Loading...

Thứ Năm, 15 tháng 6, 2017

Thách thức có tên Tập Cận Bình

Thách thức có tên Tập Cận Bình


Liệt kê ra có 4 thách thức lớn, gay gắt và quyết liệt đã và đang gây áp lực lên ông Tập Cận Bình, một cây bút từng làm báo Đảng ở Trung Quốc đã có những tiên liệu: "Mặc dù ông Tập Cận Bình nắm nhiều quyền lực trong tay, nhưng vẫn chưa đủ mạnh để có thể hoàn toàn yên tâm, việc cần làm ngay của ông Tập là sắp xếp lại toàn bộ người của mình tại Đại hội 19 này, để trải đường cho tương lai, tránh việc bị phản công. Nếu phe ông Tập muốn được hoàn toàn nắm quyền và không bị thanh trừ, thì sẽ có một cuộc đọ sức rất lớn giữa hai phe Giang và Tập. Kết quả như thế nào phải đợi đến Đại hội 19 mới có thể biết rõ".

Chính trường Trung Quốc những năm vừa qua và tới đây là mốc Đại hội Đảng CSTQ lần thứ 19 còn ngổn ngang những vấn đề rất lớn, rất cơ bản. Nổi bật lên là thách thức quyền lực của người đứng đầu TQ hiện nay.

"Cờ ngoài bài trong", câu thành ngữ cứ ngỡ rằng người ngoài như chúng ta viết và bình về Trung Quốc tưởng đúng có khi hóa sai, tưởng phải hóa ra lại trái. Bởi tại đất nước Trung Hoa rất rộng lớn, lại có quá nhiều nghịch lý, nhiều cái kiểu "nói vậy mà không phải vậy"...

Nhưng những nhận định trên đây, cả bài viết mà chúng ta sẽ đọc dưới đây, sẽ cho chúng ta một bức tranh tổng thể khá sắc nét. Một bài viết từ chính người đã ở trong cuộc, người giữ vị trí khá cao cấp trong bộ máy chính trị tư tưởng của nước Trung Quốc như ông Đặng Duật Văn.

Và hơn nữa tờ báo The New York Times chẳng bao giờ là tờ báo đăng những bài viết ít lượng thông tin và vào loại "vô bổ" đâu!

Xin giới thiệu và mời bà con đọc tham khảo.

Vệ Nhi

-------


4 thách thức lớn của ông Tập Cận Bình

Học giả nổi tiếng đến từ Trung Quốc Đại Lục, từng là Phó tổng biên tập của Thời báo Học Tập thuộc trường Đảng – ông Đặng Duật Văn đã có bài viết đăng trên “The New York Times”, trong đó cho rằng làn sóng ngầm tại Đại hội 19 đang dần hiện rõ, ông Tập Cận Bình đang đối diện với 4 thách thức lớn.


Trong bài viết của mình trên tờ “The New York Times”, ông Đặng Duật Văn có đề cập đến 4 thách thức lớn của ông Tập Cận Bình như sau:

1. Thách thức thứ nhất liên quan đến sắp xếp nhân sự của Đại hội 19

Liên quan đến việc này, các phe phái trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) sẽ có một cuộc tranh giành không khoan nhượng. Việc sắp xếp nhân sự lần này sẽ cho thấy ông Tập Cận Bình là người có quyền uy thật sự hay không.

tap-can-binhBài viết cho rằng có 3 nhân tố có thể ảnh hưởng lớn tới sắp xếp nhân sự của Đại hội 19. Thứ nhất, vấn đề chống tham nhũng của ông Tập Cận Bình có khả năng đã làm xáo trộn bố cục nhân sự. Trong một thể chế mà dường người nào cũng bị nghi ngờ là tham nhũng, các phe phái tất nhiên sẽ mượn cớ chống tham nhũng để kéo đối thủ xuống. Trong vài tháng tới, nếu có quan chức cấp cao nào bị vướng vào tội tham nhũng thì cũng không có gì là lạ. Thứ Hai là việc ông Vương Kỳ Sơn có tiếp tục ở lại hay không sẽ ảnh hưởng tới sắp xếp nhân sự tại Bộ Chính trị và Ban Thường ủy. Nếu lúc đó ông Vương (đã 69 tuổi) vẫn ở lại, sẽ phá vỡ quy định hạn chế tuổi tác của Ban Thường vụ trước đây. Nhân tố thứ 3 là việc ông Hồ Xuân Hoa và ông Tôn Chính Tài có thể vào Ban thường vụ hay không. Ông Hồ Xuân Hoa và ông Tôn Chính Tài đều được coi là hàng ngũ lãnh đạo thứ 5 sau ông Tập Cận Bình. Nếu hai người này vào Ban Thường vụ, thì rất có thể liên quan tới quyền lực của ông Tập Cận Bình ở một mức độ nào đó.

 

2. Thách thức ở phương diện tư tưởng chỉ đạo hoặc hình thái ý thức

Bài viết cho rằng, trong nhiệm kỳ của mình, ông Tập Cận Bình sẽ đem tư tưởng của chính mình biến thành tư tưởng chỉ đạo, phản ánh được sự gia tăng quyền uy chưa từng có. Tuy nhiên, ý thức hình thái chính là một yếu điểm của ĐCSTQ, hiện nay nó không có sức thuyết phục mạnh mẽ. Nếu tư tưởng chỉ đạo của chính quyền hiện nay không thể khiến quân dân lấy làm gương và hướng về một số giá trị phổ quát của thế giới, vẫn kiên trì theo đuổi quan điểm chính trị cứng nhắc, thì rất khó để nhân dân có cùng nhìn nhận và xã hội sẽ tiếp tục bị chia rẽ.

 

3. Thách thức về cải cách toàn diện

Đại hội 19 có thể khởi động lại cải cách hay không là vấn đề quan trọng. Cải cách ở đây không chỉ đơn giản là cải cách kinh tế, mà còn là cải cách toàn diện bao gồm cải cách xã hội, cải cách tư pháp, cải cách hành chính và cải cách chính trị. Nếu chỉ đơn thuần là cải cách kinh tế thì sẽ khập khiễng và không thể đẩy mạnh được.

Tại Hội nghị toàn thể lần thứ 3 của Ủy ban Trung ương nhiệm kỳ 18 đã đề xuất kế hoạch cải cách toàn diện nhưng đa số đều không được thực thi, chẳng hạn như cải cách doanh nghiệp vốn nhà nước. Cải cách bị ngăn cản bởi nhóm lợi ích, đây là nguyên nhân quan trọng làm kế hoạch cải cách không thể triển khai được.

