Loading...

Thứ Hai, ngày 25 tháng 7 năm 2016

Chính là sách vở TQ viết HS & TS là của VN

Chính là sách vở TQ viết HS & TS là của VN

Sự kiện lớn đầu tháng 7 này là Tòa Trọng tài tại La Haye, Hà Lan, vừa ra phán quyết về vụ Philippines kiện Trung Quốc về đường lưỡi bò. 

Theo chi tiết phán quyết bằng văn bản mà Thông báo báo chí của Tòa đã nói rõ, tất cả những đòi hỏi chủ quyền trên Biển Đông của TQ là vô lý, bởi trong thực tế không có bất cứ một cơ sở khoa học và pháp lý nào nói TQ có "chủ quyền lịch sử" trên vùng biển rộng lớn này cả. 

Dịp này lục trong hồ sơ tư liệu có bài báo đăng từ cuối năm ngoái liên quan đến một cuốn sách cổ. Đó là cuốn sách có tên “Danh hoàn Chí lược” (Sách ghi chép về địa lý Thế giới), có khổ 20cm x 14,5cm, người giám định sách là hai vị Bích Tinh Tuyền và Lưu Ngọc Ba. Sách do Nhà xuất bản Hòe Lý Đường in.

Nhận thấy tư liệu bổ ích cho những ai muốn theo dõi sâu hơn về vụ Philippines thắng kiện và hiện thực trớ trêu từ sau phán quyết 12/7/2016 là TQ "trắng tay" trước những yêu sách vô lý về chủ quyền lịch sử trên Biển Đông (TQ gọi là Nam Hải), xin phép tác gỉa đưa bài viết đó lên đây để mọi người cùng đọc tham khảo và chia sẻ.

Vệ Nhi

------


VIỆT STAR MEDIA: “LỊCH SỬ GHI LẠI…”

– Phát hiện cuốn sách cổ của nhà Thanh, in đời vua Quang Tự (1875-1909) khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Đông là của Việt Nam.

Trong quá trình điền dã tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Thái Bình, tại gia đình anh Phan Văn Luyện (xã Vũ Chính, Thành phố Thái Bình) chúng tôi đã tiếp cận được cuốn sách cổ, in vào đời Vua Đức Tông (Tải Điềm) – nhà Thanh (niên hiệu Quang Tự, 1875-1909). Sách in thạch bản (in đá) bằng chữ Hán).

Anh Luyện đã vui vẻ trao quyển sách này cho chúng tôi sở hữu và nghiên cứu với hi vọng có thêm những cứ liệu để công bố trước công luận và làm bằng chứng để khẳng định chủ quyền biển, đảo Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam.

Cuốn sách này có tên “Danh hoàn Chí lược” (Sách ghi chép về địa lý Thế giới), có khổ 20cm x 14,5cm, người giám định sách là hai tiên sinh Bích Tinh Tuyền và Lưu Ngọc Ba. Sách do Nhà xuất bản Hòe Lý Đường in.


unnamed (2)


Ở trang 2 của sách ghi: “Quang Tự Mậu Tuất Mạnh Thu” (Tháng 7, năm Mậu Tuất, niên hiệu Quang Tự, triều vua Đức Tông (Tải Điềm -1898). Cũng ngay ở trang 2 ghi: Thượng Hải Thư Cục Đại Ấn (Thư cục Thượng Hải được cho quyền in sách này). Bộ sách này được biên soạn vào năm thứ 28 (Kỷ Dậu, 1849), niên hiệu Đạo Quang, triều vua Thanh Tuyên Tông (Mân Ninh, 1821-1851).

Ở trang 3, 4 và trang 5 của sách có ghi bài tựa của Lưu Vận Kha, soạn vào năm Kỷ Dậu (1849), mùa hạ tháng 4 – triều vua Thanh Tuyên Tông, niên hiệu Đạo Quang. Bài tựa thứ 2 cũng viết vào năm Đạo Quang thứ 28, triều vua Thanh Tuyên Tông, do Bành Uẩn Chương soạn. Bộ sách này từ khi soạn (vào năm 1849, thời vua Thanh Tuyên Tông) phải mất 49 năm sau mới được in (vào năm 1898), triều vua Đức Tông (Nhà Thanh) – niên hiệu Quang Tự.

Bộ sách gồm nhiều tập. Chúng tôi chỉ chú tâm tới các tập 3, 4, 5 (vì 3 tập này đóng gộp thành 1 quyển) và có ghi các đảo thuộc chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Sách Danh hoàn chí lược. Dòng chữ nhỏ bên phải ghi người giám định Bích Tinh Tuyền, Lưu Ngọc Ba. Dòng chữ nhỏ bên trái ghi Hòe Lý Đường Bản.




unnamed (9)

Dòng chữ bên phải ghi Quang tự Mậu Tuất Mạnh Thu. Dòng thứ hai bên trái ghi Thượng Hải thư cục đại ấn.


Nội dung của sách chủ yếu tóm lược vị trí địa lý, lịch sử… của các nước trên thế giới. Sách còn vẽ bản đồ của các nước trên thế giới: từ Trung Quốc, Nhật Bản, Indonesia … cho đến Ả Rập.

Đặc biệt, ở trang 24, 25 của tập sách này có in tấm bản đồ Trung Quốc, mang tên “Hoàng Thanh nhất thống dư địa toàn đồ” (Bản đồ toàn quốc thống nhất đời nhà Thanh). Trên bản đồ này đều có vẽ các nước có chung đường biên giới với Trung Quốc, như: Việt Nam, Mông Cổ, Ấn Độ, Triều Tiên…

Đáng chú ý, ở phần biển đảo, Trung quốc chỉ vẽ đảo Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam), Đảo Đài Loan (của Trung Quốc)… sau đó ghi chú là biển nhưng không hề vẽ và ghi chú đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Trung Quốc. (Bản đồ thứ 1, có ghi chú: Hoàng Thanh Nhất thống dư địa toàn đồ).


unnamed (6)


Bản đồ của nhà Thanh không có đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà chỉ ghi đảo Quỳnh Châu (Hải Nam) và đảo Đài Loan


Đặc biệt hơn nữa, ở tấm bản đồ in tại trang 40, 41 của cuốn sách này thì bên cạnh việc vẽ bản đồ đường biển Trung Quốc lại có vẽ eo biển Quảng Nam (và ghi rõ là Nam Việt – tức Việt Nam). Bên cạnh eo biển Quảng Nam, bản đồ này còn vẽ đảo Thất Châu Dương – biển Thất Châu (cả khu vực biển đảo Trường Sa, Hoàng Sa – Vạn lý Trường Sa. Nếu theo bản đồ Trung Quốc thì Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc biển Thất Châu Dương – một cách gọi tên khác mà người Trung Quốc xưa thường dùng và ghi chú trên bản đồ để chỉ khu vực biển đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam (không có ghi khu vực biển Thất Châu Dương này thuộc địa giới của Trung Quốc).

Bản đồ đã chú thích trong đó có Trường Sa, Hoàng Sa thuộc địa phận biển Việt Nam.

Ở tấm bản đồ trang 55 và 56 – chủ yếu vẽ về biển, đảo và các nước giáp Trung Quốc: biển Ấn Độ Dương (Trung Quốc gọi là Tiểu Tây Dương) và có cả ghi chú về Ấn Độ Dương. Trên bản đồ này còn cho biết về biển và đảo Trường Sa của Việt Nam giáp với đảo Quỳnh Châu (Hải Nam – thuộc Quảng Châu, Trung Quốc). Vẽ cả hình tượng bãi đá ở quần đảo Trường Sa. Trên bản đồ này còn vẽ khu vực biển đảo Quảng Nam: Trong đó vẽ và ghi Thất Châu Dương (Hoàng Sa, Trường Sa), vẽ cả cửa biển Lộc Nại của Quảng Nam và vẽ đảo Côn Lôn của Việt Nam.

unnamed (8)

Bản đồ Hoàng Thanh nhất thống dư địa toàn đồ (chưa chú thích)


Đáng chú ý ở trang 88, 89 giúp cho người đọc hiểu về luồng lạch, hướng gió và các bãi đá ngầm ở trên các đảo Trường Sa, Hoàng Sa và phương hướng, độ dài (tính theo cách tính canh giờ của người xưa) đi trên biển để tới được các nước khác nếu xuất phát từ cửa biển: đảo Trường Sa của Việt Nam.
Phần phiên âm của sách được nhà Hán học Nguyễn Tiến Đoàn dịch như sau: “…Sách Hải quốc văn kiến lục có nói: Vùng Nam Dương (biển phía nam) là nơi thuyền buôn của vùng Mân Việt thường đến. Đường biển nơi đây nhiều chỗ nguy hiểm. Người chỉ huy thuyền đi qua biển này cần phải cẩn thận. Nguy hiểm nhất là nơi có hòn đảo Áo Khí. Thủy trình đi khoảng 7 canh giờ từ đảo Áo Khí đến đảo Lạc Tế. Đảo này nhỏ mà bằng phẳng. Ven đảo có nhiều đá ngầm ngổn ngang, thuyền không đến được; thu hút không khí, dòng chảy ở bốn phía. Trên đảo có nhiều cây cỏ mọc cao hơn một trượng, có núi Đông Sư Tượng, nếu muốn đến thì phải theo dòng nước mà đi. Không thể đi ngược lên phía Bắc vì nhiều doi cát nổi chìm, dài khoảng 200 dặm. Đi lên phía bắc thì có đảo và trên đảo có núi Sa Mã Kỳ. Hai ngọn núi này đối mặt vào nhau (ngọn núi Sa Mã Kỳ và Đông Sư Tượng).


