "Cần có một tấm lòng...". Tôi hiểu là bạn muốn nhắc đến lời một bài hát rất hay của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
 
Thôi thì tốt hơn cả không dài dòng nữa mà xin mời bạn bè vào thẳng mấy bài thơ dưới đây để đọc và tự mình chiêm nghiệm...

Vệ Nhi

-------


 Sống như thế nào như thế nào?
(Bài thơ không thấy đề tên tác giả)

Tôi hỏi đất: Đất sống với nhau thế nào?
Đất trả lời: chúng tôi làm nền móng cho nhau
Tôi hỏi nước: Nước sống với nhau thế nào?
Nước trả lời: chúng tôi hoà lẫn vào nhau
Tôi hỏi gió: Gió sống với nhau thế nào?
Gió trả lời: chúng tôi nâng cánh cho nhau
Tôi hỏi mây: Mây sống với nhau thế nào?
Mây trả lời: chúng tôi tan biến vào nhau
Tôi hỏi cỏ: Cỏ sống với nhau thế nào?
Cỏ trả lời: chúng tôi hoà quyện và réo rắt bên nhau
Tôi hỏi cây: Cây sống với nhau thế nào?
Cây trả lời: chúng tôi che chở và leo quấn cho nhau

Tôi hỏi người: Người sống với nhau thế nào?
Không ai trả lời
Không ai trả lời
Không ai nói gì cả
Vì người còn đang bận giận hờn và chà đạp lên nhau
Vì người còn chôn chặt nụ cười và không cùng chia sẻ
Vì người còn nghi kị và mưu chước lẫn nhau
Vì người còn nặng nỗi thương đau
Vì người còn quên cách yêu nhau
Vì người còn chưa biết được rằng sự sống vốn rất mau... tàn lụi...




Dành thời gian tìm hiểu một chút thì thấy bài thơ đã lấy theo ý từ bản thơ gốc là bài "HỎI" của nhà thơ Hữu Thỉnh làm năm 1992 trong tập thơ "Thư Mùa Đông". Bài thơ cũng được chọn làm bài đọc thêm của Sách giáo khoa của các trường phổ thông.

 
Hỏi
 
Tác giả: Hữu Thỉnh
Tôi hỏi đất: đất sống với đất như thế nào?
- Chúng tôi tôn cao nhau
Tôi hỏi nước: Nước sống với nước như thế nào?
- Chúng tôi làm đầy nhau
Tôi hỏi cỏ: Cỏ sống với cỏ thế nào?
- Chúng tôi đan vào nhau
Làm nên những chân trời

Tôi hỏi người: 
- Người sống với người thế nào?
Tôi hỏi người: 
- Người sống với người thế nào?
Tôi hỏi người: 
- Người sống với người thế nào?



Được biết, trước đó, nữ thi sĩ Đức Christa Reining sinh năm 1926 đã viết bài thơ "THƯỢNG ĐẾ SINH RA MẶT TRỜI", trong một tập thơ bà đoạt giải thương Văn chương Bremen 1964. Bài thơ đã được dịch ra tiếng Việt như sau:

 
THƯỢNG ĐẾ SINH RA MẶT TRỜI
Tôi hỏi gió
Gió với em thế nào?
- Gió luôn ở bên em.

Tôi hỏi mặt trời
Mặt trời với em thế nào?
- Mặt trời luôn ở bên em.

Tôi hỏi các vì sao
Các vì sao với em thế nào?
- Các vì sao luôn ở bên em.

Tôi hỏi con người
Con người với em thế nào?
- Con người im lặng không ai trả lời tôi.

* Cũng trong lá thư email, bạn tôi có mấy dòng bình luận như sau:
 
Các bài thơ đều giống nhau về hành văn, phong cách, nội dung. Bài thơ của Hữu Thỉnh và bà Christa Reining đều dừng lại ở câu hỏi quan trọng nhất (nhắc đi nhắc lại - không trả lời):Con người sống với nhau như thế nào?

Đi sâu vào ngẫm nghĩ câu trả lời có thể nhận ra đương nhiên là:

- Người với người sống để yêu nhau!
- Người với người sống Tự do - Bình đẳng - Bác ái!
- Người với người sống bằng Trái tim, quý nhau bởi Tấm lòng. Người với người sống trong Nghĩa và Tình!
 
 
 
 
 





--

Chủ Nhật, ngày 23 tháng 3 năm 2014

Sách Phật viết hay



Sách Phật viết hay

Sách về Phật giáo được cái chăm đọc – nhất là từ khi là anh hưu trí – nên cũng hiểu được ít điều. Nhưng nếu so với sự mênh mông kiến thức kiến giải về đạo Phật thì thấy quả thật mình như chưa biết gì… Chính vì thế mà mới đây đọc cuốn sách của Lê Thái Ất (tên hiệu là Bảo Thông) in ở Hoa Kỳ thì thực sự mình thán phục không những ở lòng nhiệt tâm và nhất là một sức kiến văn uyên bác của tác giả sinh năm 1928 này. Chỉ có sự tích lũy cao dày của lứa tuổi tác như thế mới đưa ra được những dòng chữ có hồn vía và một sự súc tích hấp dẫn cao như vậy.

Sách có tên TU TẠI GIA, được Cát Tiên (cattien.us) xuất bản và phát hành bên Mỹ đã 14 năm trước nhưng mình nghĩ rằng sách này chưa được nhiều người Việt Nam chúng ta ở trong nước biết đến.

Cuốn sách quý dày tới 526 trang khổ A4 này do người bạn đồng môn hồi đại học (hơn 50 năm trước) của mình ở Tp HCM mới đây gặp lại trao tặng mình với lời tâm sự “nếu chưa đọc thì đọc kỹ đi ông ạ..., kẻo có thể muộn đấy…”. Ẩn ý khéo như một lời đốc thúc nữa.

Không muốn viết dài, chỉ đưa lại đây ít dòng ngắn ngủi về giá trị cuốn sách này. Chẳng hạn khi luận bàn về đạo Phật, ngay mấy lời ccoo đúc sau đã rất đầy đủ ý tứ cần nói về Phật giáo:

Lời đề tặng cuốn sách "Tu tại gia" của anh bạn đồng môn --->>>

Trong tiến trình tu đạo gồm có bốn giai đoạn có liên hệ mật thiết đến nhau:

Trước hết, thứ nhất là khởi phát tín tâm mộ Phật. Không có tín tâm thì không có việc tu hành, tôn giáo nào cũng vậy.
Thứ hai là lý giải để có chánh tín, tránh rơi vào mê tín dị đoan của ma giáo tà đạo.


            Ảnh: Ông Lê Thái Ất (Bảo Thông), tác giả cuốn sách "Tu tại gia"


Thứ ba là hành trì, nếu không thì việc lý giải chỉ là lý luận, lý thuyết suông, vô ích trong sinh hoạt thực tế hằng ngày.
Thứ tư và sau hết là chứng ngộ đạo pháp, đạt tới cứu cánh giải thoát tự giác tự độ và giác tha độ tha”.

Đúng là như vậy. Vì thế nể phục tác giả. Các bạn nếu quan tâm, truy tìm trên mạng chắc sẽ tìm đọc được cuốn sách quý này. (Tham khảo đường Link sau: http://www.chuabuuminh.vn/van-hoc/diem-sach-hay/565411_doc_sach_tu_tai_gia_cua_gs_le_thai_at.aspx).

Vệ Nhi