Bài viết còn cho rằng, càng kéo dài thời gian cải cách về sau, thì sự ủng hộ của quần chúng càng ít, áp lực đến từ cách mạng càng lớn. Hơn nữa, xã hội Trung Quốc, nhất là tầng thấp từ lâu đã thất vọng với cải cách, hiện giờ họ không tin rằng Đảng sẽ thực hiện cải cách có lợi cho họ nữa.

 

4. Thách thức tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế và cải cách có liên quan tới nhau, vài năm trở lại đây, kinh tế Trung Quốc xuống dốc là do cải cách không đến nơi đến chốn hoặc do cải cách bị đình trệ.

ĐCSTQ lo sợ cải cách chính trị sẽ dẫn đến bùng phát người dân đòi dân chủ hóa, do đó họ cố gắng dùng cải cách kinh tế để thay thế cho cải cách chính trị. Tuy nhiên, không có sự tham gia chính trị của người dân và tư pháp độc lập thì quyền lực sẽ không thể kiềm chế được, cải cách kinh tế sẽ không thể có đột phá.

Làm thế nào để cân bằng và lựa chọn trong khi kinh tế tăng trưởng với tốc độ thấp làm cho sự bất mãn của người dân tăng cao, và cải cách toàn diện có thể làm người dân đòi dân chủ hóa. Đây là thách thức lớn của Đại hội 19.

Bài báo còn cho biết, 4 vấn đề lớn ở trên không chỉ giới hạn trong Đại hội 19, mà ít nhất vẫn còn tồn tại trong 5 năm từ sau Đại hội 19. Nếu Chính phủ Trung Quốc vẫn chọn giữ thái độ cứng nhắc lỗi thời, sau đó sẽ xuất hiện những gì thì rất khó dự đoán được.

Đài Phát thanh Pháp RFI đưa tin, một số người hiểu rất rõ quan trường của ĐCSTQ cho rằng, từ khi ông Tập Cận Bình nắm quyền tại Đại hội 18, các nhân vật thuộc phe cánh của cựu lãnh đạo Giang Trạch Dân bị áp chế mạnh mẽ, dù là “bang Thượng Hải” hay là người được ông Giang Trạch Dân đề bạt như ông Chu Vĩnh Khang, Quách Bá Hùng, Từ Tài Hậu cũng vậy, đều bị “ngã ngựa” hết. Nhưng một số người trong quân đội và hệ thống chính trị pháp luật vẫn chưa bị thanh trừ xong. Mặc dù ông Tập Cận Bình nắm nhiều quyền lực trong tay, nhưng vẫn chưa đủ mạnh để có thể hoàn toàn yên tâm, việc cần làm ngay của ông Tập là sắp xếp lại toàn bộ người của mình tại Đại hội 19 này, để trải đường cho tương lai, tránh việc bị phản công.

Nếu phe ông Tập muốn được hoàn toàn nắm quyền và không bị thanh trừ, thì sẽ có một cuộc đọ sức rất lớn giữa hai phe Giang và Tập. Kết quả như thế nào phải đợi đến Đại hội 19 mới có thể biết rõ.
Liên quan đến việc ông Vương Kỳ Sơn có ở lại Ban Thường vụ hay không, vẫn luôn có những phân tích trái chiều. Gần đây tỷ phú trốn sang Mỹ là ông Quách Văn Quý đã đưa hàng loạt những thông tin không tốt về ông Vương Kỳ Sơn trên mạng xã hội. Theo phân tích, mục đích là ngăn cản người bạn đồng minh này của ông Tập Cận Bình ở lại Ban Thường vụ. Tuy nhiên đến giờ vẫn chưa thể biết rõ được hướng đi cuối cùng của ông Vương Kỳ Sơn.

Trí Đạt




Chủ Nhật, 11 tháng 6, 2017

Lobby


Lobby

Mình đang ở Sài Gòn thì nhận được bài mới Nguyễn Quang Dy gửi. 

Đề tài thú vị vì hồi trước Việt Nam ai đưa ra chuyện này thì bị lãnh đạo gạt đi, cho là trò tư bản, là trò Mỹ nó lắm tiền nhiều của bày vẽ. 

Nhưng rồi trong quá trình tham gia vào các tổ chức quốc tế, nhất là quá trình hội nhập, càng thấy rõ ràng là không dùng đến "mẹo" này thì cũng bị hỏng việc do thiếu người (hay là các nước thành viên) ủng hộ nước mình trong một việc cụ thể nào đó. 

Ngành ngoại giao, đối ngoại nói chung va chạm nhiều nhất với các kỹ năng và thực hành này trong các mối quan hệ quốc tế. Vì thế bài viết của tác giả Nguyễn Quang Dy có tính mới mẻ và tính thời sự, thời cuộc, giúp cho nhóm độc giả yêu thích những công việc liên quan đến đối ngoại, ngoại giao và hội nhập hiểu biết thêm, đồng thời trang bị cho mình những kỹ năng công tác mới.

Xin giới thiệu với bà con và bạn bè cùng đọc tham khảo.

Vệ Nhi  

* Đầu đề trên là của chủ blog. Đầu đề bài viết là của tác giả Nguyễn Quang Dy.
Khi đưa bài lên blog, chủ blog có thêm ảnh sưu tầm được trên mạng.

------

Viêt Nam tham gia trò chơi lobbying


Nguyễn Quang Dy

Chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (xét cả “nhân và quả”) đã làm rõ hơn một nhân tố mới (trong chính trị quốc tế) là “vận động hành lang” (lobbying). Trong chính trị đối nội người ta còn gọi là “môi giới chính trị”, nhưng người Việt thì hay gọi nôm na cho dễ hiểu là “chạy chọt” (ví dụ chạy chức chạy quyền, như nhân vật “Hưng Tano”).  



Hoạt động “lobbying” diễn ra ở nhiều nước, đặc biệt phổ biến là ở Mỹ. Các chính phủ, các tập đoàn hay chính khách, thường thuê công ty (lobbying firm) hay cá nhân (lobbyist) đại diện cho họ để chạy chọt và dàn xếp những việc họ không tự mình làm được. Tại Mỹ, hoạt động lobbying là hợp pháp nếu đăng ký với Bộ Tư pháp và đóng thuế. Tuy nhiên hoạt động này có thể trở thành tai tiếng nếu bị điều tra, truy cứu do vi phạm luật hay quy định. 