unnamed (3)

Toàn trang chữ Hán (đã dịch trong bài viết)


Theo đường thủy trình trên biển là phải đi bốn canh giờ mới tới địa đầu Sa Mã Kỳ, lại có những doi cát liên tục ở phía nam đến Việt hải (biển Việt) gọi là Trường Sa đầu (địa đầu Trường Sa). Cứ đi về phía nam thì lại thấy nhiều doi cát nổi lên, theo đó mà đi thì đến Vạn Lý Trường Sa. Phía nam Trường Sa có nhiều bãi đá ngầm lởm chởm, đi tiếp là đến biển Thất Châu, gọi là Thiên Lý Thạch Đường. Đây là đất nguy hiểm của vùng Nam Dương, hay có gió bão lớn ở ngoài biển, thuyền đi biển đậu ở ngoài này thường gặp bão gió. Có những thuyền đi lạc đường mà gặp phải nơi đó thì rất nguy hiểm. Một cửa Trường Sa nằm ở phía tây bắc cùng với đảo Nam Áo. Ở phía tây nam là đảo Đại Tinh (Biển bình lặng¬) tạo thành thế chân vạc ở cửa nam bắc, ước rộng phải đi chừng khoảng ngũ canh (đơn vị đo lường thời cổ thường tính theo giờ). Thuyền buôn của người Việt thường đậu ở đó; phía Nam là đảo Lã Tống (Lucson – Philipin), Văn Lai, Tô Lập. Thuyền buôn thường qua mấy nước đó để trao đổi buôn bán, khi xuất phát đều từ cửa Trường Sa mà đi. Nếu gặp gió bắc thì lấy chuẩn từ đảo Nam Áo. Gặp gió Nam, lấy đảo Đại Tinh làm chuẩn để tới Giang Tô, Triết Giang, Phúc Kiến (Quảng Đông). Nếu đi về phía Nam của Nam Dương phải đi từ cửa Sa Mã Kỳ (Đài Loan) đến các nước ở Lữ Tống (Philipin), giáp phía Tây Dương. Muốn đến Chiết Giang, Mân Việt… Nhật Bản phải đi theo hướng phía Tây biển Thất Châu, Côn Lôn rồi đến Vạn Lý Trường Sa ngoại (ngoài Vạn lý Trường Sa), qua cửa biển đảo Sa Mã Kỳ – đi theo đường thẳng dây cung mới an toàn. Từ Trung Quốc mà đến nước Indonesia phải đi phía ngoài Vạn lý Trường Sa. Nơi đây biển mờ mịt, không lấy gì làm chuẩn được cho nên muốn đi phải theo những doi cát ở biển Việt rồi mới đến Thất Châu Dương và từ đó đi tới Indonesia; Vùng biển này nước mênh mông nên giới hạn cũng mênh mông…”. (Trích sách “Danh hoàn Chí lược”).


unnamed (5)

Bản đồ chưa chú thích trong đó có ghi eo biển Quảng Nam và đảo Thất Châu Dương cùng bản đồ Việt Nam


Thông qua tư liệu đã nêu ở cuốn sách này, giúp chúng ta có thêm những bằng chứng quý giá để góp phần khẳng định ngay từ thời nhà Thanh, các bản đồ của Trung Quốc đã vẽ các đảo trên vùng biển của họ chỉ có đảo Hải Nam, Đài Loan là gần với khu vực biển Việt Nam. Điều đó khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa (biển Thất Châu Dương, theo tên gọi trên bản đồ Trung Quốc thời nhà Thanh) là thuộc chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

unnamed (1)
Nhà Hán học Nguyễn Tiến Đoàn dịch sách Danh hoàn Chí lược
(source from DuyTracAuOanh’s Blog)

PhanNguyênLuân… tổng hợp/thực hiện

  ĐƯỜNG LINK THAM KHẢO:

https://cuuhocsinhphuyencom.wordpress.com/2015/11/13/da-co-sach-trung-quoc-khang-dinh-hoang-sa-truong-sa-la-cua-viet-nam/

-----

Thứ Năm, ngày 21 tháng 7 năm 2016

Một nhà tu hành gốc Việt gây chấn động dư luận phương Tây

Một nhà tu hành gốc Việt gây chấn động dư luận phương Tây





Câu chuyện dưới đây không phải người Việt Nam nào ở trong nước cũng biết. Mà câu chuyện đó đã trôi qua tới 5 năm rồi. 

Bữa nay thư email bạn bè gửi chia sẻ bài viết này, blog tôi trân trọng giới thiệu để bà con "cái xóm blog nhỏ" của tôi cùng biết và tự ngẫm ngợi...

Vệ Nhi

-------



Description: https://mail.google.com/mail/u/0/images/cleardot.gif
Bài phỏng vấn chấn động phương Tây của thiền sư Thích Nhất Hạnh



Khi thiền sư Thích Nhất Hạnh tới Canada vào năm 2011, nhà báo Andrea Miller đã có cuộc phỏng vấn riêng với ông và bài viết đã gây nhiều tiếng vang ở đất nước này, cũng như tại nhiều quốc gia phương Tây.


Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Sau khi thầy Thích Nhất Hạnh trở lại Vancouver, hai sư cô đưa tôi vào căn phòng khách trong một khu ký túc xá của Đại học British Columbia. Tại đây, ngoại trừ một lọ hoa lan nằm trên bàn, mọi thứ còn lại đều có màu nâu đất.

Thầy Thích Nhất Hạnh mặc áo tu hành màu nâu, chậm rãi nhâm nhi một tách trà có màu vàng nâu, trong khi các nhà sư khác đang ngồi gần đó trên những chiếc ghế bành và thảm màu nâu giản dị.

Sư cô Chân Không giới thiệu tôi với thầy rồi mỉm cười và nói rằng tôi là một sự bất ngờ nhỏ với họ. Khi tôi đề nghị được thực hiện cuộc phỏng vấn này, tất cả đều không nghĩ rằng “Andrea Miller” là cái tên của một phụ nữ nên đều mong chờ một vị khách nam giới.

Nhưng sau cuộc phỏng vấn này, tôi mới là người bị bất ngờ, bởi những điều hay lẽ phải mà thầy Thích Nhất Hạnh giảng cho tôi, từ cuộc sống sau cái chết, cho tới niềm vui của việc ngồi thiền và về sự tồn tại hay không tồn tại.

Thầy đã mang tới những câu trả lời mà tôi không ngờ tới, rất mới mẻ và chứa đầy sự thông tuệ. Và đây là những gì ông đã trao đổi với tôi.

Khi những người được chúng ta yêu quý gặp vấn đề lớn, như bị tâm thần, bị chấn thương tâm lý hoặc nghiện ngập thứ gì đó, cảm giác sẽ vô cùng đau đớn. Đôi khi ta có thể cảm thấy như vấn đề mà họ đang đối mặt quá lớn, tới mức không còn muốn giúp đỡ họ nữa.

Thậm chí ta còn muốn chạy trốn khỏi họ cùng vấn đề họ đang đối mặt. Nhưng cũng có lúc chúng ta cố giúp và rồi bị cuốn vào vấn đề của họ. Vậy chúng ta có thể làm gì để giúp những người ở trong hoàn cảnh khó khăn mà không bị choáng ngợp bởi vấn đề của họ?

- Khi cảm thấy bị ngợp với vấn đề của người khác thì có lẽ bạn đã làm quá sức. Thứ năng lượng đó không giúp đỡ người khác và hiển nhiên là không giúp ích gì cho bạn. Bạn không nên quá vội vã giúp đỡ người khác. Có hai điều ở đây mà ta cần lưu ý: Cuộc sống và hành động.

Đừng nghĩ quá nhiều về việc phải làm ngay điều gì đó cho người khác - cần phải đặt vấn đề cuộc sống của bản thân mình lên trước. Cuộc sống của bạn phải an lành, phải vui vẻ, hạnh phúc. Khi đó bạn mới có thể hành động để tạo ra niềm vui và hạnh phúc.

Bởi vậy, trước tiên bạn phải tập trung vào việc rèn luyện cuộc sống của mình. Sống sao thật tươi vui, thật an lành. Sống quan tâm tới người khác. Sống hào phóng và biết cảm thông. Đây là các nguyên tắc cơ bản.

