Loading...

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2017

Chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới

Chính sách đối ngoại Việt Nam trong giai đoạn mới

Cây bút chuyên về các vấn đề đối ngoại và quan hệ quốc tế Nguyễn Quang Dy (suốt thời gian đi làm anh Dy công tác ở ngành ngoại giao) nhắn tin cho tôi, báo rằng bài viết dưới đây anh đã gửi và trang viet-studies đã đăng. 

Sau đó anh đọc lại và thấy cần sửa chữa một số ý đoạn cùng một số chi tiết cho rõ hơn và gửi bài đã chữa cho blog của tôi. Anh nhắn thêm rằng blog tôi thường ưu tiên đề tài đối ngoại nói chung nên nếu đăng lên thì tốt cho đối tượng bạn đọc này được theo dõi liên tục... 

Xin đăng bài dưới đây để bà con trên Blog nói chung cùng bạn bè đã và đang làm trong ngành đối ngoại, ngoại giao nói riêng đọc tham khảo và chia sẻ.

Vệ Nhi/Nguyễn Vĩnh

---------


Chính sách Đối ngoại Việt Nam Giai đoạn Mới


Nguyễn Quang Dy     

Trước cơn địa chấn chính trị với hệ quả khôn lường đang diễn ra tại Mỹ và toàn cầu, trước đám mây đen và sóng dữ tại Biển Đông, con tàu Việt Nam phải làm thế nào để thoát hiểm và vượt ra biển lớn? Đây là thách thức to lớn và cơ hội mong manh đối với Việt Nam, tại bước ngoặt lịch sử khi thế giới đang bước sang một giai đoạn mới. 
Bước ngoặt lịch sử  
Tuy đã hơn bẩy thập kỷ sau ngày độc lập (2/9/1945) và hơn bốn thập kỷ sau ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam (30/4/1975), nhưng đất nước dường như vẫn còn luẩn quẩn tại ngã ba đường của lịch sử. Việt Nam có quyết tâm đổi mới thể chế toàn diện hay không? Có thực sự đi theo con đường kinh tế thị trường và dân chủ hóa hay không? Liệu tranh luận về “hai con đường” đã đến lúc ngã ngũ, hay Việt Nam vẫn tiếp tục “đu dây”? 
Một yếu tố mới xuất hiện, như một cơn địa chấn chính trị đang xô đẩy Việt Nam phải chọn một con đường. Ngày 8/11/2016 là “ngày định mệnh” đối với nước Mỹ (cũng như nhiều nước khác), khi Donald Trump bất ngờ thắng cử, trở thành tổng thống thứ 45 của Mỹ. Đó là một chính biến làm thay đổi cuộc chơi (game changer), khiến nước Mỹ (và phần lớn thế giới) ngỡ ngàng, bối rối và lo sợ. 

Đó không phải chỉ là sự kiện thay đổi tổng thống Mỹ như “đến hẹn lại lên”, mà là một bước ngoặt lịch sử, mở ra một giai đoạn mới bất định. Khủng hoảng chính trị Mỹ có thể làm đảo lộn trật tự thế giới, “như khi Liên Xô sụp đổ” (năm 1991). (“America: the Failed State”, Francis Fukuyama, Prospect, December 13, 2016).
Cơn địa chấn chính trị bất ngờ và bất định này đang làm nước Mỹ chia rẽ sâu sắc, đe dọa trật tự thế giới cũ và quan hệ quốc tế. Trong cuốn sách mới xuất bản, Richard Haass (president of the  Council on Foreign Relations) nhận xét rằng từ đầu năm 2017, chúng ta đang chứng kiến “sự đảo lộn có tính hệ thống” (systemic disorder) và “mất phương hướng chiến lược” (strategic disorientation). (“A World in Disarray: American foreign Policy and the Crisis of the Old Order”, Richard Haass, Penguin Press, January 2017).
Nếu Donald Trump chơi lá bài Nga để chống Tàu (khác với Nixon-Kissinger chơi lá bài Tàu để chống Nga trước đây) thì ông ta có thể làm đảo lộn bàn cờ chiến lược Biển Đông, cũng như chính sách đối ngoại của các nước Đông Á và ASEAN (trong đó có Việt Nam). Học thuyết Kissinger về tam giác chiến lược Mỹ-Nga-Trung có thể bị đảo ngược (“Reverse Kissinger”, Blake Franko, American Conservative, January 10, 2017).


Nghịch lý Donald Trump là một hiện tượng lạ, nhưng đã có tiền lệ trong lịch sử. Thời xưa tại Trung Quốc, Lã Bất Vi ngộ ra rằng “buôn vua” lãi hơn tất cả, nên đã bỏ kinh doanh đi “buôn vua” và dựng lên Tần Thủy Hoàng. Lã bất Vi còn đúc kết kinh nghiệm viết “Lã Thị Xuân Thu”. Nay tại Mỹ, Donald Trump cũng bỏ kinh doanh bất động sản, nhưng không “buôn vua” mà làm vua luôn. Donald Trump là Lã Bất Vi của nước Mỹ!


Trump vốn là con người thất thường, nên chính sách của Trump cũng bất thường. Đặc điểm chính sách của Trump là hành động ngay (không cần nghĩ trước), vì vậy mọi chính sách của chính quyền Trump có thể là “lâm thời” (ad hoc). Chính vì Trump thiếu nhất quán nên làm thiên hạ khó đoán. Lệnh cấm nhập cảnh (travel ban) đối với 7 nước Hồi giáo là một ví dụ, đang gây tranh cãi và phản ứng làm náo loạn cả nước Mỹ.


Trong khi Trump quyết định rút khỏi TPP (bỏ ngỏ khu vực này cho Trung Quốc thao túng) thì ông ấy lại bổ nhiệm những nhân vật “diều hâu” chống Trung Quốc (như Peter Navarro và Rex Tillerson) vào những vị trí then chốt. Trước đây, Nixon-Kissinger đã “vô tình” tạo ra con quái vật Frankenstein và dung dưỡng nó lớn mạnh bằng kế sách “Constructive Engagement”, nay Trump lại “vô ý” rút khỏi TPP vì “America First”, mà hệ quả là bỏ rơi khu vực này để nó tha hồ lũng đoạn. Trung Quốc có thể thay thế TPP (do Mỹ đứng đầu) bằng RCEP (do TQ cầm cái), phân hóa và làm đảo lộn trật tự của Mỹ tại khu vực này.         


Sắp xếp nhân sự


Sắp xếp nhân sự chủ chốt của Trump chính là dấu hiệu về đường lối chính sách (đối nội cũng như đối ngoại). Không chờ nhậm chức (20/1/2017) Trump đã bất ngờ ra tay trước bằng mấy nước cờ táo bạo, làm đảo lộn bàn cờ quốc gia lẫn quốc tế, đe dọa xóa sổ di sản của Tổng thống Obama và các đời tổng thống trước đó. Theo Newt Gingrich, “khoảng 60% hoặc 70% sắc lệnh của Obama sẽ bị Trump hủy bỏ” (Fox News, 26/12/2016).    


Thứ nhất, Trump không đợi Trung Quốc nắn gân mà đã phá lệ, thách thức Trung Quốc trước bằng cuộc điện đàm với tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn (2/12/2016). Sự kiện đó không phải ngẫu nhiên, mà là kết quả chuẩn bị nhiều tuần trước đó, giữa các quan chức hàng đầu hai bên (Bob Dole, Reince Priebus, Edwin Feulner). Bằng 10 phút điện đàm, Trump đe dọa làm sụp đổ chính sách “Một Trung Quốc” đã tồn tại hơn 4 thập kỷ. Tiếp theo điện đàm, Trump còn khẳng định, “Tôi quá hiểu chính sách ‘Một Trung Quốc’, nhưng tôi không hiểu tại sao chúng ta bị ràng buộc bởi chính sách đó” (Fox News, 11/12/2016).


Thứ hai, Trump bổ nhiệm Peter Navaro đứng đầu Hội đồng Thương mại Quốc gia, có văn phòng ngay trong Nhà Trắng, có nhiệm vụ phối hợp chính sách kinh tế để đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Navarro là nhân vật chống Tàu, tác giả cuốn sách (và bộ phim) “Chết Bởi Trung Quốc”, nay trở thành nhà kinh tế quyền lực nhất. Bắc Kinh bị sốc trước quyết định bổ nhiệm Peter Navarro, cũng như Wilbur Ross (Bộ trưởng Thương mại), Robert Lighthier (Đại diện Thương mại). Sau cuộc điện đàm với Thái Anh Văn, việc bổ nhiệm ba nhân vật “diều hâu” chống Tàu là tín hiệu rõ ràng về ưu tiên của Trump. Chiến tranh thương mại và chạy đua vũ trang với Trung Quốc chỉ là vấn đề thời gian. Có nhiều lý do để Trung quốc lo ngại vì kinh tế đang xuống dốc và chính trị bất ổn. (“Peter Navarro is about to become one of the world’s most powerful economists”, Economist, Jan 21, 2017).