Bài học kinh nghiệm

Trước đây, Việt Nam chưa dám thuê lobbying firm tại Mỹ để vận động, có lẽ vì chưa có chủ chương hay chưa có kinh phí, hoặc sợ “nhạy cảm”. Thực ra lúc đó đã có hoạt động lobbying không chính thức, thông qua người quen (lobbyist không chuyên). Điển hình là vụ ông Nguyễn Văn Hảo (cựu phó thủ tướng Chính quyền VNCH) được lãnh đạo Việt Nam (ông Võ Văn Kiệt) nhờ vận động chính quyền Bill Clinton bỏ cấm vận (1993-1994).

Qua người quen (làm trung gian), ông Hảo đã vận động ông Ron Brown, lúc đó là Bộ trưởng thương mại, thân cận với Tổng thống Bill Clinton. Nhưng đáng tiếc, vụ việc này đã trở thành tai tiếng vì bị FBI điều tra sau khi một trợ lý của ông Hảo (việt kiều Lý Thanh Bình) đã hợp tác với FBI để gài bẫy và tố giác ông Hảo. Sau 7 tháng điều tra, do FBI không đủ bằng chứng về hối lộ, nên ông Nguyễn Văn Hảo và Ron Brown đã may mắn thoát tội.  

Vì vậy, vấn đề không phải là Việt Nam có nên lobby hay không, mà là phải biết cách lobbying một cách chuyên nghiệp, để an toàn và hiệu quả. Lobbying là một “nghệ thuật” vận động hậu trường và quan hệ công chúng, như “con dao hai lưỡi”, nên đòi hỏi kinh nghiệm và bản lĩnh cao. Gần đây, chính phủ Việt Nam có chủ trương vận động hành lang: tại Mỹ đã thuê Podesta Group (một lobbying firm có thế lực ở Washington DC.), và tại Anh đã định thuê cựu thủ tướng Tony Blair làm lobbyist, nhưng vì một số lý do nên không thành.  

Podesta Group

Những ai quan tâm và thông thạo về chính trường Mỹ, chắc đều biết Podesta Group (trước đây được gọi là Podesta Associates), một công ty chuyên về lobbying và public affairs, rất có thế lực tại Washington DC. Công ty này do hai anh em John Podesta và Tony Podesta lập ra năm 1988.  Tony Podesta là người sáng lập và CEO của Podesta Group, còn John Podesta là đồng sáng lập (co-founder). Ông này đã từng làm Chánh Văn phòng Nhà Trắng thời Tổng thống Bill Clinton, sau đó làm Chủ tịch Ủy ban Tranh cử Tổng thống của bà Hillary Clinton (2016). Năm 2003, ông John Podesta đã lập ra “Center for American Progress”, một think tank mới về chính sách, có ảnh hưởng nhiều đến xu hướng của Chính quyền Obama. Nếu bà Hillary Clinton mà thắng cử, chắc ông John Podesta và nhóm lợi ích này sẽ có nhiều ảnh hưởng. 

Theo nhà báo Betsy Woodruff (Daily beast), dẫn số liệu của FARA (Foreign Agent Registration Act), Việt Nam đã trả cho Podesta Group $30.000/tháng (từ 2/12/2013 đến 31/12/2015), tổng cộng là $1,08 triệu. Đối với Hà Nội, đây là một dấu hiệu đã “chịu chơi”, tuy giá này vẫn còn “mềm”, vì chỉ bằng một nửa giá Chính phủ Ấn Độ trả Podesta Group.

Một lobbyist chuyên nghiệp đã làm việc cho chính phủ Việt Nam ít nhất hai năm (vào giai đoạn có nhiều tranh cãi về hiệp định TPP) là ông David Adams. Ông Adams đồng thời còn làm việc cho hãng Boeing và Lockheed Martin, là 2 nhà thầu quốc phòng lớn đang nhắm thị trường Việt Nam. Hiện nay, Adams là một nhân vật chủ chốt (principal) tại Podesta Group (giám sát công việc lobbying cho chính phủ Việt Nam). Adams đã có lần nói với báo The Hill “Thực ra, phải chạy vậy rất nhiều” (It is a lot of running around, to be honest).   

Theo tài liệu của báo “The Hill” (2015) David Adams từng làm cố vấn lập pháp (legislative advisor) cho Ngoại trưởng Hillary Clinton tại Bộ Ngoại Giao. Adams đã làm việc chặt chẽ với bà Clinton và cô Huma Abedin (nữ trợ lý thân cận của bà Clinton) để vận động Thượng viện phê chuẩn các nhân sự chủ chốt. Những trao đổi của Adams với bà Clinton qua địa chỉ email riêng của bà đã bị FBI điều tra, gây đau đầu cho bà Clinton trong chiến dịch tranh cử tổng thống. Sau khi thôi việc tại Bộ Ngoại Giao, Adams đã về làm cho Podesta Group.

Theo Betsy Woodruff, Podesta Group thân cận với Hillary Clinton và các nhà thầu quốc phòng. Họ đã vận động Chính quyền Obama bỏ cấm vận vũ khí cho Việt Nam vào dịp Tổng thống Obama sang thăm Việt Nam (23-25/5/2016). Ngoài TNS John McCain và Ngoại trưởng John Kerry đã ủng hộ Tổng thống bỏ cấm vận vũ khí, làm Obama vững tâm, Podesta Group đã tích cực vận động góp phần làm thay đổi quan điểm về Việt Nam của Chính quyền Obama. (“From Team Hillary to Vietnam Lobbyist”, Daily Beast, May 25, 2016).

Lúc đó, quyết định bỏ cấm vận vũ khí của Tổng thống Obama đã làm nhiều người ngạc nhiên và bất ngờ. Trong khi Chính phủ Việt Nam vui mừng, bà Hillary Clinton im lặng không bình luận, thì các tổ chức nhân quyền lên tiếng phản đối mạnh mẽ. Để cải thiện hình ảnh Việt Nam tại Mỹ, Podesta đã tổ chức nhiều cuộc gặp với các văn phòng Quốc Hội, và tiếp xúc với giới báo chí (như CNN, Roll Call, The Hill, PBS NewsHour, Politico, Washington Post, New York Times, National Geographic, Wall Street Journal, The Food Network).