Chuyện cũng giống như khi ta ngồi dưới gốc một cái cây vậy. Cái cây chẳng phải làm gì, trừ việc sống khỏe mạnh và tươi tắn, nhưng vẫn khiến ta thấy dễ chịu. Khi bạn sống như cái cây đó và lan tỏa làn sóng tươi mới, bạn đã giúp giảm bớt sự khổ đau của những người khác rồi.

Cuộc sống của bạn phải đầy sự hài lòng, phải an lành và bạn nên có mặt khi người khác cần tới mình. Chừng đó đã là rất nhiều rồi. Khi trẻ con tới gần và ngồi bên bạn, đó không phải là vì bạn có nhiều bánh kẹo để cho chúng, mà bởi ngồi gần bạn mang tới cảm giác dễ chịu và tươi mới.

Vì thế, hãy ngồi cạnh một người đang đau khổ và hãy cố hết sức để làm những điều bạn có thể làm tốt nhất: Thể hiện sự dễ chịu, quan tâm, tươi mới.

Nếu đang có một cảm xúc khó khăn trong tâm hồn, như tức giận hoặc buồn bã sâu sắc và tôi (xử lý chúng bằng cách) cố tập trung điều hòa nhịp thở của mình thì liệu đó có phải là hành động né tránh cảm xúc của bản thân không?

- Thường thì mọi người dễ đánh mất bản thân mình trước những cảm xúc mạnh và bị chúng choán hết tâm trí. Đó không phải là cách để ta chế ngự cảm xúc, bởi khi chuyện xảy ra như thế, bạn sẽ là nạn nhân cuả cảm xúc.

Để tránh không trở thành nạn nhân, hãy hít thở, tĩnh tâm và rồi bạn sẽ nhìn sâu vào bên trong con người mình, thấy rằng cảm xúc cũng chỉ là cảm xúc mà thôi, không hơn. Việc nhìn sâu vào trong tâm hồn mình là rất quan trọng, bởi bạn sẽ không còn sợ hãi nữa.

Bạn sẽ bình tĩnh và không còn muốn chạy trốn nữa. Bạn sẽ xử lý tốt hơn các cảm xúc. Hãy xem hơi thở chính là con người bạn. Bạn cần có sự liên kết với hơi thở để trở thành chính mình một cách tốt hơn, để mạnh mẽ hơn.





Rồi bạn sẽ chế ngự cảm xúc tốt hơn. Bạn không nên tìm cách quên đi cảm xúc của mình. Thay vì thế, hãy sống thật với chính mình, dần dần bạn sẽ trở nên cứng rắn và mạnh mẽ để xử lý cảm xúc của mình.

Thật ấm áp khi thấy rất nhiều đứa trẻ xuất hiện ở chốn tu hành.

- Tôi cảm thấy thoải mái với trẻ con. Tôi chưa từng cắt đứt quan hệ của mình với thế hệ trẻ. Tôi luôn giao tiếp với thế hệ trẻ, dù các em sống trong chốn tu hành hay ngoài cuộc sống. Đó là một trong những yếu tố chủ chốt trong niềm hạnh phúc của tôi.

Đôi khi các bà mẹ trẻ đưa con của mình vào chùa nghe giảng pháp. Đó là hoạt động nuôi dưỡng tâm hồn rất tốt với mọi người.

Những đứa trẻ có thể không hiểu chuyện gì đang diễn ra, nhưng chúng cảm nhận được bầu không khí an lành. Thứ năng lượng an lành đó rất hiếm hoi trong xã hội - càng hiếm hơn khi có tới 500 người ngồi xuống và cùng nhau tạo ra bầu không khí đầy sự an yên.

Nếu bạn cho con cái tiếp xúc với sự an lành và tình yêu, dù rằng chúng rất nhỏ và chưa hiểu lời lẽ thì điều đó không có nghĩa chúng không cảm nhận được gì. Hãy tưởng tượng một bà mẹ trẻ đang cho con bú trong một buổi giảng pháp. Bà mẹ nghe và thấu hiểu những lời lẽ của buổi giáng pháp.

Về phần mình, đứa trẻ sẽ vừa uống sữa mẹ, vừa hấp thu phật pháp qua dòng sữa. Đó là một cảnh tượng rất đẹp. Sau này, khi đứa trẻ vấp phải nhiều điều nghiệt ngã trong cuộc sống, chúng sẽ nhớ rằng đã từng có thời gian được tiếp xúc với năng lượng tích cực.

Khi những người tu hành cùng nhau hành lễ, họ luôn tạo ra một năng lượng tích cực mà người trẻ có thể cảm nhận và năng lượng này giúp tạo ra các hạt giống cho tương lai.

Đạo Phật luôn cố gắng mang năng lượng tích cực này tới nhiều chốn khác nhau, từ các ngôi trường, các bệnh viện cho tới các tòa thị chính.

- Liệu cuộc sống tu hành có xung đột với việc thưởng thức truyền thông không? Liệu chúng ta có thể vừa toàn tâm hướng tới Phật giáo, vừa vui vẻ tận hưởng Internet, TV, các bộ phim và cuốn sách?

- Có những cuốn sách và phim hay mà bạn có thể thưởng thức. Điều này là bình thường - thưởng thức chúng hoàn toàn tốt.

Đôi khi chất lượng của một bộ phim hoặc cuốn sách lại không tốt. Tuy nhiên bạn không nên tắt đi hay ngừng đọc sách vì nếu làm vậy, bạn có thể sẽ hồi tưởng và nhớ lại những khổ đau bên trong tâm hồn mình.

Đó là điều mà rất nhiều người trong xã hội chúng ta đang làm. Nhiều người không thể là chính mình. Họ có nỗi đau, nỗi buồn hoặc lo lắng bên trong và họ đọc sách hoặc nghe nhạc chỉ để che giấu chúng, để chạy trốn khỏi bản thân mình.

Thưởng thức truyền thông theo cách thức như vậy chỉ là hành động trốn chạy và nó không có tác động lâu dài. Bạn có thể tạm quên đi nỗi khổ đau nhưng cuối cùng sẽ phải trở lại chính mình. Phật dạy rằng chúng ta không nên chạy trốn bản thân mình, thay vì thế phải chăm sóc bản thân và biến đổi nỗi đau.

Ngài sẽ nói gì với người thấy rằng ngồi thiền là chuyện rất khổ sở, khó khăn và họ phải chật vật để làm những điều này?

- Đừng ngồi thiền nữa.

Thật vậy sao?

- Đúng vậy. Nếu bạn không cảm thấy thoải mái khi ngồi thiền thì đừng làm thế nữa. Bạn phải nắm bắt chính xác tinh thần của việc ngồi thiền. Nếu phải cố gắng quá mức khi ngồi thiền, bạn sẽ trở nên căng thẳng và điều này khiến cơ thể bạn đau đớn.

Ngồi thiền phải mang tới cảm giác dễ chịu. Khi ngồi xem truyền hình trong phòng khách, bạn có thể ngồi xem suốt nhiều giờ mà chẳng khổ sở gì cả. Thế mà khi ngồi thiền, bạn lại thấy khổ sở? Vì sao? Vì bạn đang phải cố gắng làm vậy.

Bạn muốn ngồi thiền thành công nên phải chiến đấu (với chính mình). Khi xem TV bạn chẳng phải chiến đấu với ai cả. Bạn phải học cách ngồi thiền mà không phải chiến đấu chống ai cả. Nếu bạn biết cách ngồi thiền như vậy, việc thiền sẽ mang lại cảm giác rất dễ chịu.

Khi Nelson Mandela ghé thăm Pháp một lần, một phóng viên đã hỏi rằng ông thích làm điều gì nhất. Ông nói rằng mình rất bận nên điều thích làm nhất là ngồi không và chẳng làm gì cả. Bởi ngồi không và chẳng làm gì là một niềm hạnh phúc - bạn sẽ hồi phục bản thân mình.

Đó là lý do vì sao Phật mô tả thiền giống như ngồi trên một bông hoa sen vậy. Khi ngồi thiền, bạn cảm thấy nhẹ nhõm, tươi mới, tự do. Và nếu không cảm thấy những điều này thì thiền sẽ trở thành một dạng lao động khổ sai với bạn.

Đôi khi nếu bạn không ngủ đủ giấc hay bị cảm lạnh hay gặp điều gì đó khác về sức khỏe, ngồi thiền có thể không mang tới cảm giác hài lòng như bạn mong muốn. Nhưng nếu bạn cảm thấy bình thường, thì trải nghiệm thoải mái khi ngồi thiền là điều luôn có thể xảy ra.

Vấn đề không phải là ngồi thiền hay không, mà là ngồi thiền như thế nào. Ngồi thiền như thế nào để thu được nhiều nhất lợi ích có thể - nếu không bạn chỉ đang phí thời gian mà thôi.

Ông nhấn mạnh rất nhiều tới sự vui thích - thở một cách vui thích, thiền, đi đứng và tận hưởng cuộc sống cùng nhau một cách vui thích - nhiều hơn hẳn các sư thầy khác trong Phật giáo.