Thứ ba, Trump bổ nhiệm Rex Tillerson làm Ngoại Trưởng, một quyết định gây tranh cãi, không phải chỉ vì Tillerson là CEO của Exxon-Mobil, mà còn là nhân vật thân với Putin. Phát biểu của Tillerson trong buổi điều trần tại Thượng Viện (12/1/2017) càng làm lãnh đạo Trung Quốc bị sốc. Tillerson đã nói thẳng thừng rằng chiến dịch Trung Quốc xây đảo nhân tạo trị giá hàng tỷ đô-la tại Biển Đông (với tài nguyên dầu khí) là “bất hợp pháp và giống Nga chiếm Crimea…” và “Chúng ta sẽ nói rõ với Trung Quốc rằng trước hết, họ phải chấm dứt xây dựng đảo và thứ hai, chúng ta sẽ không cho phép họ tiếp cận các đảo này…”


Đó là một tín hiệu thay đổi lớn trong quan điểm của Mỹ về Biển Đông, với hàm ý là Mỹ sẽ dùng sức mạnh quân sự để ngăn chặn Trung Quốc bành trướng. Phát biểu của Tillerson đã làm chính giới và dư luận Trung Quốc bất ngờ và tức giận. Thực ra, Tillerson từ lâu đã lo ngại về Trung Quốc và thấy phải chống lại ý đồ quân sự hóa và bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông, sau vụ Exxon-Mobil (và các công ty khác) bị Trung Quốc ngăn cấm hợp tác dầu khí với Việt Nam. (“Rex Tillerson’s South China Sea Remarks Foreshadow Possible Foreign Policy Crisis”, Michael Forsythe, New York Times, Jan 12, 2017).


Stephen Bannon (chiến lược gia của Trump tại Nhà Trắng) cũng quan tâm đến chiến lược Châu Á và cho rằng chủ trương “xoay trục” sang Châu Á của Obama thất bại vì thiếu ngân sách quốc phòng nên yếu thế. Trump cũng bổ nhiệm nhiều tướng “diều hâu” và chuyên gia về Trung Quốc vào các vị trí chủ chốt như Bộ trưởng Quốc phòng (James Mattis), Cố vấn An ninh Quốc gia (Michael Flynn), Bộ trưởng Hải Quân (Randy Forbes), Giám đốc Châu Á tại Hội đồng An ninh Quốc gia (Matt Pottinger), Trợ lý Bộ trưởng về Châu Á tại Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng (Randall Schiver và Victor Cha). Đại sứ Mỹ tại Trung Quốc là Terry Branstad, tại Nhật là William Hagerty, tại Ấn Độ là Ashley Tellis. (“Trump could make Obama’s pivot to Asia a reality”, Josh Rogin, Washington Post, Jan 8, 2017).  


Bối cảnh quốc tế


Có thể nói, chính sách đối ngoại của chính quyền mới hình thành ngay trong giai đoạn chuyển giao quyền lực, trước khi Donald Trump nhậm chức. Diễn văn nhậm chức của Trump sặc mùi dân túy, chẳng khác diễn văn tranh cử trước đó, khẳng định quan điểm đối ngoại cứng rắn của Trump, và phủ nhận gần hết các di sản của Obama. Nó không chỉ làm người Mỹ chia rẽ mà còn làm thế giới hoang mang lo ngại, nhất là Trung Quốc.


Một số nhà phân tích cho rằng Trump sẽ chơi trò “ngoại giao tay ba” (Triangular Diplomacy) với Nga và Trung Quốc, nhưng “tinh tế hơn” (Alexander Vuving). Thay vì dùng lá bài Trung Quốc để chống Nga (thời Nixon-Kissinger), Trump sẽ dùng lá bài Nga để chống Trung Quốc. Lãnh đạo Trung Quốc tỏ ra lúng túng và bị động (như bị “phục kích”), chưa biết nên phản ứng và đối phó thế nào. Họ chưa gặp một Tổng thống Mỹ nào lại ăn nói và hành xử như vậy. Đối với một người không biết sợ như Trump, Trung Quốc rất khó nắn gân và hù dọa. Khó đoán được ý đồ thực của Trump là một thách thức lớn đối với Trung Quốc (“Trump Tweets China Retreats”, Gordon Chang, National Interest, Jan 6, 2017).


Trong khi Trung Quốc trỗi dậy “không hòa bình”, bắt nạt các nước khu vực và thách thức vai trò của Mỹ, thì Mỹ vẫn “chiều” họ bằng chính sách “Một Trung Quốc” (như chiều “Frankenstein”).  Tuy Nixon đã qua đời, nhưng Kissinger, là tác giả của chính sách “Một Trung Quốc” (theo “Shanghai Communique”), vẫn còn nhiều ảnh hưởng như một cây cổ thụ về chính sách đối ngoại từ thập niên 1970 (dù nay đã 93 tuổi). Tính đến nay, Kissinger đã đến thăm Trung Quốc tới 80 lần, và quen biết hầu hết lãnh đạo nước này.


Gần đây nhất, sau khi Trump đắc cử, Kissinger đã đến Bắc Kinh gặp Tập Cận Bình và Vương Kỳ Sơn (1/12/2016), trong khi Trump điện đàm với Thái Anh Văn (3/12/2016). Không biết là Kissinger đã nói gì với Trump khi họ gặp nhau bàn về Trung Quốc, nhưng sau đó khi được hỏi ông nghĩ gì về cựu ngoại trưởng Kissinger, Trump đã Twitted, “Một cây cổ thụ đã mục ruỗng, thì không nên tưới bón làm gì, chỉ tốn thời gian”.


Không phải Kissinger chỉ quan hệ chặt chẽ với Bắc Kinh, mà còn quan hệ chặt chẽ với Nga. Gần đây nhất, Kissinger đã đến Moscow đàm phán (bí mật) với Putin (3/2/2016). Ông cho rằng Mỹ sai lầm lớn nếu để Nga và Trung Quốc hình thành một liên minh kinh tế và chính trị. Vì vậy, Mỹ phải hợp tác với Nga để “cân bằng lực lượng toàn cầu”.  Nhưng tại sao Trump lại thân thiện với Nga mà không thân thiện với Trung Quốc, trong khi cả Nga và Trung Quốc đều tìm cách thách thức lợi ích và vai trò toàn cầu của Mỹ? 


Theo các cơ quan tình báo Mỹ (CIA và FBI), Nga đã can thiệp vào chính trị Mỹ bằng hacking (qua tin đồn giả) không phải chỉ làm Hillary Clonton thất cử, mà còn làm Donald Trump đắc cử, nhưng trở thành tổng thống “vịt què”, vì có tin đồn là Trump đã quan hệ với gái điếm Nga tại Moscow. Nói cách khác Trump đã từng bị tình báo Nga theo dõi và khống chế. Việc rò rỉ tin xấu vào đúng lúc Trump sắp nhậm chức có thể là đòn gió của Putin, muốn tác động vào sắp xếp nhân sự và chính sách của Trump (đối với Nga).


Dưới chính quyền Obama, chủ trương xoay trục sang Châu Á là một tầm nhìn đúng, nhưng thực hiện lại yếu vì Obama thiếu quyết đoán. Nay dưới chính quyền Trump, triển vọng có thể ngược lại, vì Trump là một tổng thống “con buôn” (dealer). Theo John Hudak (Brookings), có nhiều khả năng Trump sẽ điều hành Nhà Trắng như CEO của một tập đoàn kinh doanh. Có người còn cho rằng lãnh đạo thực sự của nước Mỹ không phải là Donald Trump mà là Rex Tillerson, vì “nước Mỹ không còn là một chế độ dân chủ, mà là một chế độ tài phiệt”. (Jimmy Carter interviewed by Oprah Winfrey, September 27, 2015).   


Bối cảnh khu vực


Tuy ASEAN đã trở thành “cộng đồng kinh tế” (AEC), nhưng đoàn kết ASEAN ngày càng yếu, vì bị Trung Quốc thao túng. Không chỉ có Campuchea và Thailand, mà cả Philippines và Malaysia cũng “xoay trục” sang Trung Quốc. Nếu không sớm cải tổ cơ chế thì ASEAN có thể mất vai trò và “Đoàn kết ASEAN” chỉ còn là khẩu hiệu.