Cơ hội và rủi ro

Theo Reuters (June 4, 2017), Việt Nam đã có những nỗ lực vận động được tổ chức đồng bộ  (concerted effort). Khác với các nước Châu Á khác, Việt Nam đã thuê Podesta Group vận động, vì lo ngại những thành quả về kinh tế và an ninh đã đạt được với Chính quyền Obama sẽ bị ông Trump bỏ rơi. Việt Nam đã lobby ngay sau khi ông Trump đắc cử, nên một tháng trước khi ông nhậm chức, ông Phúc đã có cuộc điện đàm với ông Trump. (“Vietnam’s White House lobbying coup secures strategic gains” Mai Nguyen, Reuters, June 4, 2017). 

Có lẽ người có vai trò trực tiếp trong các chiến dịch vận động Chính quyền Obama bỏ cấm vận vũ khí và thỏa thuận về TPP, là Đại sứ Phạm Quang Vinh. Sau đó, thứ trưởng Hà Kim Ngọc và Ngoại trưởng Phạm Bình Minh đã sang Washington để vận động cho chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Theo các nguồn tin ngoại giao và nghiên cứu, nhiều bạn bè người Mỹ trong Quốc hội, giới học giả và kinh doanh, đã trợ giúp. Các thông điệp của Việt Nam đã được truyền đạt tới Hội đồng An ninh Quốc gia (cụ thể là ông Matt Pottinger, giám đốc phụ trách Đông Á), văn phòng của Phó Tổng thống Mike Pence, Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng. Đại sứ Mỹ tại Hà Nội Ted Osius cũng phối hợp rất hiệu quả. Theo đánh giá của ông Carl Thayer, thành công lần này là do chủ trương đối ngoại tích cực của Hà Nội.  

Kết quả là Thủ tướng Phúc đã được Tổng thống Trump đón tiếp tại Nhà Trắng một cách thân tình, hơn cả lãnh đạo các nước Châu Âu khác. Tuyên bố Chung Viêt-Mỹ có nhiều điểm lợi cho Việt Nam, nhất là về Biển Đông nơi Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị Trung Quốc xâm lấn chủ quyền. Về quốc phòng, tàu sân bay Mỹ có thể ghé thăm quân cảng Việt Nam, hai nước có thể hợp tác về hải quân, tình báo, mua sắm vũ khí và lập kho dự trữ.   

Khách hàng của Podesta Group không phải chỉ có Việt Nam, mà còn các nước khác như Ấn Độ (đã trả $60.000/tháng, năm 2014). Podesta Group còn đại diện cho hãng Boeing và Lockheed Martin. Theo Reuters, không phải vô cớ mà đại diện của hai nhà thầu quốc phòng lớn này đã “lặng lẽ” đến Việt Nam dự một hội thảo về quốc phòng gần đây.   

Không phải chỉ thuê Podesta Group để lobby, Việt Nam còn vận dụng CSIS là think tank về nghiên cứu chiến lược ở Washington DC (thân cận với Chính quyền Obama và đảng Dân chủ). CSIS ủng hộ chủ trương xoay trục sang Châu Á của Chính quyền Obama, là tác giả của Báo cáo “Asia-Pacific Rebalance 2025” (Jan 2016) do Bộ Quốc phòng Mỹ tài trợ, và báo cáo “Một Kỷ nguyên Mới trong Quan hệ Mỹ-Việt” (A New Era in US-Vietnam Relations, CSIS, June 2014) có thể do Việt Nam tài trợ một phần (theo thông báo của CSIS website).

Có một thay đổi đáng chú ý là trong chuyến thăm Mỹ lần này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đến nói chuyện tại Quỹ Heritage, một think tank bảo thủ về chính sách tại Washington DC (thân cận  với Chính quyền Trump, và đảng Cộng Hòa). Trước đây Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (và các lãnh đạo khác) đều đến nói chuyện tại CSIS. Một chi tiết khác đáng lưu ý là Chủ tịch Quỹ Heritage (ông Edwin Feulner), là một người ủng hộ ông Trump, đã tham gia vận động để dàn xếp cho Tổng thống Đài Loan Tsai Ing-wen điện đàm với ông Donald Trump ngay sau khi đắc cử, làm dư luận lúc đó dậy sóng.

Bên cạnh cơ hội, có nhiều rủi ro đối với các quan chức vận động hành lang hay môi giới chính trị.  Cựu Chủ tịch Hội đồng An ninh Quốc gia Michael Flynn (bị mất chức) đang bị điều tra về nghi vấn vi phạm luật khi trao đổi với Đại sứ Nga và nói dối phó Tổng thống Mike Pence. Ông Flynn còn bị truy cứu vì đã nhận $33.000 khi đi thăm Nga (12/2015) và vì công ty riêng của ông  đã thương thảo một hợp đồng trị giá $500.000 (năm 2016) với một doanh nhân Thổ Nhĩ Kỳ có quan hệ với Chính phủ Thổ, nhưng lúc đó, ông Flynn không đăng ký là đại diện cho khách hàng Thổ Nhĩ Kỳ (như “foreign agent”), theo quy định. Một bài học đắt giá.  

Thay lời kết

Theo đánh giá của Alexander Vuving, chuyến đi Mỹ của ông Nguyễn Xuân Phúc đã thành công, thể hiện trong nội dung Tuyên Bố Chung. Nó phản ánh một thực tế là Chính quyền Trump đang “ăn theo” quan hệ đối tác toàn diện với Việt Nam và chính sách với Biển Đông từ thời Obama (trừ vấn đề TPP). (Why Trump Is Capitalizing On Obamas US-Vietnam Comprehensive Partnership”, Alexander Vuving, National Interest, June 7, 2017).

Vuving đề cập hiện tượng nhưng chưa nói rõ nguyên nhân. Ngoài đối sách tích cực của Hà Nội, có lẽ trục Người lớn” (Axis of Adults) trong Chính quyền Trump đang lặng lẽ xoay trục, chuyển hóa dần tình thế và chính sách (ít nhất là với khu vực này). Nếu phải lobby thì chắc phải nhắm vào các nhân vật chuyên nghiệp (như H.R. McMaster, Rex Tillerson, James Mattis, và Mike Pence). Chắc họ cũng phải lobby cặp “trai tài gái sắc” trong nhà Trắng (Ivanka Trump và Jared Kushner). Đây là “Trò chơi Vương quyền” (“Game of Thrones”).

Trò chơi Lobbying là con dao sắc hai lưỡi, nếu biết dùng sẽ rất hiệu quả, nhưng nếu không biết dùng sẽ rất nguy hiểm, có thể đứt tay chảy máu. Lobbying chính quyền Trump lúc này không hề dễ. Hãy chào mừng Việt Nam tham gia trò chơi Lobbying!