- Trong hoạt động giảng dạy Phật pháp, sự thoải mái và niềm vui là các yếu tố giúp mang tới sự giác ngộ. Trong cuộc sống có rất nhiều sự khổ đau. Tại sao bạn phải rước thêm sự khổ đau nữa khi tu theo đạo Phật. Bạn tu theo đạo Phật để bớt khổ đau, đúng không nhỉ? Đức Phật là người hạnh phúc.




Khi Phật ngồi, ngài ngồi một cách hạnh phúc. Khi ngài đi, ngài cũng đi một cách vui vẻ. Tại sao tôi lại muốn làm khác so với Đức Phật?

Có thể nhiều người đã lo sợ trước lời nói của kẻ khác, rằng "Anh/chị tu tập chưa nghiêm túc. Anh/chị cười cợt và vui vẻ quá mức. Khi tu tập anh chị phải nghiêm mặt, rất nghiêm túc".

Có lẽ chỉ những người muốn có thêm tiền công đức mới nói như thế, để tạo cảm giác rằng họ thực hiện việc tu hành nghiêm túc hơn so với kẻ khác.

Hãy lấy ví dụ về việc ngồi thiền suốt đêm. Bạn không được phép nghỉ ngơi và nghĩ rằng tu như thế mới là chăm chỉ. Nhưng bạn khổ sở cả đêm và phải uống cà phê chỉ để tỉnh táo. Thật vớ vẩn.

Chất lượng khi ngồi thiền mới là thứ giúp bạn biến đổi, chứ không phải ngồi thiền thật nhiều và khổ sở khi làm vậy. Ngồi thiền là hoạt động mang tới niềm vui và còn là cơ hội để ta có được tuệ quán. Tuệ quán có thể giải phóng chúng ta khỏi nỗi sợ, sự tức giận và tuyệt vọng.

Tôi thực sự rất thích việc hành thiền ngoài trời mà chúng ta thực hiện lần này.

- Thường thì theo truyền thống Phật giáo, bạn ngồi rồi đứng dậy và thực hiện việc đi bộ chậm rãi tại khu vực thiền, sau đó bạn lại ngồi xuống. Ở đây chúng tôi không làm thế. Thay vì vậy, chúng tôi thực hiện hành thiền ngoài trời. Việc này rất hữu ích vì bạn có thể áp dụng trong cuộc sống thường nhật.

Bạn đi bộ bình thường - không quá chậm - nên người khác không biết bạn đang hành thiền và tưởng như bạn đang thực hiện một hành động bình thường. Và rồi khi bạn đi về nhà, hoặc từ bãi đỗ xe tới văn phòng, bạn có thể làm điều đó một cách vui thích.

Nền tảng tập luyện cơ bản là làm sao để vui thích - làm sao để cảm thấy vui khi đi, khi ngồi thiền, ăn uống và tắm giặt. Hoàn toàn có thể khiến mọi người đều vui thích, nhưng xã hội của chúng ta được tổ chức theo cách thức ta không còn thời gian để vui thú nữa. Chúng ta phải làm mọi thứ quá nhanh.

Ông nghĩ rằng điều gì sẽ khiến ai đó trở thành tín đồ Phật giáo?

- Một người có thể không được gọi là tín đồ Phật giáo, nhưng anh ta vẫn có nhiều phẩm chất Phật giáo hơn cả một tín đồ. Phật giáo tạo thành từ niệm, định và tuệ. Nếu có những đặc điểm này, bạn đã là một người theo Phật giáo rồi. Nếu không thì không phải vậy.

Khi bạn nhìn vào một người và thấy người đó có niệm, định và tuệ thì bạn biết rằng đó là một người theo đạo Phật. Nhưng ngay cả khi đó là một ni cô và người này thiếu các năng lượng, phẩm chất kể trên thì khi đó cô ta chỉ có ngoại hình của một người theo đạo Phật chứ không có cái cốt cách của một người theo đạo Phật.

Liệu việc thường xuyên hành lễ có thể biến ai đó thành người theo đạo Phật?

- Không, bạn không thể thành người theo Phật giáo chỉ bằng việc hành lễ. Để làm vậy bạn phải chăm tu tập. Người theo đạo Phật hiện vướng vào khá nhiều nghi thức, lễ bái, nhưng Đức Phật không thích điều này.

Trong các đoạn kinh Phật, đặc biệt là những lời răn dạy của Đức Phật ngay sau khi ngài trở nên giác ngộ, ngài nói rằng chúng ta phải thoát khỏi các nghi lễ. Bạn không thể trở nên giác ngộ và giải thoát chỉ nhờ thực hiện lễ bái.

Nhưng người ta đã khiến đạo Phật đi tới chỗ có quá nhiều nghi lễ. Chúng ta đã cư xử không hay với Đức Phật.

Liệu người ta có phải tin vào sự tái sinh để trở thành một người theo đạo Phật?

- Tái sinh có nghĩa một linh hồn rời khỏi cơ thể bạn và đi vào thể xác khác. Đây là suy nghĩ rất phổ biến, nhưng lại rất sai lầm về sự nối tiếp trong Phật giáo. Nếu bạn nghĩ rằng có một linh hồn, một bản ngã, tồn tại trong một thể xác và linh hồn đó thoát ra ngoài khi thể xác không còn nữa và rồi biến thành một dạng sống khác, thì đó không phải là lối tư duy của Phật giáo.

Khi bạn nhìn vào ai đó, bạn sẽ thấy ngũ uẩn, hay các yếu tố tạo thành con người: Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Không có linh hồn, thể xác nào bên ngoài 5 yếu tố này.

Vì thế khi 5 yếu tố này tan rã, thì nhân quả hay các hành động mà bạn đã thực hiện trong cuộc sống chính là sự tiếp nối của bạn. Những gì bạn đã làm và suy nghĩ vẫn sẽ còn đó như một dạng năng lượng. Bạn không cần một linh hồn hoặc một thể xác, để tiếp nối.

Chuyện giống như một đám mây vậy. Ngay cả khi đám mây không có ở đó, trời vẫn tiếp tục mưa hay có tuyết. Đám mây không cần phải có một linh hồn để nối tiếp. Không có sự khởi đầu và cũng chẳng có kết thúc. Bạn không phải chờ cho tới khi thân xác này tan thành cát bụi mới có thể tiếp nối. Thực ra bạn đã tiếp nối trong từng khoảnh khắc.

Giả dụ như tôi đã truyền năng lượng tới hàng trăm người, họ sẽ tiếp nối tôi. Nếu nhìn vào họ và bạn thấy (hình bóng) tôi hiện ra thì thực sự bạn đang trông thấy tôi đó. Nếu bạn nghĩ rằng tôi chỉ là thể xác này (ngài chỉ tay vào mình) thì bạn vẫn chưa trông thấy tôi đâu.

Khi bạn thấy tôi trong các bài phát biểu, bạn hiểu rằng người khác đã tiếp nối cuộc sống của tôi. Khi bạn nhìn vào các học trò, các đệ tử, những cuốn sách và bạn bè tôi, bạn sẽ thấy sự tiếp nối của chính tôi.

Tôi sẽ không bao giờ chết. Thân xác này có thể tan thành cát bụi, nhưng điều đó không có nghĩa tôi đã chết. Tôi sẽ tiếp tục (sống mãi), luôn là như vậy.
Và điều này là đúng với tất cả chúng ta.

- Chúng ta có thể làm gì với mức độ chủ nghĩa vật chất rất cao đang tồn tại hiện nay?

- Bạn có thể thiết lập một môi trường nơi người ta sống đơn giản, hạnh phúc và mời những người khác tới quan sát. Đó là điều duy nhất có thể thuyết phục họ từ bỏ ý tưởng hạnh phúc dựa trên vật chất.

Họ luôn nghĩ rằng chỉ khi có rất nhiều thứ để tiêu thụ, người ta mới hạnh phúc. Nhưng rất nhiều người không hạnh phúc dù họ rất giàu có. Và rồi còn có những người tiêu thụ rất ít, song họ hạnh phúc hơn rất nhiều những người kia.

Chúng ta phải thể hiện được rằng sống đơn giản kết hợp với tu tập theo Phật pháp mang tới một cuộc sống rất đủ đầy, bởi người ta sẽ không thể tin tưởng cho tới khi họ tận mắt chứng kiến và trải nghiệm.

Tại Làng Mai, chúng tôi đã cười đùa vui vẻ suốt cả ngày, nhưng không một ai trong số chúng tôi có tài khoản ngân hàng thuộc sở hữu cá nhân. Không ai trong số chúng tôi có xe hơi hoặc điện thoại riêng. Chúng tôi chỉ ăn chay. Nhưng chúng tôi không khổ sở vì việc không ăn trứng, thịt.

Thực tế chúng tôi hạnh phúc hơn nhiều vì biết rằng mình không ăn các sinh vật sống và đang bảo vệ hành tinh này. Điều đó mang tới rất nhiều niềm vui. Chúng tôi rất may mắn khi có thể sống như vậy, có thể ăn như vậy.