Nếu vai trò lãnh đạo của Mỹ về kinh tế và an ninh khu vực giảm đi, với tương lai bất định của TPP và chính sách “xoay trục” dưới chính quyền mới, thì vai trò kinh tế và an ninh của Nhật tại khu vực phải mạnh lên tương ứng. Bất ổn trong “tam giác Mỹ-Trung-Việt” cần được hóa giải bằng “tứ giác Nhật-Úc-Ấn-Việt” trên cơ sở đối tác chiến lược toàn diện, với vai trò đầu tàu của Nhật, thay thế một phần vai trò lãnh đạo của Mỹ. 


Quan điểm cứng rắn của Rex Tillerson về Biển Đông là một dấu hiệu đáng mừng, xuất phát từ kinh nghiệm của ông ấy tại khu vực này, khi Exxon-Mobil có quan hệ hợp tác tốt về dầu khí với PetroVietnam (năm 2009) để khoan thăm dò hai vị trí tại Biển Đông. Khi bị Trung Quốc phản đối, các công ty khác buộc phải rút, nhưng Exxon-Mobil không bỏ cuộc, mà vẫn lặng lẽ theo đuổi dự án khai thác dầu khí tại Biển Đông. Vai trò của Exxon-Mobil (như một cường quốc) không chỉ có hợp tác dầu khí, mà còn vì địa chính trị.    


Đáng chú ý là quan điểm cứng rắn của Rex Tillerson lại trùng hợp với quan điểm cứng rắn của TNS John McCain (và một số người khác). McCain cho rằng không quốc gia nào ủng hộ cho sự thành công của Trung Quốc nhiều hơn là Mỹ… nhưng Trung Quốc lại chọn cách sử dụng sức mạnh và vị thế đang lớn lên của họ để phá vỡ trật tự đó. Trung quốc đã từng bước triển khai chính sách dọa dẫm và cưỡng bức để hỗ trợ cho mục tiêu bành trướng, một tiến trình được tăng tốc quyết liệt dưới sự lãnh đạo của Tập Cận Bình.

McCain còn cho rằng Mỹ và Việt Nam chia sẻ một loạt những quyền lợi kinh tế và chiến lược, và tin rằng đã đến lúc hai quốc gia cần triển khai “Sáng kiến Hàng hải Việt-Mỹ” (US-Vietnam Maritime Initiative). Sáng kiến này có thể bao gồm việc mở rộng các cuộc tập trận hỗn hợp trên biển. McCain hoan nghênh Việt Nam tham gia cuộc tập trận “Pacific Rim” và cho rằng Hải quân Hoa Kỳ cần tăng cường thăm Việt Nam…

TNS John Mccain và TNS Jack Reed đã cộng tác để bảo trợ “Sáng kiến An ninh Hàng hải” (Maritime Security Initiative), với kinh phí 1/2 tỉ USD, cho phép Bộ Quốc phòng Mỹ nâng cao năng lực hàng hải cho các đối tác của Mỹ tại Đông Nam Á…Năm nay, Ủy ban hành động lưỡng đảng sẽ nâng cấp sáng kiến này và cung cấp thêm nhiều nguồn lực mới. McCain cũng ủng hộ TPP, và cho rằng “Nếu TPP thất bại thì sự lãnh đạo của Mỹ tại Châu Á-Thái Bình Dương có thể thất bại theo…” (“The Need for Renewed American Leadership in Asia-Pacific”, John McCain, the Herritage Foundation, December 29, 2016). 

Bối cảnh Việt Nam


Trong giai đoạn mới, ngoại giao Việt Nam lại đứng trước ngã ba đường. Việt Nam phải định hướng lại mục tiêu chiến lược (vì lợi ích dân tộc) và điều chỉnh chính sách kịp thời. Chính sách “đu dây” của Việt Nam nhằm giữ thăng bằng với hai nước lớn (Trung Quốc và Mỹ) là một đặc thù lâu nay gây nhiều tranh cãi. Đây là một dịp tốt để lý giải nhằm làm rõ và điều chỉnh chính sách “đu dây” này trong bối cảnh quốc tế mới.


Trong lịch sử, Việt Nam đã từng phải “đu dây” giữa hai cường quốc cộng sản “thân hữu” nhưng “đồng sàng dị mộng” là Liên Xô và Trung Quốc. Muốn hay không, đó là định mệnh (hay nghịch lý) đối với Việt Nam, một nước nhỏ phải dựa vào hai nước lớn “thân hữu” để “chống Mỹ cứu nước”.  Thật trớ trêu, Việt Nam nay lại phải “đu dây” giữa Mỹ và Trung Quốc, như sự kế thừa và tiếp nối một định mệnh (hay một nghịch lý).


Trong khi Trung Quốc là nước láng giềng khổng lồ mà Việt Nam không được lựa chọn nhưng phải chung sống suốt đời, thì Liên Xô và Mỹ (cũng như Pháp) là những đế quốc “ngoại bang” mà Trung Quốc luôn ôm mối hận để phục thù. Điều đó lý giải tại sao Việt Nam phải “đu dây”.  Vấn đề không phải chỉ là hành động “đu dây” mà là lý do “đu dây”, và cách thức “đu dây”, liên quan đến bối cảnh lịch sử, lợi ích dân tộc, ràng buộc ý thức hệ, có thể làm người ta lẫn lộn về thái độ chính trị và ngộ nhận về bạn/thù. Đừng quên rằng, “không có đồng minh và kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích dân tộc vĩnh viễn” (Palmerston). 


Chủ nghĩa “tiệm tiến” (gradualism) và quan niệm “đặc thù” (exceptionalism) trong chính sách của Việt Nam, phản ánh tư tưởng bảo thủ (vì ý thức hệ), tư duy truyền thống (theo quy trình), và tâm trạng lo sợ hoặc nghi ngại (do tâm lý). Tâm trạng này có thể trở thành rào cản đối với tư duy đổi mới sáng tạo trong một cục diện mới. Theo Alexander Vuving, “Việt Nam tiếp tục tách xa dần (nhưng không quá xa) Trung Quốc, và tiếp tục xích lại gần (nhưng không quá gần) Mỹ, sợ làm Trung Quốc tức giận”.  (“Cops, Robbers and the South China Sea’s New Normal”, Alexander Vuving, National Interest, Dec 23, 2016). 


Đến lúc phải xoay trục   


Đã đến lúc phải “kiểm toán” chính sách đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ “Hậu Thành Đô” (1990-2016), trên cơ sở thành công hay thất bại. Qua mấy thập kỷ, Việt Nam đã bị lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc, cả về kinh tế, chính trị, và đối ngoại, vì mắc phải cái vòng “kim cô”. Muốn khắc phục những hệ lụy to lớn và lâu dài đó, Việt Nam phải đổi mới thể chế toàn diện, cả về kinh tế lẫn chính trị, cả về đối nội lẫn đối ngoại.


Quan hệ “4 tốt” và “16 chữ vàng” chính là cái vòng “kim cô” để Trung Quốc thực hiện tham vọng bành trướng bá quyền ở Biển Đông (như “Đường 9 đoạn”). Nó làm Việt Nam lệ thuộc và mất dần chủ quyền lãnh thổ. Sau khi Việt Nam mất Hoàng Sa (1974) và một phần Trường Sa (1988), sự kiện dàn khoan HD981 tại Biển Đông là một bước ngoặt bộc lộ bộ mặt thật của Trung Quốc, làm lãnh đạo Việt Nam giật mình tỉnh ngộ.   


Chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn trước dựa trên bốn trụ cột: (1) độc lập tự chủ (trong đó có chính sách “3 không”), (2) đa phương đa dạng hóa (trong đó có chủ trương “thêm bạn bớt thù”), (3) vừa hợp tác vừa đấu tranh (trong đó có “đối tác hợp tác” và “đối tượng đấu tranh”), (4) chủ động và tích cực hội nhập quốc tế (để trở thành “đối tác tin cậy” của cộng đồng quốc tế). Các trụ cột đó về cơ bản là đúng (như khẩu hiệu), nhưng không ổn (về thực chất) vì sự bất cập giữa tuyên bố chính sách (declared policy) và thực tiễn (reality), do thể chế lỗi thời và cái “vòng kim cô” làm lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc.    