NQD. 9/6/2017

 

Thứ Tư, 7 tháng 6, 2017

Nhìn lại chuyến đi của ông Nguyễn Xuân Phúc



Nhìn lại chuyến đi của ông Nguyễn Xuân Phúc

Trong thư email gửi kèm bài viết mới đây nhất, tác giả nguyễn Quang Dy viết rằng, “một số bạn bè yêu cầu, nên tôi viết thêm bài này để tổng hợp đánh giá về chuyên đi Mỹ của ông Nguyễn Xuân Phúc, hy vọng đóng góp với bạn đọc một góc nhìn cân bằng và khách quan . Sáng nay đọc lại, có chính sửa lại vài chỗ.
Cheers. (NQD).

Bài VIẾT MỚI này ở đoạn kết Nguyễn Quang Dy đưa ra đánh giá (sơ bộ), như sau: “Tuy các chuyên gia tư pháp của Nhà Trắng đang tính toán đề phòng khả năng Trump bị phế truất, nhưng khả năng này rất thấp. Điều đó có nghĩa là trong 3 năm rưỡi nữa, không chỉ người Mỹ mà cả thế giới phải chấp nhận Trump, một Tổng thống Mỹ khó tính và khó đoán. Không chỉ ông Phúc, mà cả ông Abe và ông Tập cũng phải lấy lòng Trump. Lúc này Hà Nội phải cố “đẩy tốt qua sông” như một nước cờ “hedging”. Sau khi đi Mỹ, ông Phúc đi thăm Nhật (4-8/6/2017). Tăng cường đối tác chiến lược với Nhật lúc này là đúng hướng”.

Xin giới thiệu bài viết kể trên để bà con và bạn bè tham khảo.

Vệ Nhi   

-------

Đánh giá tiếp chuyến đi của ông Phúc

Nguyễn Quang Dy

Cuộc gặp được mong đợi giữa Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Tổng thống Donald Trump đã diễn ra ngày 31/5/2017, nhưng dư âm của nó vẫn còn, với những đánh giá kết quả khác nhau. Trong khi nhiều người kết luận là thành công, thì không ít người lại cho là thất bại. Thậm chí có người còn để ý đến cái bắt tay xem ông Trump “nắm chặt hay nhẹ”.     

Sau mỗi lần giao dịch quan trọng, người ta thường kiểm kê lại xem kết quả ra sao, vì vậy cuộc gặp giữa ông Phúc và ông Trump cũng không phải ngoại lệ, cần được đánh giá lại một cách khách quan. Căn cứ vào thái độ thì cả hai nhà lãnh đạo đều tươi cười, có vẻ hài lòng với một giao dịch “cùng thắng” (win-win). Căn cứ vào “Tuyên bố Chung về Tăng cường Đối tác Toàn diện Việt Nam-Mỹ”, thì những kết quả (chính thức) là rất khả quan.      

Các chuyên gia đánh giá 

Nội dung Tuyên bố Chung (Joint Statement), không có gì thật bất ngờ (not unexpected). Tài liệu này dài hơn 3 trang, khoảng gần 2000 từ (bản tiếng Anh), ngắn hơn một chút so với Thông cáo Chung 14 điểm về chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch nước Trần Đại Quang. Tuyên Bố Chung đề cập đến nhiều chủ đề, có chủ đề rất chi tiết (như về thương mại), nhưng có chủ đề rất chung chung (như về Nhân quyền và Biển Đông). Tuy đoạn nói về Biển Đông không nêu đích danh Trung Quốc, nhưng rõ ràng ám chỉ các hành động của Trung Quốc. 

Nhiều chuyên gia quốc tế đánh giá chuyến thăm “thành công” nhưng “chưa đủ” (nice but not enough), theo ông Muray Hiebert (chuyên gia về Đông Nam Á của CSIS). Còn ông Nguyễn Mạnh Hùng (Đại học George Mason & CSIS fellow) nhận xét: “tuy có một số kết quả nhỏ nhưng không có đột phá”, dù đã làm tăng cường quan hệ hai nước (tăng lên chứ không giảm đi). Tuy ông Trump nói với các nhà báo là sẽ trao đổi với ông Phúc về thương mại và Bắc Triều Tiên, nhưng trong Tuyên bố Chung họ đã đề cập đến vấn đề Biển Đông một cách thuận lợi cho Việt Nam. Việt Nam muốn Mỹ và Trung Quốc “hành xử một cách minh bạch và có trách nhiệm”, để không gây hậu quả xấu cho những nước khác, vì “trâu bò đánh nhau, ruồi muỗi chết”. Việt Nam lo ngại Mỹ và Trung Quốc có thể đi đêm với nhau, nên trước đó Mỹ đã cho tàu chiến tuần tra Biển Đông (FONOP), trao 6 tàu tuần duyên cho Việt Nam. Hai bên cũng đã trao đổi về khả năng tàu sân bay Mỹ thăm quân cảng Việt Nam.  
Theo ông Carl Thayer (Australian Defense Academy), chuyến thăm Mỹ của ông Phúc đã “thành công tốt đẹp”, cho thấy đường lối ngoại giao tích cực của Việt Nam đã “mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ giữa hai nước, tạo ra một bầu không khí thuận lợi” làm cho Tổng thống Trump “phản ứng một cách tích cực”, vì Thủ tướng Phúc đã “đánh trúng tâm lý của ông Trump”. Ông Ngô Vĩnh Long (Đại học Maine) cho rằng quan hệ thương mại Việt-Mỹ (đặc biệt là nhập siêu) thật ra “không phải là vấn đề quan trọng lắm” vì chỉ có $32 tỷ/năm, không bằng một tháng của Trung Quốc ($347 tỷ/năm), nên tháo gỡ vấn đề này “chỉ để cho ông Trump hãnh diện đối với dân Mỹ thôi”. Trong khi đó, ông Long cho rằng Mỹ có “3 vấn đề quan trọng hơn” là với ASEAN (quan trọng nhất), với APEC (thứ hai) và với LHQ (thứ ba). 