Có một niềm tin rằng trừ phi anh có rất nhiều tiền, trừ phi anh nắm vị trí cao trong xã hội, anh sẽ không thể hạnh phúc. Rất khó để thoát khỏi niềm tin này cho tới khi bạn thấy sự thực rằng sự hạnh phúc có thể tới theo cách thức khác. Nhìn thấy điều đó sẽ đảm bảo tương lai cho con cháu chúng ta.

Vì thế tôi nghĩ tới các vòng tròn luân hồi trong Phật giáo, nơi chúng ta có thể tái tổ chức lại để cho mọi người thấy cách thức sống hạnh phúc dựa trên sự thấu hiểu lẫn nhau, không dựa trên chủ nghĩa vật chất.

Chỉ giảng Phật pháp vẫn chưa đủ, bởi giảng pháp vẫn chỉ là lời nói mà thôi. Chỉ khi người ta thấy những thứ như một cộng đồng phi vật chất, khi tận mắt chứng kiến một cách sống như thế, họ mới thực sự bị thuyết phục và tin tưởng.

 Nguồn: Email bạn bè gửi 






Description: https://plus.google.com/u/0/_/focus/photos/public/AIbEiAIAAABECLHWhs2Bw72LygEiC3ZjYXJkX3Bob3RvKig4ZmVmM2JiYTBhNTIzZmYzMmI3ZTM2Y2I2NjAwN2E5NjVkNmVmZDFkMAHSVDyrY97EAVDqKtjQs_Jucv7Cog?sz=24Description: https://plus.google.com/u/0/_/focus/photos/public/AIbEiAIAAABDCMG0rLqS2_bpISILdmNhcmRfcGhvdG8qKDcxZGNiOTgwNDFmNzllMjg3NmJjOTZiZTBkZmM3YzE1YTNjMDRlNDAwASCVUzSwTtKAc-4n7gPd65kp1N-s?sz=24
17 khác

Minh Pham Gia








Thứ Sáu, ngày 15 tháng 7 năm 2016

PCA - Formosa - Falun Gong & Hơn Thế Nữa



PCA  - Formosa - Falun Gong & Hơn Thế Nữa

Entry trước (post ngày 7/7) tôi có dẫn lời tác giả Nguyễn Quang Dy, rằng anh "viết thêm bài này về Formosa rồi nghỉ". 

Những tưởng lâu lâu nữa ngòi bút này mới trở lại, nhưng hôm nay anh đã lại gửi bài mới cho blog tôi. Bài dài tới gần 5.000 chữ nhưng đã vào đọc là đi một mạch liền, do vì các vấn đề tác giả đề cập đến đều rất hấp dẫn, đang rất hot trên dư luận...


Đó là các vấn đề như PCA (Tòa La Haye/The Hague ra phán quyết); rồi các câu chuyện khác như Formosa, Pháp Luân Công, và ‘Hơn Thế Nữa’ – như tác giả viết tại đề bài.


Có thể nói rằng tất cả các chuyện trên đều liên quan trực tiếp đến một cái tên: Trung Quốc. Dễ hiểu đây là một nước, một quốc gia đang gây cho dư luận không chỉ Việt Nam, ĐNÁ mà còn toàn thế giới sự quan tâm và chú ý tới rất nhiều, Bởi chưng những hành động và cư xử của đất nước rộng lớn, dân số đông đảo này đang trỗi dậy mạnh mẽ (thông thường là điều tốt với một quốc gia), nhưng với Trung Quốc thì họ lại đang gây lo âu chung cho cộng đồng quốc tế. Vì sao như vậy? Thì trong cách thức trình bày ở bài này, tác giả đã phần nào đáp ứng câu hỏi đặt ra đó...


Xin giới thiệu bài viết mới của tác giả Nguyễn Quang Dy.


Vệ Nhi g-th

-----

PCA  - Formosa - Falun Gong & Hơn Thế nữa


Nguyễn Quang Dy

Lúc này, chỉ có hai câu chuyện làm người ta quan tâm nhất là phán quyết của Tòa Trọng tài (PCA) và thảm họa môi trường do Formosa gây ra. Nó làm người ta tốn nhiều thời gian vì đọc không xuể thông tin (như lạc vào rừng rậm Amazon). Cả hai câu chuyện này đều liên quan đến Biển Đông và Trung Quốc. Còn câu chuyện thứ ba cũng liên quan đến Trung Quốc là tội ác diệt chủng đối với Pháp Luân Công (Falun Gong).




PCA & cái bẫy Biển Đông



Ngày 12/7 đã đến và trôi qua, nhưng dư chấn về phán quyết của PCA vẫn còn nóng hổi. Tuy phán quyết của PCA không có giá trị cưỡng chế đối với Trung Quốc, nhưng nó như một cái tát pháp lý và truyền thông làm Bắc Kinh đau điếng, mà không làm gì được. Bắc Kinh chỉ có thể bịt được miệng người dân trong nước bằng kiểm duyệt, nhưng không thể bịt được thông tin Internet và truyền thông trực tuyến. Tập Cận Bình đã mất bao công sức để củng cố và thao túng quyền lực tuyệt đối như một vị “hoàng đế đỏ” (không khác gì Mao), nhưng cái tát của PCA làm ông ta  mất mặt với quốc tế và quốc dân. Đó là “sự sỉ nhục quốc gia” (national humiliation) như Bill Hayton mô tả (National Interest, 12/7/2016).    

Phán quyết của PCA bác bỏ yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc vì “không có cơ sở pháp lý” và khẳng định Trung Quốc “không có chủ quyền lịch sử” tại với Biển Đông. Theo Bill Hayton, đoạn 270 trong Phán quyết nói rõ nhất, “Tòa Trọng tài không tìm thấy một dấu hiệu nào cho thấy trong lịch sử Trung Quốc đã quy định hay kiểm soát việc đánh cá ở Biển Đông…” Điều đó có nghĩa Việt Nam có thể kiện đòi lại những đảo tại Trường Sa và Hoàng Sa đã bị Trung Quốc dùng vũ lực cướp (như quyền hồi tố).


Tuy trước mắt, phán quyết của PCA bị một hạn chế lớn là không thay đổi được nguyên trạng do Trung Quốc áp đăt như “việc đã rồi”, nhưng đây là một bước ngoăt lịch sử có ý nghĩa chiến lược đối với tương lai Biển Đông. Nó làm thay đổi cơ bản quan hệ quốc tế của Trung Quốc không những đối với các nước láng giềng, mà còn đối với Mỹ và các cường quốc khác, để thực hiện quyền tự do lưu thông hàng hải. Phán quyết của PCA là cơ sở công pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp tại Biển Đông (không còn như trước nữa).


Lãnh đạo Trung Quốc thường hay nhắc người khác rằng “Trung Quốc là một nước lớn” (như sợ người khác không biết họ là nước lớn). Đó là một ám ảnh về tâm thức (inferiority complex) làm cho họ ngạo mạn và thích bắt nạt người khác, với một thái độ bề trên, nhưng lại lo mất thể diện. Phán quyết của PCA đã làm lãnh đạo Trung Quốc mất mặt, không những đối với quốc tế, mà còn đối với trong nước, dù họ ra sức bưng bít thông tin. Tập Cận Bình muốn người dân Trung Quốc thần phục ông ta như một vị “hoàng đế đỏ” đầy quyền uy hoặc “Xi Dada” đầy mị dân. Khi hoàng đế bị PCA làm mất mặt thì tất nhiên phải nổi giận lôi đình và tỏ ra cứng rắn để thị uy, không chỉ với quốc tế mà còn với quốc nội (quan trọng hơn).

Vì vậy, không ngạc nhiên khi Tập Cận Bình chỉ thị cho quân đội “sẵn sàng chiến đấu” và nâng mức báo động lên cấp 1 và cấp 2. Nhưng chiến đấu với ai? Có lẽ đây là một phản ứng tất nhiên theo chính sách “bên miệng hố chiến tranh” (brinkmanchip) và trò chơi “cờ vây” để hù dọa thiên hạ, và bắt nạt các nước láng giềng yếu hơn. Có lẽ Trung Quốc biết thừa rằng Mỹ tăng cường lực lượng tại Biển Đông và tiến hành tập trận chung để răn đe, nhưng Nhà Trắng không muốn đối đầu với Trung Quốc. Quân sự hóa và tập trận tại Biển Đông là một trò chơi của các nước lớn để thử gân nhau, và đối phó với các vấn đề nội bộ (là chính).  