Chính sách đối ngoại giai đoạn mới phải giúp Việt Nam thoát khỏi lệ thuộc vào Trung Quốc, để quan hệ dựa trên “tái cân bằng tích cực” (active rebalance). Tái cân bằng tích cực không phải là “đu dây”, và “thoát Trung” không có nghĩa là quay lưng lại với Trung Quốc. Sau sự kiện dàn khoan HD 981 và chiến dịch quân sự hóa các đảo mà Trung Quốc chiếm giữ tại Biển Đông, Việt Nam đã xích lại gần Mỹ. Chuyến thăm Mỹ chính thức của CTN Trương Tấn Sang (7/2013) và TBT Nguyễn Phú trọng (7/2015) là một bước ngoặt cho “đối tác toàn diện” và tầm nhìn chung Mỹ-Việt về an ninh quốc phòng, làm tam giác Mỹ-Trung-Việt thay đổi, nhưng vẫn chưa đủ trở thành “đối tác chiến lược” (vì cái “vòng kim cô”). 


Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Obama (23/5/2016) với tuyên bố bỏ cấm vận vũ khí, đã kết thúc quá trình bình thường hóa hơn 2 thập kỷ. Nhưng đáng tiếc, Việt Nam đã “đu dây” quá lâu (suốt 8 năm) không tranh thủ được cơ hội “xoay trục” của Mỹ dưới thời Obama để nâng cấp quan hệ thành “đối tác chiến lược” (như với 10 nước khác). Cơ hội đó đã bị tuột mất vì dưới chính quyền Donald Trump, TPP đã bị gác lại, chủ trương “xoay trục” cũng bị xem xét lại, và di sản của Tổng thống Obama có thể bị xóa sổ.   


Những giá trị cốt lõi


Thực chất quan hệ Trung-Việt (thời kỳ “Hậu Thành Đô”) là bất bình đẳng và lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc. Đã đến lúc Việt Nam phải “xoay trục” để thoát khỏi tình trạng “cân bằng tiêu cực”, thể hiện qua chính sách “3 không” và “đu dây” với các nước lớn để tồn tại. Chính sách đối ngoại trong giai đoạn mới (đổi mới vòng 2) cần dựa trên ba tiêu chí cơ bản, như giá trị cốt lõi: (1) độc lập trưởng thành (mature independence), (2) tái cân bằng tích cực (active rebalance), và (3) hội nhập tích cực (proactive integration).  


Một chính sách đối ngoại “độc lập trưởng thành” phải nhất quán về tư duy chiến lược, lấy lợi ích dân tộc làm mục tiêu tối hậu, không lệ thuộc vào ý thức hệ đã lỗi thời.  Đã đến lúc người Việt phải đổi mới tư duy triệt để, không thể tiếp tục “đu dây” cả về đối nội và đối ngoại tại ngã ba đường, như mấy thập kỷ qua. Cái giá phải trả về lợi ích lâu dài (do sự trì trệ) lớn hơn nhiều so với cái lợi trước mắt (vì “hoàng hôn nhiệm kỳ”).


Một chính sách đối ngoại “tái cân bằng tích cực” phải dựa trên sự cân đối và tương hỗ giữa đối nội và đối ngoại, giữa lợi ích quốc gia và hội nhập quốc tế, giữa cải cách thể chế kinh tế và đổi mới thể chế chính trị, để phát triển bền vững và dân chủ hóa. Để khai phóng năng lượng sáng tạo của người dân, phải xóa bỏ cơ chế lỗi thời về quyền sở hữu ruộng đất và độc quyền cho doanh nghiệp nhà nước theo “định hướng XHCN”.


Một chính sách đối ngoại “hội nhập tích cực” phải giúp các doanh nghiệp có điều kiện và cơ hội để hội nhập quốc tế, tham gia chuỗi giá trị và cung ứng toàn cầu. Dù tương lai TPP ra sao, thì Việt Nam vẫn phải sẵn sàng tham gia các thể chế tự do mậu dịch quốc tế (thế hệ mới). Việt Nam đã đi được một quãng đường dài từ WTO đến TPP, nhưng nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa quen với sân chơi toàn cầu hóa. Cần giúp họ phát huy các lợi thế tương đối của mình, để tăng cường năng lực cạnh tranh trên thị trường quốc tế.


Trong bối cảnh Tổng thống đắc cử Donald Trump điện đàm với bà Thái Anh Văn, bổ nhiệm Peter Navarro làm chủ tịch Hội đồng Thương mại Quốc gia, và cử Rex Tillerson làm Ngoại trưởng (với những phát biểu cứng rắn chống Trung Quốc), thì TBT Nguyễn Phú Trọng lại vội vàng sang thăm Trung Quốc (từ 12/1/2017). Ngay hôm sau, ngoại trưởng Mỹ John Kerry tới thăm Việt Nam lần cuối (13/1/2017). Thời điểm hai chuyến thăm bộc lộ sự bất cập chứng tỏ Việt Nam vẫn đang “đu dây” (vì sức ép của Trung Quốc).


Trong khi đó, PetroVietnam và Exxon-Mobil ký hai hợp đồng về khí tại mỏ “Cá voi xanh” (Blue Whale). Điều đáng lưu ý là thời điểm ký kết trùng với chuyến thăm của TBT Nguyễn Phú Trọng và ngoại trưởng John Kerry, điều trần tại Thượng Viện của Rex Tillerson (ngoại trưởng mới được đề cử) với những phát biểu cứng rắn chống Trung Quốc. Trong bối cảnh Trump quyết định rút khỏi TPP, thì hợp đồng hợp tác dầu khí với Exxon-Mobil tại Biển Đông không chỉ quan trọng về kinh tế, mà còn có ý nghĩa lớn về địa chiến lược.  


Ngay sau đó, thủ tướng Nhật Shinzo Abe đã đến thăm Việt Nam (16/1/2017) nhằm tăng cường hợp tác tại Biển Đông. Nhật muốn cải thiện năng lực tuần duyên của Việt nam, nên đã quyết định viện trợ cho Việt Nam thêm 6 tầu tuần duyên mới. Một quan chức Bộ Ngoại Giao Việt Nam phát biểu “hy vọng Nhật có vai trò lớn hơn về hợp tác an ninh quốc phòng”. Quan hệ Nhật-Việt cần phát triển theo hướng xây dựng nền tảng cho một tứ giác chiến lược mới do Nhật làm đầu tầu (“Japan-Australia-India-Vietnam Partnership”).     


Thay lời kết


Khi môi trường quốc tế và khu vực có nhiều biến động khó lường, và tình hình kinh tế, chính trị trong nước có nhiều bất ổn, đòi hỏi phải cải cách thể chế toàn diện (cả kinh tế và chính trị), thì chính sách đối ngoại cũng phải đổi mới theo tương ứng. Chính sách đối ngoại tuy là cánh tay kéo dài của chính sách đối nội, nhưng có nhiệm vụ làm đòn bẩy, hỗ trợ quá trình “đổi mới vòng 2” để phát triển bền vững. Đề cương đổi mới chính sách đối ngoại cần dựa trên đề cương đổi mới toàn diện của chiến lược phát triển quốc gia.


“Báo cáo Việt Nam 2035” chính là đề cương đổi mới, làm cơ sở xây dựng chính sách đối ngoại thời kỳ mới. Muốn thay đổi, phải gắn kết được trên với dưới, trong với ngoài, để huy động tối đa nguồn lực của dân tộc, nhằm kiến tạo một quốc gia giàu mạnh và văn minh. Đến lúc người Việt phải chứng minh Việt Nam không phải là một quốc gia hèn kém và lệ thuộc, quen dựa vào viện trợ nước ngoài, rằng người Việt Nam có thể hòa giải dân tộc, đứng dậy từ đổ nát và li tán, để tái tạo một quốc gia độc lập và dân chủ. Chỉ có độc lập và dân chủ mới thu phục được nhân tâm để kiến tạo một quốc gia giàu mạnh và văn minh.  


NQD. 1/2/2017 (5 Tết Đinh Dậu) 


Thứ Hai, 30 tháng 1, 2017

Đổi mới Báo chí

Đổi mới Báo chí

Về bên quê Bắc Ninh ăn tết trở ra Hà Nội thì nhận được thư chúc tết và bài viết này của anh bạn Nguyễn Quang Dy. Trong thư tác giả viết: "Đây là bài định viết cho ngày mồng Một để chúc Tết bạn hữu, nhưng vì mắc bận Tết nên hôm nay mới viết xong để kịp ngày "hóa vàng" (mồng ba Tết là ngày đẹp). Chúc chủ blog và độc giả năm mới an lạc và may mắn. Happy new year again!". (NQD).