Theo ông Jonathan London (Đại học Laiden, Hà Lan) ông Trump đã gặp Nguyễn Xuân Phúc và “họ đã có những đàm phán rất xây dựng và có vẻ kết quả tương đối tốt”… đối với vấn đề quốc phòng và an ninh, cũng như vấn đề thương mại, thì Mỹ và Việt Nam “có một quan hệ rất tốt, và chúng ta có thể chờ đợi sự phát triển của quan hệ này một cách rất mạnh mẽ”… nhưng muốn thấy vấn đề nhân quyền được nâng cao, thì “chắc chắn là thất vọng” vì Donald Trump lên cầm quyền ở Mỹ là một “thảm họa cho vấn đề nhân quyền cũng như vấn đề về khí hậu”… London “không nhất trí là Trump lo về vấn đề việc làm cho người Mỹ, mà chủ yếu ông ấy lo về vấn đề làm giàu thêm cho những người giàu hiện nay”. (BBC, 4/6/2917).

Tuy nhiên, nếu nói Tuyên bố Chung không nhắc đến vấn đề Nhân quyền và Biển Đông là không chính xác. Đoạn nói về Nhân quyền hay Biển Đông (cũng như hợp tác an ninh quốc phòng) đều dài hơn 200 từ, trong đó có nói đến chuyển giao tàu tuần dương, hợp tác hải quân, nhu cầu mua sắm thêm vũ khí, và khả năng tàu sân bay Mỹ thăm Việt Nam. 

Hiện nay, giới bất đồng chính kiến đòi tự do, dân chủ và nhân quyền (trong và ngoài nước) đang có tâm trạng thất vọng vì ông Trump không coi trọng nhân quyền, và chuyến thăm Mỹ của ông Phúc không thất bại như họ suy đoán. Muốn hay không, phải thừa nhận một thực tế đang diễn ra tại Mỹ và nhiều nơi khác trên thế giới là toàn cầu hóa và tự do dân chủ đang suy thoái. Nhiều người Mỹ đang lo ngại nền dân chủ có thể đổ vỡ (“broken democracy”). Tuy đổi mới thể chế là cấp thiết, nhưng lúc này đoàn kết dân tộc để chấn hưng đất nước là mục tiêu cấp bách, trong khi đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền là một quá trình lâu dài.   
   
Vận động hành lang 

Một số người bất đồng chính kiến có xu hướng đánh giá “chuyến đi thất bại” (thậm chí trước khi sự kiện diễn ra), như “cầm đèn chạy trước ô-tô”. Trong khi một số chuyên gia Việt Nam lại tỏ ra quá lạc quan khi cho rằng chuyến đi thành công “ngoài mong đợi”, nâng quan hệ hai nước “lên một tầng rất cao” (Ts Trần Việt Thái). Ông Thái nói đây là một chuyến đi “rất thành công”… định hình một tầm nhìn, một định hướng trong quan hệ Việt-Mỹ trong thời gian tới. Có người cho ông Phúc là “cao tay” hay “tay không bắt giặc”. Không biết Thủ tướng “CLMV” tài giỏi hay do đóng góp của các trợ lý và vận động hành lang (lobbying).  

Theo Reuters (June 4, 2017), Hà Nội sợ đánh mất những gì đã đạt được với Chính quyền Obama nên đã bắt đầu vận động hành lang ngay từ khi Donald Trump được bầu, bằng một nỗ lực vận động được phối hợp đồng bộ (concerted lobbying). Vì vậy, cuộc điện đàm giữa Thủ tướng Phúc với ông Trump đã được thu xếp một tháng trước khi ông Trump nhậm chức. Theo giới ngoại giao và nghiên cứu, có một số nhân tố quan trọng như Đại sứ Phạm Quang Vinh (là người có vai trò và kinh nghiệm vận động cho các vấn đề như TPP và bỏ cấm vận vũ khí), Ngoại trưởng Phạm Bình Minh và thứ trưởng Hà Kim Ngọc (đã sang Mỹ vận động). Đại sứ Mỹ Ted Osius (là nhà ngoại giao chuyên nghiệp nên được giữ lại tại Hà Nội) cũng có vai trò tích cực. Ngoài ra còn có sự trợ giúp của bạn bè trong Quốc Hội, trong giới học giả và kinh doanh. Nhưng không thể thiếu vai trò của công ty vận động hành lang (lobbying firm) Podesta Group được Hà Nội thuê với giá $30.000/tháng (theo số liệu Bộ Tư pháp Mỹ). (Vietnam’s White House lobbying coup secures strategic gains”, Mai Nguyen, Reuters, June 4, 2017).
Thông thường, đầu mối liên lạc để vận động là Hội đồng An ninh Quốc gia (cụ thể là ông Matt Pottinger, giám đôc phụ trách Đông Á), văn phòng Phó Tổng thống Mike Pence, Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng, v.v. Vì vậy khi ông Phúc được tiếp tại Nhà Trắng, có nhiều nụ cười và ông Trump tỏ ra thoải mái với thủ tướng Việt Nam, hơn là với các nhà lãnh đạo phương Tây khác. Ông Carl Thayer cho rằng thành công một phần là do đường lối ngoại giao tích cực (pro-active diplomacy from Hanoi). Bản Tuyên bố Chung Việt-Mỹ lần này cũng thuận lợi cho Việt Nam (như năm ngoái), đặc biệt là về vấn đề Biển Đông nơi Việt Nam đang tranh chấp với Trung Quốc. Tuyên bố Chung đề cập đến khả năng tàu sân bay Mỹ đến thăm quân cảng Việt Nam, mua sắm trang bị quốc phòng, và hợp tác về hải quân cũng như tình báo. 

Thương mại song phương

Dù sao, trước mắt giải tỏa vấn đề thương mại (Mỹ nhập siêu $32 tỷ) vẫn là cấp bách hàng đầu (vì khẩu hiệu “America First”) nên Hà Nội phải “đẩy tốt qua sông” để lấy lòng ông Trump, như một “món quà ăn hỏi”. Chính vì vậy, ông Phúc đã tuyên bố con số $15 tỷ sẽ được giao dịch. Tuy kết quả giao dịch thực tế được ghi nhận trong Tuyên bố Chung chỉ có $8 tỷ (bằng hơn nửa dự kiến) trong đó ít nhất có $5 tỷ liên quan đến các giao dịch được công bố từ năm ngoái, nhưng ông Trump vẫn đánh giá cao và hài lòng (như trong câu truyện ngụ ngôn “Phú ông xin đổi mâm xôi Bờm cười”). Bộ Thương mại khoe phía Mỹ đã ký 13 giao dịch với Việt Nam trị giá $8 tỷ, mang lại khoảng 23.000 công ăn việc làm cho người dân Mỹ.  
Ông Carl Thayer nhận xét Việt Nam “tỏ ra linh hoạt và đưa ra những đề xuất về cách thức các doanh nghiệp Hoa Kỳ có thể gia tăng xuất khẩu sang Việt Nam”, trong bối cảnh thâm hụt thương mại Mỹ-Việt ở mức $32 tỷ. Tuy thương mại đứng đầu trong nghị trình, và nằm ở top đầu trong Tuyên bố Chung, nhưng hợp tác chiến lược còn có ý nghĩa quan trọng hơn. Carl Thayer cho rằng, “tuy có sự hỗn loạn trong Nhà Trắng cũng như sự bất nhất về chiến lược” do những tuyên bố trái ngược của Trump, nhưng Hà Nội nay đã được trấn an một phần vì hiểu rõ hơn về đường hướng của quan hệ song phương với Mỹ trong những năm tới. Việt Nam vẫn có thể “đa phương hóa và đa dạng hóa” quan hệ song phương khi biết rằng “Mỹ vẫn duy trì cam kết về đối tác toàn diện với Việt Nam và vẫn hướng về Đông Nam Á”.

Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, tuy hai bên đã ký một số hơp đồng trị giá $8 tỷ, nhưng không có dấu hiệu hai bên sẽ sớm đạt được một hiệp định thương mại song phương (như Việt Nam mong muốn). Điều đáng chú ý là về hợp tác an ninh quốc phòng, hai bên sẽ tăng cường hợp tác hải quân và tình báo, và khả năng tàu sân bay Mỹ sẽ tới thăm Việt Nam. Trong khi ông Trump dành nhiều quyền cho giới quân sự, thì họ luôn quan tâm đến vấn đề chiến lược. Thực ra, vấn đề hợp tác an ninh quốc phòng có triển vọng và ý nghĩa quan trọng hơn cả thương mại. Đây có thể là xu hướng quan hệ Việt-Mỹ trong giai đoạn tới, tuy Hà Nội vẫn phải chơi cờ thế như hiện nay để cân bằng quan hệ với Mỹ và Trung Quốc, trong khi từng bước nâng cấp quan hệ “đối tác toàn diện” với Mỹ bằng cách lồng ghép một số “nội dung chiến lược”.   
          
Từ khi chính thức nhậm chức, và nhất là sau tuần trăng mật, Tổng thống Trump đã thay đổi nhiều lập trường, khác với lúc tranh cử (thậm chí ngược lại). Tuy nhiên, Trump hầu như chưa có chính sách, mà chỉ đối phó tình huống. Ví dụ, Trump thay đổi lập trường với Trung Quốc, chủ yếu nhằm đối phó tình huống với Bắc Triều Tiên, làm Hà Nội lo ngại về cam kết của Mỹ tại Biển Đông. Trước mắt, tuy chưa có dấu hiệu Trump thay đổi lập trường về TPP, nhưng Hà Nội vẫn mong có một ngày nào đó, Trump sẽ quay lại sân chơi TPP và tiếp tục chính sách tái cân bằng tại Đông Á, một khi tình thế thay đổi, hoặc các cố vấn chủ chốt thuyết phục được Trump thay đổi nhận thức về Trung Quốc và vấn đề an ninh Đông Á.  

An ninh quốc phòng 

Tuy Mỹ sẽ tìm cách thay đổi cán cân thương mại (đang bị thâm hụt), nhưng quan hệ Việt-Mỹ không phải chỉ có thương mại. Theo Jonathan London, nó còn “liên quan đến tương lai trật tự kinh tế và thương mại của khu vực Châu Á-Thái Bình Dương”.  Việt Nam vừa phải tăng cường đối tác toàn diện với Mỹ (theo hướng đối tác chiến lược toàn diện), vừa phải tăng cường đối tác chiến lược toàn diện với Nhật, như một trụ cột mới ở Đông Á. 

Đáng chú ý là trong khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hội đàm với Tổng thống Donald Trump tại Nhà Trắng (31/5/2017) thì TNS John McCain dẫn đầu phái đoàn Ủy ban Quân vụ Thượng viện (và Hạ Viện Mỹ) đã đến thăm tàu USS John McCain tại quân cảng Cam Ranh, trong chuyến thăm Việt Nam (từ 31/5-2/6/2017). Trước đó John McCain đã gặp Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch. John McCain viết trên trang Twitter (1/6/2017) là ông “Rất vinh hạnh gặp gỡ các quan chức Việt Nam, cũng như giới lãnh đạo xã hội dân sự vào thời điểm quan trọng nhất trong quan hệ Mỹ-Việt”.

Trong lần gặp Chủ tịch nước Trần Đại Quang (1/6/2017) John McCain nói: “Hoa Kỳ ủng hộ tự do hàng hải, hàng không trong khu vực; hợp tác giữa các quốc gia nhằm ngăn chặn những nguy cơ về an ninh đối với sự phát triển, ổn định”. Hợp tác quân sự giữa hai nước trong giai đoạn hiện nay rất quan trọng, trong bối cảnh Trung Quốc tiếp tục là mối đe dọa an ninh trên Biển Đông. Hợp tác quân sự Việt-Mỹ bao gồm cả việc quân đội Mỹ sử dụng kho cất trữ thiết bị vật tư trên lãnh thổ Việt Nam để sử dụng ngay khi cần thiết.
Tại Diễn đàn Đối thoại hàng năm về An ninh tại Shangri-la, Singapore (2/6/2017), Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis nói thẳng “Chúng tôi phản đối các quốc gia quân sự hóa các hòn đảo nhân tạo và thực thi thái quá các yêu sách biển… Chúng tôi không thể và sẽ không chấp nhận những thay đổi đơn phương, cưỡng ép hiện trạng”.

Bàn cờ chiến lược

Theo ông Alexander Vuving (giáo sư tại Asia-Pacific Center for Security Studies, Hawaii), “Chính quyền Trump rất quan tâm đến việc thúc đẩy quan hệ với Việt Nam, vì Hoa Kỳ nhận thức rõ vai trò chiến lược của Việt Nam tại Châu Á”. 