Biển Đông là ván bài lớn của Tập Cận Bình, để củng cố quyền lực độc tôn (bên trong) và triển khai chiến lược “Một Vành đai, Một Con đường” đầy tham vọng (bên ngoài) nhằm thực hiện “Giấc mộng Trung hoa” của ông ta. Nhưng quan trọng hơn là Tập Cận Bình muốn dùng mục tiêu đối ngoại này để phục vụ mục tiêu đối nội, là duy trì nguyên trạng chế độ. Vì vậy, phải kích động chủ nghĩa dân tộc cực đoan của dân chúng (để “rửa mối hận lịch sử”) nhằm thuyết phục dân chúng ủng hộ ông ta, trước nguy cơ khủng hoảng kinh tế và chính trị. Ông ta thậm chí sẵn sàng bắt chước Mao, để thuyết phục dân chúng nghe theo. Tập trung Quyền lực tuyệt đối (và bằng mọi giá) là ưu tiên số một của Tập Cận Bình. Vì vậy, PCA làm bộc lộ lỗ hổng quyền lực của Tập Cận Bình, không như “hoàng đế” mong muốn. 

Biển Đông là cái bẫy và con dao hai lưỡi đối với Tập Cận Bình. Phán quyết của PCA đe dọa lật tẩy Tập Cận Bình, vì lâu nay ông ta nói dối người dân Trung Quốc là có chính nghĩa, được quốc tế ủng hộ. Tại sao Bắc Kinh phải nói dối là có 60 nước ủng hộ Trung Quốc, trong khi chỉ có 8 nước (chủ yếu là mấy nước nhỏ tận Châu Phi) lên tiếng ủng hộ? Tại sao Bắc Kinh lo ngại về phán quyết của PCA, mặc dù lớn tiếng tuyên bố bất chấp? Tuy Trung Quốc ráo riết xây đắp các đảo nhân tạo và quân sự hóa Biển Đông, công khai thách thức Mỹ, họ không muốn đối đầu với Mỹ (mà chỉ muốn ăn chia kiểu nước lớn). Chính sách “bên miệng hố chiến tranh” và trò chơi “cờ vây” để gậm dần Biển Đông bằng “lát cắt salami” theo “đường chín đoạn”, coi Biển Đông như cái ao riêng, đang bị Mỹ và PCA lật tẩy và ngăn chặn.      

Biển Đông như cái thùng không đáy khổng lồ để Trung Quốc phung phí tiền của xây “Vạn lý Trường thành trên cát”. Nếu ý đồ độc chiếm Biển Đông bằng “đường chín đoạn” thất bại, thì đây có thể là nơi chôn vùi “Giấc mộng Trung Hoa” của Tập Cận Bình. Biển Đông có thể làm trung Quốc kiệt quệ về tài chính. Riêng dàn khoan HD981 khi cắm tại Biển Đông phải chi mất hơn một triệu USD/ngày, trong hơn hai tháng (5-7/2014) đã mất gần 70 triệu USD. Việc bồi đắp và xây cất các công trình quân sự trên các đảo nhân tạo rất tốn kém. Việc duy trì hoạt động quân sự còn tốn kém hơn. Chạy đua vũ trang là một trò chơi tốn kém và nguy hiểm, nhất là khi kinh tế suy thoái và dự trữ ngoại tệ bị chảy ra ngoài với tốc độ hơn 1.000 tỷ USD mỗi năm. Một trong những lý do làm Liên Xô sụp đổ là vì chạy đua vũ trang với Mỹ. 

Trung Quốc ráo riết phân hóa ASEAN (chia để trị), bằng củ cà rốt (dùng tiền để mua chuộc) và cái gậy (dùng sức mạnh để bắt nạt và ức hiếp), nên đã dồn Việt Nam vào ngõ cụt, buộc phải xích lại gần Mỹ để thoát hiểm. Thái độ nước lớn đầy ngạo mạn của Trung Quốc cũng phản tác dụng đối với một số nước ASEAN khác (như Miến Điện, Indonesia, Singapore và Malaysia, v.v). Tuy ASEAN bị phân hóa, nhưng Trung Quốc cũng bị cô lập. Phán quyết của PCA tuy không có giá trị cưỡng chế, nhưng có giá trị phân hóa thái độ các nước đối với Trung Quốc (kể cả các nước trong khối NATO) làm Trung quốc càng bị cô lập và mất mặt




Một mặt trận bao vây và kiềm chế Trung quốc trong khuôn khổ một cơ chế an ninh tập thể mới đang hình thành tại Biển Đông và Tây Thái Bình Dương, với vai trò đứng đầu là Mỹ và Nhật, để đối trọng lại với thách thức của Trung Quốc, theo hướng “xoay trục” (hay “tái cân bằng”). Cuộc tập trận chung gần đây gồm ba cường quốc Mỹ-Nhật Bản-Ấn Độ (“Tam cường”) là một bước tiến theo hướng đó. Nếu Úc quyết định tham gia tập trận chung trong khuôn khổ an ninh tập thể mới này, thì cơ chế an ninh đó sẽ trở thành “Tứ Cường”.  

Dù có thái độ cứng rắn và hung hăng đến đâu, khó có khả năng Trung quốc sẽ liều lĩnh gây ra sự cố để làm hỏng hội nghị thượng đỉnh G-20 sẽ được tổ chức tại Trung Quốc vào tháng 9/2016. Nhưng trong tương lai gần, cũng khó có khả năng Trung Quốc sẽ điều chỉnh chính sách mềm mỏng hơn theo hướng chấp nhận những tiêu chí của luật quốc tế. Theo Bill Hayton, Trung Quốc như một chiếc tàu chở dầu khổng lồ chạy chậm, không dễ đổi hướng, nhưng có dấu hiệu mũi tầu đang quay dần về phía luật quốc tế. Trong khi chờ đợi, các nước không nên có hành động khiêu khích hoặc sỉ nhục Trung Quốc. Đô đốc Dennis Blair (nguyên Tư lệnh Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương) cũng cho rằng có những phe phái trong nội bộ Trung Quốc không muốn hung hăng và có dấu hiệu muốn hòa hoãn, tuy vẫn phải tuyên bố cứng rắn. 


Formosa & hệ quả không định trước



Nếu sự kiện Trung Quốc đưa dàn khoan HD981 vào hải phận Việt Nam tại Biển Đông là cú sốc đối với Hà Nội và là bước ngoặt lớn thứ nhất đối với Quan hệ Trung-Việt, xô đẩy Việt Nam xích lại gần Mỹ, thì sự kiện Formosa (và bàn tay nhà thầu Trung Quốc phía sau) gây ra thảm họa môi trường tại Vũng Áng và các tỉnh miền Trung là bước ngoặt lớn thứ hai, buộc người Việt Nam phải “thoát Trung” (như một hệ quả không định trước).

Hầu hết các nhà khoa học và giới nghiên cứu (trong và ngoài nước) đều cho rằng dự án Formosa “lợi bất cập hại”, và là một “tử huyệt” của Việt Nam. Nó không những gây ra một thảm họa môi trường lớn, mà còn có thể gây ra một thảm họa lớn về an ninh quốc phòng. Nó đang làm cho kinh tế suy thoái nhanh hơn, và làm cho chính trị phân hóa mạnh hơn, trong khi lỗ hổng về an ninh và quốc phòng ngày càng lớn và nguy hiểm hơn.  

Nếu nhìn lại, Formosa có mấy đặc điểm nổi bật:  

Thứ nhất, dự án Formosa tại Vũng Áng bao gồm nhà máy thép (China Steel là chính) và cảng Sơn Dương (chưa biết ai là chính!) có ý nghĩa không chỉ về kinh tế mà cả về chiến lược. Phải chăng vì “nhạy cảm” nên ít người nói đến ý nghĩa chiến lược của Sơn Dương và Đèo Ngang trong “dự án kép” này. Chẳng lẽ các tướng lĩnh và chuyên gia quân sự lại phớt lờ, trong khi quan hệ Viêt-Trung đầy bất ổn và Biển Đông như thùng thuốc súng? Vì vậy, không ngạc nhiên khi Đại tướng Đỗ Bá Tỵ (nguyên tổng tham mưu trưởng, nay là phó chủ tịch Quốc hội) phát biểu tại Quốc hội (11/7/2016), “vụ việc Formosa còn là vấn đề tiềm ẩn lâu dài…không chỉ đơn giản về kinh tế mà còn gắn với quốc phòng an ninh…”

Thứ hai, dự án Formosa tại Vũng Áng có hai ông chủ lớn liên kết chặt chẽ để chống lưng cho nhau (như “cặp bài trùng”) là Formosa và MCC (tổng thầu Trung Quốc) là tập đoàn nhà nước có thế lực mạnh, được Đảng & Chính phủ TQ chống lưng (và chỉ đạo?);

Thứ ba, Formosa là tập đoàn Đài Loan có lý lịch bất hảo, đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại nhiều nơi (Đài Loan, Campuchia, và Mỹ…) nên đã được một tổ chức quốc tế tặng giải “hành tinh đen”. Trong khi Formosa bị người Đài Loan và một số nước khác tẩy chay, thì một số người Việt Nam lại ưu ái rước về (một cách bất minh).  