Cám ơn tác giả Nguyễn Quang Dy, cây bút ghi nhiều dấu ấn trong năm 2016 vừa qua với những bài viết phân tích và bình luận sâu sắc về tình hình VN và thế giới. Nhiều độc giả VN và người đọc được tiếng Việt ở nước ngoài đã thành thói quen là đón chờ và tìm đọc Nguyễn Quang Dy.

Hầu hết các bài viết tiếng Việt của anh thường cũng có tiếng Anh do chính anh viết trực tiếp vì NQD sử dụng thành thạo ngoại ngữ này ngay từ những năm anh còn đi lam như một công chức ngành ngoại giao.

Trở lại bài viết " chúc tết" nhân ngày đầu xuân mới Đinh Dậu, điều mà tôi thích nhất là cái nhóm từ, cái mệnh đề được anh nhắc đi nhắc lại trong bài - là "Trở về Tương lai".

Tương lai là hướng đi tới, là ở thì vị lai. Ấy thế mà NQD lại bảo tương lai là "Trở về"?! Nói thế, viết thế mà không sợ người ta bảo là viết ngược, nói ngược ư ?!

Nhưng thực ra tác giả rất có lý bởi ngày xưa (1986), thời ông Nguyễn Văn Linh là Tbt đảng, chẳng đã có một thời đối mới đất nước rất ấn tượng, thì ngày nay là "quay về thời đổi mới đó", để mà duy trì, để mà đưa đất nước - trong đó có sự nghiệp báo chí - cùng đi tới, tiến lên hơn nữa chứ đâu có gì lạ...

Anh Nguyễn Quang Dy viết về báo chí cần đổi mới. Nhiều năm xưa anh Dy từng là một "hướng dẫn viên" rất có nghề cho đội ngũ báo chí phương Tây hùng hậu xin vào VN đưa tin viết bài về cuộc chiến tranh trước 1975.

Bản thân chủ blog cũng là nhà báo, theo đuổi nghề báo này suốt thời kỳ công tác của mình...

Như vậy là "tri kỷ, tri âm" với nhau, nên rất trân trọng giới thiệu với bà con và bạn bè bài viết của tác giả Nguyễn Quang Dy về báo chí như món quà tinh thần để chúng ta hãy cùng với nhau "khai đọc đầu xuân...

Vệ Nhi/Nguyễn Vĩnh

----- 

Đổi mới Báo chí: Trở về tương lai

Nguyễn Quang Dy



Chính phủ muốn “kiến tạo”, phải đổi mới thể chế (cải cách “vòng hai”), vì tình trạng kinh tế, chính trị, an ninh (đặc biệt là tài chính) đang ở mức báo động. Không có cách gì khác, và không còn chỗ lùi. Muốn đổi mới thể chế, phải đổi mới cả báo chí (vòng hai). Điều đó đã từng diễn ra sau Đại hội Đảng VI (12/1986), với khẩu hiệu “đổi mới hay là chết”, “hãy tự cứu mình trước khi trời cứu”, “nhìn thẳng vào sự thật và nói rõ sự thật…” (Nguyễn Văn Linh). Nói cách khác, đổi mới báo chí là “trở về tương lai” (back to the future). 

Bước ngoặt lịch sử

Thế giới đang bước vào một cuộc khủng hoảng mới, tạm gọi là khủng hoảng chính trị, mà đặc trưng là khủng hoảng thể chế, với quy mô toàn cầu. Hiện tượng Brexitism (tại Anh), Trumpism (tại Mỹ) có mẫu số chung là sự trỗi dậy của trào lưu dân túy và dân tộc. Chúng ta đang chứng kiến một bước ngoặt lịch sử, kết thúc một giai đoạn (toàn cầu hóa và thương mại tự do) để bước sang một giai đoạn mới (tạm gọi là “hậu toàn cầu hóa”).

Người ta ví tình trạng nước Mỹ (và thế giới) hiện nay gần giống với bối cảnh Liên bang Xô viết bị sụp đổ. Trật tự thế giới (world order) đang trở thành “disorder”, trước khi có một trật tự mới. Tại Mỹ, bầu cử tổng thống trở thành phong trào phản kháng của một bộ phận dân chúng bị toàn cầu hóa gạt ra lề. Nhưng họ bị phái dân túy lợi dụng bằng những khẩu hiệu dân tộc đầy mị dân để giành chính quyền bằng một cuộc “chính biến” (thông qua bầu cử). Trong bối cảnh đó, báo chí cũng bị khủng hoảng, phân hóa, và mất dần vai trò.


Báo chí truyền thống bị suy yếu do sự phát triển của mạng xã hội, và báo cực hữu lên ngôi (như Breitbart News). Công chúng bị thao túng bằng “fake news” và “fake policy”. Những nhà báo chính thống (như Dan Rather) bất bình và bất lực, trong khi những học giả có uy tín (như Paul Krugman) bi quan và thất vọng. Tại Việt Nam, báo chí cũng bị khủng hoảng và phân hóa thành “lề phải” và “lề trái”, cả hai cùng bị thao túng như nhau.

Trong bối cảnh đó, muốn giành lại vai trò và chức năng báo chí (như “Fourth Estate”) giới báo chí (nói chung) phải có tiếng nói độc lập và khách quan. Để có nội lực nhằm khẳng định vai trò phản biện và chức năng phê phán trong quá trình đổi mới thể chế, báo chí Việt Nam (nói riêng) cũng phải độc lập (Make journalism independent again!)   

Trở về tương lai

Báo chí độc lập và phê phán (independent & critical journalism) đã có cơ hội khởi sắc sau năm 1986, trong quá trình đổi mới (vòng một) cho tới thập niên 1990. Những nhà báo như Kim Hạnh (nguyên Tổng Biên tập báo Tuổi trẻ) là những tấm gương dũng cảm đi đầu trong phong trào đổi mới báo chí thời kỳ đó. Hãy nhớ lại không khí đổi mới (vòng một) để tìm cảm hứng cho đổi mới (vòng hai). Nói cách khác là “trở về tương lai”.

Thực ra cách đây khoảng một thế kỷ, người Việt đã “khởi nghiệp” nền báo chí độc lập, với những nhân vật tiên phong tiêu biểu như Nguyễn Văn Vĩnh và Trương Vĩnh Ký. Đó là một giai đoạn lịch sử đáng ghi nhớ với sự xuất hiện đồng thời của công nghệ in ấn hàng loạt và phong trào dùng chữ quốc ngữ. Giao thoa văn hóa với thế giới phương Tây, đặc biệt là dòng văn học lãng mạn và nhân văn của Pháp, đã truyền cảm hứng và làm hình thành một tầng lớp trí thức Việt mới đầy năng động (như một “giai cấp sáng tạo”).

Đó chính là “cách mạng truyền thông lần thứ nhất”, cái nôi của báo chí hiện đại, cùng với phong trào “Tự lực Văn đoàn”, phong trào “Thơ mới” và “Tranh mới”…Tại Viêt Nam đã xuất hiện một thế hệ trí thức mới gồm những nhà báo, nhà thơ, họa sỹ tài hoa, mà tên tuổi đã đi vào lịch sử như một di sản và “sức mạnh mềm” của dân tộc. Họ mang đậm dấu ấn nhân văn và dân tộc trước buổi hoàng hôn của chủ nghĩa thực dân cũ. Đó là hệ quả không định trước tại một bước ngoặt lịch sử. Liệu lịch sử có lặp lại để “trở về tương lai”?



Ngày nay, sự phát triển bùng nổ của Internet và truyền thông kỹ thuật số, đã làm xuất hiện các thể loại “báo mới” (new media) như “social networks & blogosphere”. Đói là hệ quả và dấu ấn của trào lưu toàn cầu hóa, cái nôi của “cách mạng truyền thông lần thứ hai”. Sự hình thành các “xa lộ thông tin” không chỉ làm hạ tầng kỹ thuật cho sự phát triển công nghệ mới và thương mại tự do, mà còn làm vô hiệu hóa hệ thống kiểm duyệt báo chí truyền thống, mở cửa cho thế giới mạng phát triển và lấn sân báo chí chính thống.

Vai trò của báo chí “chính thống” (mainstream media) với hơn 700 cơ quan báo chí “lề phải”, đang bị lu mờ và mất dần vai trò, trong khi báo chí “ngoài luồng” (fringe media) như các trang mạng “lề trái” và Facebook phát triển vô tội vạ, làm “vàng/thau” lẫn lộn. Vì vậy, muốn báo chí có tiếng nói độc lập, khách quan và xây dựng, phải nâng cao dân trí và đổi mới thể chế báo chí (cả “lề phải” và “lề trái”) để hợp nhất thành một dòng chảy.   