Ông Michael Green (Phó chủ tịch CSIS) nói với Washington Times “thắt chặt quan hệ liên minh với Hoa Kỳ về an ninh cũng là một mục tiêu hàng đầu trong chuyến đi Mỹ của ông Phúc”. Theo Michael Green, ông Phúc muốn liên minh với ông Trump tương tự như liên minh mà ông Trump đã thiết lập với Thủ tướng Nhật Shinzo Abe. Ông Green nói: “Việt Nam không phải là một quốc gia muốn xa lánh Mỹ vì ông Donald Trump làm tổng thống”. Báo Washington Times dẫn lời ông Anthony Cordesman, một chuyên gia quân sự tại CSIS, nói: “ai cũng biết là Việt Nam từ lâu vẫn coi Trung Quốc là một mối đe doạ đối với sự tồn tại của mình, và ông Phúc mong muốn Mỹ đóng một vai trò lớn hơn trong vấn đề Biển Đông”.

Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác tin rằng chỉ có Hoa Kỳ mới có thể kiềm chế những hành động hung hăng nhằm áp đặt chủ quyền của Trung Quốc. Một lựa chọn cho chính quyền Trump là bán thêm vũ khí và chuyển giao thiết bị quâ sự cho các đồng minh như Việt Nam, để tăng cường khả năng chiến đấu của lực lượng hải quân các nước này. Theo ông Rodger Baker, (Phó Chủ tịch Stratfor Global Intelligence), “Trong tuần qua, Washington đã chuyển giao một số tàu cho lực lượng Tuần duyên Việt Nam. Hai bên đã có giao lưu hải quân và Mỹ cũng đã dỡ bỏ một số hạn chế đối với việc xuất khẩu vũ khí sang Việt Nam”. 

Theo ông Jonathan Stromseth (viện Brookings), chuyến thăm Washington của Thủ tướng Việt Nam “đã tăng thêm đà cho mối quan hệ Việt-Mỹ ngày càng có tính cách chiến lược hơn”. Ông Stromseth cho biết Nhà Trắng cũng đang lôi kéo một số quốc gia Đông Nam Á khác khi Trung Quốc tiếp tục mở rộng phạm vi ảnh hưởng và lo ngại ngày càng tăng về cam kết của Mỹ đối với khu vực, đặc biệt sau khi Washington rút ra khỏi Hiệp định TPP. 

Một số rào cản

Ông Joshua Kurlantzick (Senior Fellow, CFR), thừa nhận Viêt Nam vừa có những đơn đặt hàng trị giá $8 tỷ, đóng góp tạo ra công ăn việc làm cho người Mỹ. Hai bên đã thảo luận một số vấn đề chiến lược, như Việt Nam muốn mua thêm tàu tuần duyên của Mỹ. Nhưng những giao dịch này chưa chắc làm cho Chính quyền Mỹ hài lòng, vì sự hứng khởi này che đậy một số rào cản đối với việc tăng cường và nâng cấp đối tác toàn diện thành đối tác chiến lược toàn diện giữa hai quốc gia cựu thù này. Dưới đây là một vài ví dụ để minh họa.

Đại diện thương mại Mỹ Robert Lighthizer nhấn mạnh $32 tỷ thâm hụt thương mại với Việt Nam, cho rằng Việt Nam thu lợi một cách bất công qua thương mại với Mỹ, vì bán cho Mỹ nhiều hơn là mua của Mỹ. Trong chuyến đi vừa qua, Thủ tướng Phúc đã dùng hình ảnh chiếc giày để vạch ra những bất cập trong thâm hụt thương mại với Mỹ, làm Việt Nam được lợi rất ít từ Mỹ qua giao dịch thương mại. Nhưng chắc là phía Mỹ vẫn tiếp tục công khai lên án và ép Việt Nam để cố gắng làm giảm thâm hụt thương mại nói trên. Ví dụ, các nhà thầu quân sự Mỹ có thể ký những hợp đồng quân sự quan trọng với Việt Nam. 

Vì vậy một Hiệp định TPP mà không có Mỹ sẽ tiếp tục làm tăng thêm sự khác biệt giữa hai bên. Thật khó mà hình dung được trong mấy năm tới, làm thế nào hai nước có thể tìm được đủ thiện chí cho các vấn đề thương mại để đạt được hiệp định song phương (đến nay vẫn còn xa vời). Làm thế nào để ông Trump coi Việt Nam là một đối trọng có tiềm năng trong khu vực để đối phó với Trung Quốc (Vietnam and the United States Make Nice for Now but Disappointment Looms”, Joshua Kurlantzick (Senior Fellow, CFR, June 1, 2017).
Theo nhà báo Helen Clark, quan hệ cá nhân ở Việt Nam không quan trọng bằng quan hệ nhà nước về thương mại và chiến lược. Ông Phúc và ông Trump tuy bắt tay vui vẻ, nhưng hai con người này khác nhau hoàn toàn. Trong đối thoại, họ chỉ nói chuyện với nhau bằng những luận điểm được chuẩn bị kỹ (talking points). Vì Trump coi trọng quan hệ cá nhân, nên trong 30 phút hai nhà lãnh đạo làm thế nào để có tiếng nói chung? Cũng may, kết quả duy nhất làm Trump hài lòng là giao dịch trị giá $8 tỷ hàng hóa. (Nothing personal: a lesson for Trump in Vietnamese politics”, Helen Clark, South China Morning Post, June 5, 2017).

Thay lời kết

Tuy các chuyên gia tư pháp của Nhà Trắng đang tính toán đề phòng khả năng Trump bị phế truất, nhưng khả năng này rất thấp. Điều đó có nghĩa là trong 3 năm rưỡi nữa, không chỉ người Mỹ mà cả thế giới phải chấp nhận Trump, một Tổng thống Mỹ khó tính và khó đoán. Không chỉ ông Phúc, mà cả ông Abe và ông Tập cũng phải lấy lòng Trump. Lúc này Hà Nội phải cố “đẩy tốt qua sông” như một nước cờ “hedging”. Sau khi đi Mỹ, ông Phúc đi thăm Nhật (4-8/6/2017). Tăng cường đối tác chiến lược với Nhật lúc này là đúng hướng.   

Tuy các giao dịch ban đầu trị giá $8 tỷ là một “mâm xôi” làm cho “ông Trump” vui lòng vì có “thành quả” để khoe thành tích “America First”, nhưng chưa biết ông Trump sẽ vui được bao lâu. Bên cạnh “mâm xôi” thương mại, ván cờ chiến lược vẫn đang chuyển động theo hướng “đồng sàng dị mộng”, tuy cả hai bên đều không muốn làm mất lòng Bắc Kinh. Kết quả ban đầu của vận động hành lang có tác dụng, dù khó khăn. Ông Phúc không những được ông Trump “bắt tay chặt” và “chụp hình chung”, mà còn được “gói xôi” mang về.  

NQD. 6/6/2017