Thứ tư, không có ai ngu xuẩn đầu tư quá lớn (10 triệu USD cho giai đoạn đầu) vào một dự án thép khủng (7,5 triệu tấn thép/năm cho giai đoạn đầu) đúng lúc thị trường thép suy thoái (giá đã giảm 200%), nếu họ không đánh đổi lại bằng những lợi ích khác to lớn hơn để bù lại (như ưu đãi về giá đất, thuế và thời gian thuê (70 năm), về cơ hội giảm chi phí bằng công nghệ thấp và hệ thống xử lý chất thải dưới chuẩn, và những lợi ích chiến lược “khó nói”!

Thứ năm, có lẽ vì thế mà Formosa đã được một số lãnh đạo Việt Nam (đặc biệt là tỉnh Hà Tĩnh) chống lưng và “bảo kê” như lợi ích nhóm (hoặc thế giới ngầm). Thế lực này rất mạnh, nên những ý kiến phản biện của các nhà khoa học và quan chức có hiểu biết đều bị vô hiệu hóa (giống như trường hợp hai dự án khai thác Bô-xít tại Tây Nguyên).

Phải làm rõ nguyên nhân và bối cảnh như trên, thì mới có thể lý giải và hiểu được tại sao lại xảy ra thảm họa môi trường (và khủng hoảng xã hội) như vừa qua. Tại sao phải mất gần ba tháng Chính phủ Việt Nam mới “điều tra” xong và công bố nguyên nhân và thủ phạm (mà ai cũng đã biết), và chủ đầu tư (Formosa) mới chịu thú nhận, nhưng lại đổ lỗi cho nhà thầu, với lý do bị mất điện 5 ngày (đến trẻ con cũng khó chấp nhận được). Nhưng dù sao, trong bối cảnh “nhạy cảm”, đó là một cố gắng lớn của Chính phủ Việt Nam.

So với tội ác hủy diệt người dân Trung Quốc theo Pháp Luân Công thì tội ác hủy diệt môi trường sống của ngư dân Việt Nam cũng đều là diệt chủng. Liệu Formosa hoặc nhà thầu vô tình hay cố ý? Có nhiều lý do để các nhà khoa học nghi ngờ. Nhà máy thép Formosa Vũng Áng mới “vận hành chạy thử” (commissionning) thì tại sao lại có quá nhiều dung dịch Cynide và Phenol như vậy? Liệu có khả năng sau mấy vụ nổ lớn ở Thiên Tân (năm 2015), Trung Quốc đã thuê Formosa tìm cách tiêu hủy dùm những hóa chất độc của các nhà máy hóa chất Trung Quốc, và Formosa đã đưa nó sang Vũng Áng để xả ra biển? Sự cố mất điện 5 ngày tại bộ phận xử lý chất thải là một điều vô lý đáng ngờ. Phải chăng ciệc này có “lợi ích kép” là vừa tẩu tán được một số hóa chất độc hại cho Trung Quốc, vừa hủy diệt môi trường biển để ngư dân Việt Nam hết đường sinh sống, buộc phải bỏ ngỏ Biển Đông cho Trung Quốc.

Ông Hà Ngọc Chiến (chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc của Quốc hội) nhận xét, “Đây là dự án đầu tư nước ngoài được phê duyệt rất nhanh, đánh giá tác động môi trường cũng được phê duyệt rất nhanh…Sau khi nhà đầu tư được cấp phép thì các yêu sách cũng được đáp ứng rất nhanh và cuối cùng hậu quả thảm họa cũng đến rất nhanh…”. Theo ông Chiến, “Formosa Hà Tĩnh là con ngựa thành Troy của Trung Quốc, được phép hoạt động siêu tốc…nên con ngựa Formosa mới thản nhiên thải ra các thứ hóa chất siêu độc…”

Tiếp theo thảm họa môi trường biển tại Vũng Áng và 4 tỉnh miền Trung, là một loạt sự cố môi trường bí ẩn làm cá chết hàng loạt tại nhiều sông hồ ở Việt Nam như sông Bưởi và Lạch Bang (Thanh Hóa), sông La Ngà (Đồng Nai), sông Hinh (Phú Yên), sông Thương (Bắc Giang), đảo Phú Quý (Bình thuận), kênh Nhiêu Lộc (Sài Gòn), hồ Hoàng Cầu (Hà Nội). Đây là một hiện tượng khác thường do con người gây ra chứ không phải do thiên nhiên. Trong khi sông MeKong bị bức tử bởi các đập thủy điện của TQ trên thượng nguồn, gây ra hạn hán tại đồng bằng Nam Bộ, thì người ta còn định làm các dự án thủy điện trên sông Hồng (mà chắc các nhà thầu TQ sẽ nhảy vào), có thể gây ra thảm họa môi trường tại Bắc Bộ.

Trong bối cảnh đó, việc khắc phục thảm họa môi trường do Formosa Hà Tĩnh gây ra hầu như là vô vọng, vì những lý do mà chắc ai cũng biết:   

Thứ nhất, Chính phủ Việt Nam thỏa thuận nhận 500 ngàn USD của Formosa để “phạt cho tồn tại” với lý do “khoan hồng” và “đánh kẻ chạy đi chứ không đánh kẻ chạy lại”, vì Formosa đã hứa “bằng cả trái tim”.  Không phải Chính phủ Việt Nam dễ tin lời họ (vì cả hai đều có lý do nói dối) mà chẳng qua đây là một chiến thuật quen thuộc để hai bên hợp thức hóa nguyên nhân gây ra thảm họa môi trường, để cùng trục lợi. Có người nói Viêt Nam là “cổ đông không góp vốn”. Phải chăng Chính phủ VN đã chấp nhận “chọn thép bỏ cá” (từ bỏ chủ quyền), nên bây giờ “há miệng mắc quai”, cho nên “đâm lao phải theo lao”?

Thứ hai, dự án Formosa tại Vũng Áng có 15 nhà thầu Trung Quốc, với hơn 4.000 công nhân Trung Quốc mà  đa số “làm chui”, không đăng ký, không biết nguồn gốc, chính quyền và “cơ quan chức năng” bất lực nên lờ đi vì không quản lý nổi. Thật trớ trêu là trước đây (1979-1980), Việt Nam đã có chủ trương cực đoan là trục xuất tất cả Hoa Kiều (gọi là “nạn kiều”) vì lý do an ninh (sợ “đội quân thứ năm”). Mao đã từng nói với Lê Duẩn là ông ta sẽ chỉ huy 50 triệu bần nông Trung Quốc tiến xuống Đông Nam Á. Nay họ làm thật.  

Thứ ba, trong phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội (11/7/2016) Bộ trưởng TN-MT Trần Hồng Hà thừa nhận việc xả thải chất độc ra biển của Formosa là do các nhà thầu Trung Quốc, “việc chuyển giao công nghệ, lắp ghép thiết bị và vận hành hệ thống xử lý nước thải hầu hầu hết đều là nhà thầu của Trung quốc”. Trong khi cả nhà máy có điện, chỉ có hệ thống kiểm soát và thanh lọc những hóa chất độc hại trong nước thải là mất điện. Rõ ràng việc xả thải hóa chất độc hại ra biển là có chủ ý. Một dự án thép đầu tư hơn 10 tỷ USD mà giải thích bộ phận thanh lọc hóa chất độc hại bị mất điện trong “một số ngày” là điều vô lý. Một nhà khoa học môi trường (tiến sỹ Tô Văn Trường) nói, “Tôi vẫn thiên về nguyên nhân thủ phạm là do Formosa cố ý (đặc biệt là lỗi nhà thầu phụ Trung Quốc) chứ không phải là sự cố. Đừng quên Formosa đã bị tai tiếng rất nhiều vì tội hủy hoại môi trường…”

Ông Hà Ngọc Chiến cũng khẳng định, “Formosa do Trung Quốc điều hành là chính. Cần làm rõ các nguyên nhân chủ quan của chúng ta để có giải pháp khắc phục”. Nhưng làm rõ như thế nào, và khắc phục như thế nào, nếu đây là một “liên minh ma quỷ” giữa chủ đầu tư (Đài Loan) với nhà thầu chính (Trung Quốc) và các nhà thầu phụ (Trung quốc/Việt Nam) được các quan tham địa phương (Hà Tĩnh) bảo kê, trên cơ sở lợi ích bất minh.

Như để minh họa, chiều 11/7/2016, một đoàn kiểm tra liên nghành (gồm phòng Cảnh sát Điều tra Tội phạm Môi trường, thanh tra Sở TN-MT, Trung tâm Quan trắc & Kỹ thuật Môi trường, Công an Thị xã Kỳ Anh) đã bắt quả tang một đoàn xe tải của Formosa chở chất thải công nghiệp đến chôn lấp trộm tại một trang trại bí ẩn của giám đốc Công ty Môi trường tại Kỳ Anh (ông Lê Quang Hà), tại đầu nguồn sông Trí, gần một đập tràn cung cấp nước sinh hoạt cho hàng ngàn hộ dân địa phương. Hàng ngàn M3 rác thải công nghiệp đã chôn tại đây. Một cán bộ công tác tại Formosa Hà Tĩnh thừa nhận, “đây là chất thải kim loại nặng, được lắng đọng sau quá trình xử lý nước thải…”. Chắc đây không phải lần đầu hay lần cuối.   