Báo chí độc lập

Báo chí muốn độc lập phải khách quan (objective, impartial), một nguyên tắc hàng đầu của báo chí. Điều đó có nghĩa là nhà báo không tham gia phe phái nào, và không ủng hộ bên này chống bên kia. Độc lập còn thể hiện bằng chức năng phản biện và phê phán, để phản ánh đúng sự thực và bênh vực lẽ phải, không khuất phục cường quyền.  

Báo chí muốn độc lập phải trung thực (truthful, honest), không nói sai sự thật hoặc làm sai lạc thông tin để bóp méo sự thât (fake news/half truth). Nhà báo không được trở thành công cụ của các phe phái hay nhóm lợi ích (do bị mua chuộc hay bị đe dọa), vì vậy phải liêm chính, không được lợi dụng nghề nghiệp để kiếm tiền hay lợi ích riêng.  

Báo chí muốn độc lập (có thái độ khách quan và trung thực) phải kiểm chứng nguồn tin (verify sources). Đó là cam kết và nguyên tắc hàng đầu để tránh hồ đồ và ngộ nhận, và tránh không bị các nhóm lợi ích lợi dụng và thao túng, trở thành cái loa tuyên truyền và làm tay sai cho họ. Trong bối cảnh hiện nay, khi các phe phái đang phân hóa và tranh giành lợi ích quyết liệt, thì báo chí vừa là công cụ vừa là mục tiêu bị tấn công.  



Sức mạnh của ngòi bút (power of a pen) không dựa vào thế lực hay tổ chức nào, mà do giá trị thông tin dựa trên sự thật, nhằm mục đích cuối cùng (bottom line) là phục vụ lợi ích công chúng (public interest). Muốn thông tin có giá trị thuyết phục thì nguồn tin phải trung thực, và người đưa tin phải độc lập và khách quan. Trong số các nguyên tắc báo chí hàng đầu, thì cam kết đối với sự thật và trách nhiệm đối với công chúng là cao nhất (first and formost), dù sự thật có thể chưa công bằng (fair) hay thiếu cân bằng (balanced).
Theo Bill Kovach (Chairman, the Committee of Concerned Journalists), “Mục đích của báo chí là cung cấp cho nhân dân thông tin mà họ cần để họ được tự do và tự quyết”. (“The Elements of Journalism: What News People Should Know and the Public Should Expect”. Bill Kovach & Tom Rosenstiel, Crown Publishers, 2001).

Sự thật (facts & truth) về bản chất không có phe phái và không thể thay thế. Không thể có “sự thật khác” (alternative facts): đó chẳng qua là “fake news” để các nhóm lợi ích hù dọa (bully) hay lừa gạt, làm công chúng lẫn lộn (confused). Báo chí độc lập phải tôn trọng sự thật, vì đó là “nền móng” (bedrock) của nền dân chủ (Dan Rather). 

Khó thay đổi    

Trong bối cảnh các nước chuyển đổi và khủng hoảng về thể chế (như Việt Nam), nhà báo có thể “tự diễn biến”, đánh mất lòng tin của công chúng. Ví dụ, tổng biên tập một tờ báo “chính thống” đã hồn nhiên dạy đời, “nghề phóng viên là phải như con chó ấy” (biết phục tùng chủ). Gần đây, một số báo “lề phải” đã tham gia vào “cuộc chiến nước mắm”,  làm tổn hại lợi ích cộng đồng, do đó đánh mất hết lòng tin của công chúng đối với báo chí “chính thống”. Vì vậy, muốn độc lập, trước hết nhà báo phải có tư cách (integrity).


Trong thời đại Internet, với sự bùng nổ của truyền thông trực tuyến (online media), vai trò của “truyền thông công dân” ngày càng lớn. Các nhà báo (dù là “lề trái” hay “lề phải”) muốn có tư cách trong thế giới truyền thông kỹ thuật số (khó bị kiểm duyệt) thì trình độ dân trí cần phải cao. Không phải chỉ để họ nắm vững và ứng dụng công nghệ mới, mà họ cần hành xử với nhau trên mạng một cách có văn hóa. Tình trạng “chửi bới và ném đá” tràn lan trên mạng chứng tỏ dân trí còn thấp. Làm sao đổi mới để “trở về tương lai”?   
Một số quan chức có tư duy độc lập, nhưng phải chờ nghỉ hưu mới dám lên tiếng (do lo sợ hay ám ảnh bởi quy chế): Hiện tượng đó nay được gọi là “hoàng hôn nhiệm kỳ”. Hầu hết những người cộng sản (bên thắng cuộc) và chống cộng (bên thua cuộc), tuy chống đối nhau quyết liệt, nhưng lại giống hệt nhau vì cùng cực đoan: Hơn 40 năm sau cuộc chiến, họ vẫn không thể hòa giải chỉ vì “treo cờ đỏ hay cờ vàng”. Mỗi lần Tết Nguyên đán đến, người Việt lại được xem chương trình “Gặp nhau Cuối năm” (Táo quân). Suốt 13 năm qua, người Việt vẫn ăn một món ăn tinh thần ngày Tết, được sào nấu lại mà không chán!

Tết đến, xuân về là thời điểm ý nghĩa nhất của năm mà người ta thường tự vấn để gột sạch lương tâm và mở rộng tấm lòng với đồng loại, để chào đón một năm mới với hy vọng đổi mới. Vì vậy, hãy đổi mới thể chế và báo chí để “trở về tương lai!”   

NQD. 30/1/2017 (3 Tết Đinh Dậu)


Thứ Hai, 23 tháng 1, 2017

Câu chuyện đổi mới và trọng dụng nhân tài

Câu chuyện đổi mới và trọng dụng nhân tài

Cây bút Nguyễn Quang Dy bảo ông viết bài này như để có một lời tiễn ông Công ông Táo cưỡi chép đi chầu Trời, kết thúc năm cũ đầy biến động và đón chờ một năm mới chắc cũng rất nhiều chuyển biến...Vấn đề với một quốc gia là cần không những là nhận thức đúng, còn phải biết vận dung, tự đổi mới không ngừng để thích nghi và tiến lên.

Mình đọc hết bài và chợt nghĩ, kể ra Táo Quân nếu bỏ chút thời giờ vàng ngọc bận rộn cuối năm mà đọc cho kỹ được thì biết đâu có thể trích lược ra một số ý tứ, một số chi tiết trong nội dung của bài để bổ sung và làm phong phú cho bài Sớ tâu trình lên Thiên đình đúng vào thời điểm chia tay năm cũ Bính Thân của con Khỉ, và đón năm mới Đinh Dậu của con Gà. Trên Thiên đinh với đầu não tối cao sẽ lọc lựa những điều tốt điều hay để "chỉ đạo" dưới trần thế, biến năm con Kế  (vàng) đạt thành tựu cao hơn nữa về mọi mặt.

Bài viết của Nguyễn Quang Dy đã xuất hiện ở một số trang Blog mấy hôm vừa qua thu hút nhiều người vào đọc. Hôm nay tác giả có xem lại và thấy cần sửa chữa ít đoạn. Làm vậy cũng là để "vừa ý" về nội dung cho một tờ báo ở trong Tp HCM có thể đăng tải rộng rãi được. và tác giả đã gửi bài sửa chữa này cho trang blog của tôi. 

Xin cám ơn tác giả Nguyễn Quang Dy và giới thiệu bài viết này đến với bà con làng blog và bạn bè cùng đọc như thể lời tiễn biệt Đông tàn, đón Xuân Mới đã bước gần tới ngưỡng cửa mọi nhà...

Vệ Nhi

-----



Đổi mới thể chế và trọng dụng nhân tài


Tác giả Nguyễn Quang Dy
 
Các đế chế trong tương lai là các đế chế của trí tuệ…Cuộc chiến trong tương lai là cuộc chiến vì nhân tài” (Winston Churchill, 1943).

Mỗi lần Tết đến, người Việt theo truyền thống thường tự vấn lương tâm, xem lại bản thân mình và hiện trạng đất nước, để đổi mới. Thật là vô lý khi năng suất lao động của Viêt Nam lại thua Singapore tới 23 lần. Nên nhớ, trong thập niên 1960 Singapore chỉ mong ước được như Sài Gòn. Nhưng nay Việt Nam ngày càng tụt hậu, phải sang Thái Lan và Căm Pu Chia học cách trồng lúa. Nếu không đổi mới, Việt Nam sẽ thua các nước “KLM”. Muốn đuổi kịp thiên hạ, phải đổi mới thể chế và cách quản trị, để trọng dụng nhân tài. 




Đổi mới tư duy quản lý nhân sự (hành chính sự vụ) thành tư duy quản trị nhân lực (coi trọng con người) là quá trình thay đổi nhận thức, đòi hỏi phải hiểu biết thực sự về con người. Từ phủ nhận (và coi rẻ) trí thức đến thừa nhận (và coi trọng) trí thức là chặng đường dài, đòi hỏi phải từ bỏ ý thức hệ đã lỗi thời. Từ quản trị nhân lực đến quản trị nhân tài (trọng dụng tài năng) là quá trình đổi mới tư duy quản trị cao hơn, đòi hỏi phải biết: (a) nhận dạng đúng tài năng, (b) thu hút và giữ được tài năng, (c) quản trị và phát triển được tài năng.

Đổi mới tư duy

Người xưa đã nói “nhân tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn” (Thân Nhân Trung, đời Lê). Nhưng trong một thời gian dài, xã hội Việt Nam đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi chủ nghĩa Mao. Thời Cách mạng Văn hóa, Mao đã từng nói huỵch toẹt “trí thức không bằng cục phân”. Người ta đã phủ nhận vai trò trí thức và nhân tài, đánh đồng trí thức với kẻ thù cách mạng, phải “đào tận gốc, trốc tận rễ”. Hai thế hệ người Việt đã bị “tẩy não” đi theo mê lộ Maoism (nên dẫn đến Thành Đô). Nay muốn phản tỉnh để “thoát trung” thì e quá muộn. 

Khi chủ trương “vừa hồng vừa chuyên”, người ta muốn “trí thức” có vai trò trong xã hội, nhưng vẫn đặt “chuyên” dưới “hồng”, do “hồng” chỉ đạo, phải phục tùng “hồng” như là công cụ để trang trí. Nếu “ngoan” thì được chấp nhận cho tồn tại, nếu không sẽ bị ngược đãi và vô hiệu hóa. Về cơ bản, đó vẫn là hệ tư tưởng chính thống xuyên suốt, dần dần đi vào tiềm thức, và được “nội địa hóa” một cách “sáng tạo”. Điều đáng nói là khi người Trung Quốc thấy sai phải sửa, thì người Việt vẫn tiếp tục đi theo mê lộ cũ (như mộng du).  

Theo quy luật thông thường, muốn thay đổi một thực trạng xã hội, phải bắt đầu bằng đổi mới tư duy của mọi người trong cộng đồng, để biến tư duy thành hành động. Nhưng rất khó thay đổi nếu tư duy và tư tưởng đã đi sâu vào tiềm thức. Muốn thay đổi tiềm thức, trước hết phải phản tỉnh để giác ngộ. Gần đây, khi trao đổi với một nhà khoa học (prof Paul Brown) về tư duy, ông ấy khẳng định “tư tưởng có thể di truyền”. Thật đáng sợ!   

Vì vậy, lâu nay chúng ta không trọng dụng nhân tài, mà chỉ quan tâm đến “chân dài” và các đại gia, dù họ sẵn sàng hy sinh lợi ích chung (như môi trường) vì lợi ích riêng (vì “ngu gì mà không làm thép”); Hoặc các quan chức và học giả ngọng (nhưng sẵn bằng cấp giả), và các quan tham cho đến khi bị truy cứu trách nhiệm thì nhanh chân chạy ra nước ngoài “chữa bệnh”; Hay các quan chức báo chí hồn nhiên tự ví mình “như con chó”, và một số báo “lề phải” đã bán rẻ tư cách và đạo đức nghề nghiệp trong “cuộc chiến nước mắm”.

Đổi mới quản trị 

Những năm qua, hàng trăm ngàn doanh nghiệp phá sản, không phải chỉ vì tác động của suy thoái toàn cầu, mà còn vì nguyên nhân nội tại. Trong bối cảnh bất ổn vĩ mô và khủng hoảng thể chế, các doanh nghiệp lãnh đủ hệ lụy của hệ thống giáo dục đào tạo lạc hậu, với tư duy trì trệ đã làm thui chột hai thế hệ. Muốn đổi mới để phát triển, các doanh nghiệp phải tự mình xoay sở, không ngồi chờ “trời cứu”. Phải tái đào tạo nhân lực và đổi mới quản trị, để trọng dụng nhân tài. Muốn tránh tụt hậu và bẫy thu nhập trung bình, phải đổi mới tư duy “truyền thống”, vốn hay chấp vào “quy trình” và hình thức (như “cờ đèn kèn trống”).    

Quốc gia nào đổi mới triệt để thì phát triển nhanh và giàu mạnh. Quốc gia nào không nghiêm túc đổi mới thì tụt hậu trở thành “trâu chậm uống nước đục”, dẫn đến khủng hoảng. Doanh nghiệp cũng tương tự như quốc gia, chỉ khác nhau là vi mô hay vĩ mô mà thôi. Câu chuyện hưng thịnh hay suy vong của một quốc gia hay doanh nghiệp không phải mới, nhưng cần tìm lời giải mới, khi thế giới biến động chuyển sang giai đoạn mới. 

Để phân tích và tìm lời giải, hãy liên hệ mấy ví dụ điển hình để so sánh: (1) Israel và các nước láng giềng Arab; (2) Nước Đức và các nước láng giềng Đông Âu; (3) Singapore và các nước láng giềng “KLMV”. Nước Mỹ hiện nay là một hiện tượng mới đáng suy nghĩ, với những biến cố khôn lường, dẫn đến những hệ quả bất định. Đối với các nước đang chuyển đổi, thì quản trị nhân lực và trọng dụng nhân tài càng quan trọng.
   
Thay đổi thể chế

Muốn phát triển phải thay đổi. Đó là quy luật tự nhiên (như “Sinh-Lão-Bệnh-Tử). Nhưng thay đổi (một thực trạng xã hội) nhanh hay chậm, triệt để hay nửa vời, phụ thuộc nhiều vào thay đổi thể chế. Một rào cản lớn gây ách tắc là chậm thay đổi thể chế toàn diện, bao gồm cả thể chế kinh tế và chính trị. Nếu chỉ đổi mới về thể chế kinh tế, nhưng không đổi mới về thể chế chính trị
(như Trung Quốc và Việt Nam), thì mới chỉ giải được một nửa bài toán phát triển, vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro nguy hiểm như một quả bom nổ chậm.

Trung Quốc đã cất cánh về kinh tế, vì đã cải cách một cách thực dụng (“mèo trắng mèo đen miễn là bắt được chuột”). Còn Việt Nam vẫn chưa cất cánh về kinh tế, vì chưa thực sự đổi mới kinh tế thị trường, còn duy trì “định hướng XHCN”, vẫn bảo hộ các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ và phá sản (như Vinashin, Vinalines). Mặt khác, trong khi Trung Quốc vơ vét nguyên liệu thô để sản xuất hàng tiêu dùng bán ra khắp thế giới để tích tụ tư bản, thì Việt Nam bán hết nguyên liệu thô lấy tiền nhập hàng tiêu dùng, dẫn đến nhập siêu. Đó là “vấn nạn kép” của nền kinh tế Việt Nam như là một mô hình “không chịu phát triển”.  

Trong bối cảnh bất ổn vĩ mô, các nhóm lợi ích thân hữu thao túng, làm tham nhũng tràn lan, môi trường ô nhiễm nặng nề, các doanh nghiệp cần đổi mới tư duy quản trị, để tránh những hệ lụy của một thể chế lỗi thời, làm thui chột nhân tài. Nếu không muốn tụt hậu và mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam phải đổi mới thể chế như Bộ trưởng Bùi Quang Vinh đã phát biểu tại Đại Hội Đảng 12, theo tinh thần “Vietnam Report 2035” (do Bộ KH-ĐT và World Bank chủ trì). Nói cách khác, muốn tháo gỡ ách tắc, “Người ta không thể giải quyết vấn đề bằng chính tư duy đã tạo ra nó” (Albert Einstein, 1879-1955).

Tôn trọng con người

Ngày nay, ai cũng biết con người là tài nguyên quan trọng nhất và bền vững nhất. Nhưng không được bóc lột và coi con người như công cụ lao động. Mô hình khai thác nguồn nhân lực bằng bóc lột và coi thường nhân phẩm đã lỗi thời và bị lên án, nhưng vẫn còn tồn tại ở các nước lạc hậu và độc tài. Đó là nguyên nhân gây bất ổn và xung đột. Những biến động tại các nước Arab Bắc Phi là một minh chứng. Gần đây, hiện tượng Brexitism và Trumpism là một dấu hiệu mới về khủng hoảng thể chế toàn cầu. Đó cũng là lời cảnh báo về rủi ro tiềm ẩn, đối với những nước nào còn duy trì những thể chế lỗi thời đầy bất công.  