Như vậy thì làm sao người dân Việt Nam có thể tin được lời hứa (với cả trái tim) của ông chủ tịch Formosa trước Chính phủ và nhân dân Việt Nam? Đó là trái tim gì?  Làm sao người dân có thể làm theo lời khuyên của ông Bộ trưởng TN-MT Trần Hồng Hà là phải khoan hồng Formosa, “đánh kẻ chạy đi chứ không đánh kẻ chạy lại”! 


Bóng ma Pháp Luân Công 


Ba thập kỷ qua, Trung Quốc đã trỗi dậy mạnh mẽ thành một cường quốc kinh tế đứng thứ hai thế giới, có ngân sách quân sự chỉ đứng sau Mỹ. Nhưng việc đàn áp tàn bạo Pháp Luân Công, làm gần hai triệu người Trung Quốc chết oan, và chủ trương mổ lấy nội tạng của họ đã trở thành một “tử huyệt” của chế độ. Trong khi vẫn chưa thoát khỏi bóng ma Cách mạng Văn hóa, thì bóng ma Pháp Luân Công đang nổi lên đòi nợ máu.  



Ngày 20/6/2016, Tổ chức Thế giới Điều tra cuộc Đàn áp Pháp Luân Công (WOIPFG) đã công bố kết luận điều tra. Theo báo cáo của WOIPFG, ngày 20/7/1999, Giang Trạch Dân đã ra lệnh cho các lực lượng an ninh của chế độ “nhổ tận rễ” môn tu luyện Pháp Luân Công bằng cách “bôi nhọ thanh danh, vắt kiệt tài chính, và hủy hoại thân thể”.  Đảng Cộng sản Trung Quốc dưới sự chỉ đạo của cựu Tổng Bí thư Giang Trạch Dân đã giết trên 2 triệu học viên Pháp Luân Công để mổ sống lấy nội tạng. Ngày 24/6/2016, phát ngôn viên của WOIPFG là Uông Chí Viễn cho biết  Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị là Trương Cao Lệ đã xác nhận con số bị giết nói trên là hoàn toàn đáng tin. Theo WOIPFG, Trương Cao Lệ không phủ nhận mà còn nói, “Phải ngăn cản truy cứu việc này trong cuộc họp Bộ Chính trị…” 
Theo một báo cáo của ba nhà nghiên cứu David Kilgour (cựu quốc vụ khanh và nghĩ sỹ quốc hội Canada), David Matas (luật sư nhân quyền Canada), và Ethan Gutmann (nhà văn Mỹ) đã được cập nhật và công bố (ngày 23/6/2016) với nhan đề “Cập nhật vụ Tàn sát và Thu hoạch Đẫm máu” (An Update to Bloody Harvest and the Slaughter), hơn 1,5 triệu người đã bị chế độ Trung Quốc giết để “thu hoạch” lấy nội tạng một cách hệ thống suốt 15 năm qua, trong đó hầu hết là những người theo Pháp Luân Công bị bắt giam.  
Ngày 16/3/2016, Hạ Viện Mỹ đã thông qua “Nghị quyết 343” bày tỏ lo ngại về những báo cáo đáng tin cậy cho rằng nhà nước Trung Quốc đã bảo kê việc “thu hoạch” cưỡng bức lấy nội tạng  những tù nhân lương tâm người Trung Quốc mà hầu hết là những học viên Pháp Luân Công và những nhóm thiểu số hay tôn giáo. Tội ác này đã được triển khai một cách âm thầm từ năm 2000 tại hàng trăm bệnh viện và các cơ sở cấy ghép của Trung quốc. Các bác sỹ trong cuộc cho biết nguồn cung cấp nội tạng là một “bí mật quốc gia”.  
Kẻ cầm đầu chủ mưu đàn áp Pháp Luân Công một cách “cực kỳ ghê tởm” như tội ác diệt chủng của phát xít Đức là cựu Tổng Bí thư Giang Trạch Dân. Những kẻ khác cùng phe với Giang Trạch Dân đã đi đầu thực hiện chủ trương này là Bạc Hy Lai (cựu Bí thư Trùng Khánh) và Chu Vĩnh Khang (trưởng ban Chính pháp). Theo cựu nhà báo Trung Quốc Khương Duy Bình, thì Giang Trạch Dân đã nói với Bạc Hy Lai, “anh phải cho thấy sự bền bỉ của mình trong việc xử lý Pháp Luân Công…nó sẽ là tương lai chính trị của anh”. Một kẻ đầu sỏ khác cũng bị “ngã ngựa” cùng với Bạc Hy Lai và Chu Vính Khang là Lý Đông Sinh (cựu Bộ trưởng Công an) là người phụ trách “Phòng 610” một tổ chức bí ẩn được thành lập ngày 10/6/1999 (ngoài vòng pháp luật) để giám sát việc bức hại các học viên Pháp Luân Công.
Nay lý do lớn nhất để Tập Cận Bình hạ bệ Giang Trạch Dân là tội ác kinh khủng đối với học viên Pháp Luân Công. Nhưng nếu truy cứu đến cùng thì vấn đề Pháp Luân Công trở thành con dao hai lưỡi như một tử huyệt đối với chế độ. Sau khi đã xử lý những con hổ dữ như Bạc Hy Lai và Chu Vĩnh Khang (đã liên kết với Giang trạch Đân định lật đổ Tập Cận Bình, nhưng bị bại lộ do Vương Lập Quân chạy vào Tổng Lãnh sự Quán Mỹ) nên Tập Cận Bình không thể không xử lý siêu hổ Giang Trạch Dân (có tin đã bị bắt ngày 10/6/2016).  
Trong số 712 bệnh viện hàng đầu được xác định là trung tâm mổ ghép nội tạng, thì bệnh viện Trung tâm Số 1 Thiên Tân là một điển hình. Năm 2006, họ đã xây dựng thêm một tòa nhà 17 tầng với 500 giường dành riêng cho bệnh nhân ghép nội tạng. Trong mấy năm qua, nhiều người tưởng rằng quy mô “thu hoạch” nội tạng của học viên Pháp Luân Công đã giảm đi đáng kể, nhưng các tác giả của các báo cáo điều tra nói trên phát hiện thấy không phải như vậy. Gutmann nhận xét, “chúng ta đang nhìn thấy một bánh đà khổng lồ mà họ dường như không thể dừng được. Tôi không tin đằng sau đó chỉ là vấn đề lợi nhuận, mà còn là vấn đề ý thức hệ, giết người hàng loạt để che đậy một tội ác khủng khiếp mà cách duy nhất để che đậy là tiếp tục sát hại những người biết về nó”. Nói cách khác là “giết người diệt khẩu”.


Lời cuối: Gã khổng lồ có nhiều tử huyệt 


Sự hưng thịnh và suy tàn của một quốc gia có quy luật và thường khó tránh. Trung Quốc cũng vậy, nhưng có đặc thù riêng. Sau giải phóng (1949) chủ trương “Đại Nhảy vọt” và “Cách mạng Văn hóa” đã đẩy Trung quốc xuống vực thẳm, với mấy chục triệu người chết oan. Đó là một thảm họa do hệ quả của chủ nghĩa Mao cực đoan. Nhưng điều đáng lo là chủ nghĩa Mao vẫn chưa chết, và bóng ma Cách mạng Văn hóa vẫn còn sống.

Cuộc đàn áp đẫm máu tại Quảng trường Thiên An Môn để trấn áp phong trào đòi cải cách và dân chủ đã để lại một vết đen trong lịch sử Trung Quốc, đến nay vẫn chưa được bạch hóa và giải oan. Những nạn nhân của Thiên An Môn gồm hàng vạn sinh viên và người dân Trung Quốc, cùng với các nhân vật chủ trương cải cách như Hồ Diệu Bang và triệu Tử Dương. Oan hồn của Thiên An Môn cùng với oan hồn của Pháp Luân Công đang đòi nợ máu, tạo thành một tử huyệt của chế độ. Giải oan cũng chết mà không giải oan cũng chết.

Trung Quốc là gã khổng lồ có nhiều tử huyệt. Sau ba thập kỷ trỗi dậy thành công về kinh tế một cách ngoạn mục, Trung quốc đang có dấu hiệu suy tàn, có thể dẫn đến khủng hoảng cả kinh tế lẫn chính trị. Những bất ổn như đồng tiền mất giá và chứng khoán lao dốc, xuất khẩu đình đốn và suy thoái kinh tế, nguy cơ bong bóng bất động sản và nợ công chồng chất, dòng người và dòng tiền tiếp tục chạy ra nước ngoài, trong khi chiến dịch “Đả hổ diệt ruồi” làm phân hóa sâu sắc nội bộ. Thay đổi cũng chết, mà không thay đổi cũng chết.   


NQD. 14/7/2016