Trong xã hội văn minh có nền kinh tế tri thức, muốn khai thác tài nguyên con người (mỏ người), nhất là nhân tài (như mỏ vàng) thì phải thực sự tôn trọng con người, tôn trọng nhân quyền, xây dựng một xã hội dân sự. Đó chính là “hạ tầng mềm” cần thiết để khai thác tài nguyên con người, nhằm phát triển bền vững. Đó là sự khác biệt cơ bản của các quốc gia khởi nghiệp (như Israel), hay các quốc gia tái tạo (như nước Đức thống nhất).

Đối với các doanh nghiệp cũng tương tự như vậy. Doanh nghiệp nào thực sự tôn trọng con người, khai phóng được tiềm năng con người, sẽ phát triển nhanh và bền vững. Năng lực sáng tạo và năng lượng tích cực của con người là tài sản quý nhất, tạo ra của cải. Những người làm công tác nhân sự phải có hiểu biết sâu sắc về con người, chứ không phải chỉ thạo về “quy chế” nhân sự, vì tư duy hành chính sự vụ là một rào cản. 

Bài học Trung Quốc

Theo “Lý thuyết Rào cản” (Theory of Constraints), thì phải phát hiện chính xác “nút thắt” (bottleneck) để tháo gỡ từng điểm một. Muốn tháo gỡ ách tắc, phải áp dụng “Quy tắc 20/80” (Pareto Principle) có trọng tâm trọng điểm, tập trung vào “những việc cốt yếu” (vital few), chứ không sa vào “những việc vặt” (trivial many). 

Năm 1999, để đối phó với khủng hoảng giáo dục và tháo gỡ ách tắc về nguồn nhân lực, phục vụ cho chiến lược “4 hiện đại hóa”, lãnh đạo Trung Quốc đã thông qua “Luật Giáo dục Đại học”, với các đề án trọng điểm như “211 và 985”, nhằm mục tiêu đưa các trường Đại học hàng đầu Trung Quốc lên ngang tầm thế giới (vào đầu thế kỷ tới). Theo “Đề án 985” Trung Quốc đã đầu tư 217 triệu USD cho 2 trường ĐH đứng đầu là Bắc Kinh và Thanh Hoa. Sau đó đầu tư tiếp hơn 500 triệu USD cho 7 trường ĐH hàng đầu khác.

Tuy chưa cải cách thể chế toàn diện, nhưng Trung Quốc đầu tư có trọng điểm (Pareto). Chỉ sau dăm năm, trường ĐH Thanh Hoa và Bắc Kinh đã bắt đầu khởi sắc như “world class”. Trong khi “China Program” tại Harvard hợp tác với ĐH Thanh Hoa, mỗi năm đào tạo 60 cán bộ cao cấp (theo đơn đặt hàng của Bắc Kinh), thì “Vietnam Program” tại Harvard không làm được điều đó, vì Việt Nam sợ Mỹ “diễn biến hòa bình” (thật là nghịch lý).  

Nhờ đầu tư có trọng điểm nên chỉ trong vòng một thập kỷ, Trung Quốc đã có một số trường ĐH đạt tầm “world class”. Cuối 2009, có 9 trường ĐH hàng đầu tuyên bố thành lập “Liên minh C9”, được gọi là “Ivy League” Trung Quốc. Cũng trong những năm đó, số lượng sinh viên ĐH đã tăng gấp đôi. Tính tới năm 2010, Trung Quốc đã có 40 triệu sinh viên. Số lượng các trường ĐH tăng từ 1.022 trường (1998) lên 2.358 trường (2010).

Bài học Viêt Nam

Năm 2003-2004, Việt Nam cũng bắt chước làm “Dự án Phát triển Nhân tài”, do một ủy viên Bộ Chính trị (ông Trần Đình Hoan) chủ trì, giao cho Đại học Quốc gia Hà Nội triển khai. Dự án tầm quốc gia này, cũng như nhiều đề án hoành tráng khác nhằm cải cách giáo dục, đều lần lượt phá sản, lãng phí bao công sức và nguồn lực. Tại sao? Đơn giản vì: (1) Vẫn trọng hình thức, thay cho thực chất, (2) Vẫn đầu tư dàn chải, không có trọng tâm trọng điểm, (3) Vẫn làm theo quy trình với “đặc thù Việt Nam” (exceptionalism). 

Kết cục là, trong khi Trung Quốc đột phá, tháo gỡ được nút thắt về nguồn nhân lực, giúp nền kinh tế cất cánh, thì Việt Nam tiếp tục ách tắc và tụt hậu (sau Singapore gần 200 năm, và sau Thailand hơn 50 năm). Trong khi đó, người Việt vẫn lẩn quẩn tranh luận về “định nghĩa trí thức” (như còn mê ngủ). Có nhiều dự án “nâng cao năng lực” tiêu tốn nhiều nguồn lực quốc gia và quốc tế, nhưng kết quả vẫn “bình mới rượu cũ”.  Vì vậy, một chính phủ “kiến tạo” phải dám đổi mới thể chế, biết thu hút và trọng dụng nhân tài để xây dựng một nền kinh tế tri thức. Trọng dụng nhân tài không có nghĩa là “dân vận” bằng mị dân và nghị quyết, làm Việt Nam ngày càng tụt hậu và thua trong cuộc chiến thu hút nhân tài.

Đến nay, 12/13 quán quân chương trình “Đường lên đỉnh Olympia” ở lại nước ngoài. Nguyên nhân chính làm tài năng trẻ bỏ đất nước ra đi là do không biết trọng dụng nhân tài, chỉ quan tâm đến bằng cấp, môi trường làm việc lạc hậu, chế độ đãi ngộ thấp kém. Việt Nam có 412 trường đại học, với 2,2 triệu sinh viên, nhưng tính đến năm 2016, có 225.000 cử nhân và thạc sĩ thất nghiệp, vì nền giáo dục thiếu khai phóng nên chất lượng tụt hậu. Giới trẻ không nên “tự sướng” vì thành tích xếp hạng PISA, và đừng chạy theo phong trào “khởi nghiệp” thiếu thực chất, vì giấc mộng làm giàu dễ như gameshow “Ai là Triệu phú”. Đó là những trò dễ gây ngộ nhận (một căn bệnh kinh niên khó chữa của người Việt).  

Thay lời kết 

Cơn sốt săn lùng nhân tài (“The War for Talent”, Steven Hankin, McKinsey, 1997) là cuộc chiến khốc liệt trong thời đại công nghệ cao, không chỉ giữa các công ty mà còn giữa các quốc gia, để “cân bằng nhân tài” (như “cân bằng quyền lực”). Hiện nay, Mỹ, Canada, Anh, Úc là 4 đế chế trí tuệ hàng đầu (“empires of the mind”) thu hút nhân tài toàn cầu, chiếm 75% nhân lực tay nghề cao của các nước OECD (riêng Mỹ chiếm 40%). Tại Silicon valley (một vườn ươm tài năng công nghệ cao) gần 70% kỹ sư đến từ ngước ngoài.   




Chỉ số Phát triển (Development Indicators) của một quốc gia (như tốc độ tăng trưởng GDP, bình quân đầu người, và năng suất lao động…) thường tỷ lệ thuận và tương ứng với Chỉ số Tài năng (Talent Indicators) của quốc gia đó (thu hút, trọng dụng nhân tài và “giai cấp sáng tạo”). Nhân tài là yếu tố đầu tiên để phát triển, nên quốc gia nào càng thu hút được nhiều nhân tài, thì càng phát triển bền vững. Hơn 3/4 các nhà quản trị nguồn nhân lực trên toàn cầu (được khảo sát) cho biết việc thu hút và giữ chân nhân tài là ưu tiên số một.

Muốn tháo gỡ các nút thắt quản trị, để tái cấu trúc nguồn nhân lực, phải đổi mới thể chế nhằm: (1) Tạo ra sân chơi mới, để phát triển xã hội dân sự; (2) Thay đổi luật chơi, để giải phóng năng lượng sáng tạo; (3) Tạo ra mũi nhọn, để đột phá tháo gỡ các nút thắt. Thông điệp đổi mới “vòng hai” là đổi mới thể chế và quản trị để biến tư duy đột phá thành hành động quyết liệt, taọ ra sự khác biệt để “biến điều không thể thành có thể”. Khẩu hiệu đổi mới là “đổi mới hay là chết” và “hãy tự cứu mình trước khi trời cứu” (Nguyễn Văn Linh).

NQD. 20/1/2017 (tức 23/12 âm lịch)