Loading...

Thứ Ba, ngày 24 tháng 5 năm 2016

Di sản của Obama & Bàn cờ Biển Đông

Di sản Obama & Bàn cờ Biển Đông



Đang trên đường đi Quảng Ninh nhận được bài viết m9wis của tác giả Nguyễn Quang Dy. Bài hay. Rất hợp thời sự, thời cuộc với chuyến đi của ông Obama tới thăm VN. Phải rẽ vào một quán Net dọc đường để post bài, vì thế có thể "thiếu sót về kỹ thuật" gì đó, xin thể tất. Miễn chấp vì chủ blog tôi chỉ nhắm vào cái đích là bài cần kịp thời...

Vệ Nhi

-----



Di sản của Obama & Bàn cờ Biển Đông

Nguyễn Quang Dy

Tuần này, tổng thống Obama thăm chính thức Việt Nam (23-25/5/2016). Đây là chuyến thăm đầu tiên và cũng là cuối cùng với cương vị tổng thống (trong 8 năm cầm quyền). Chuyến thăm này quan trọng, vào một thời điểm quan trọng, có thể so sánh với chuyến thăm của Bill Clinton, với bài diễn văn nổi tiếng (17/11/2000). Nếu Bill Clinton đã đi vào lịch sử với quyết định bình thường hóa với Việt Nam (11/7/1995), thì hôm nay Barack Obama cũng đi vào lịch sử với quyết định bỏ cấm vận vũ khí, để hoàn tất quá trình đó (23/5/2016).


Mỹ-Việt: Trở lại tương lai?




Bill Clinton còn quay lại Việt nam nhiều lần, với cương vị cựu tổng thống và chủ tịch quỹ Clinton. Gần đây nhất là khi Bill Clinton tới Việt Nam để dự lễ kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ (2/7/2015), và quan trọng hơn là để chuẩn bị và “hộ tống” Tổng Bí thư Nguyễn phú Trọng sang thăm Mỹ (6-10/7/2015). Hillary Clinton cũng đã thăm Việt Nam nhiều lần, với cương vị phu nhân tổng thống hoặc ngoại trưởng. Ông bà Clinton đã để lại một di sản lớn và những dấu ấn khó quên trong lịch sử quan hệ Mỹ-Việt.

Vậy sau chuyến thăm này, tổng thống Obama sẽ để lại di sản gì cho quan hệ Mỹ-Việt? Có lẽ trong bối cảnh hiện nay, vấn đề then chốt nhất là bỏ hoàn toàn cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Điều đó không những có ý nghĩa hoàn tất quá trình bình thường hóa quan hệ hai nước, mà còn có tác dụng thúc đẩy chiến lược xoay trục (hay tái cân bằng lực lượng) của Mỹ tại Đông Á, vì lợi ích sống còn của hai nước tại Biển Đông.

Trong nhiệm kỳ hai, Tổng thống Obama đã làm được hai việc lớn: Đó là ký thỏa thuận hạt nhân với Iran và bình thường hóa quan hệ với Cuba. Hôm nay, quyết định bỏ nốt cấm vận vũ khí cho Việt Nam có lẽ là một sự kiện quan trọng không kém, để biến Việt Nam thành đối tác chiến lược, và hiện thực hóa chủ trương xoay trục (tái cân bằng lực lượng). Chỉ còn mấy tháng nữa để Obama củng cố vị trí lịch sử của mình tại Châu Á, có thể sánh vai với Bill Clinton, như một chính khách lớn và người bạn lớn của Việt Nam. 
 

Nhận xét về quan hệ Mỹ-Việt 40 năm qua, Patrick Cronin, giám đốc Chương trình An ninh Châu Á-Thái Bình Dương (tại CNAS), cho rằng trong 20 năm hậu chiến (1975-1995), quan hệ Mỹ-Việt đã chuyển đổi từ cựu thù thành bình thường hóa. Trong 20 năm tiếp theo (1995-2015), Mỹ- Việt đã chuyển đổi từ bình thường hóa thành đối tác chiến lược “trên thực tế” (de facto). Vậy trong 10-20 năm tới, quan hệ hai nước là gì, nếu không phải là đối tác chiến lược “thực sự”. Nhưng xét cho cùng thì hai nước cũng chỉ “trở lại tương lai”. 
 

Trong quá khứ không xa lắm, hai nước đã là đồng minh chống phát xít Nhật tại Đông Á. Lịch sử hay lặp lại như một trò chơi tốn kém. Năm 1945, Mỹ đã cử nhóm “Con Nai” (Deer Team) gồm 18 người do thiếu tá Allison Thomas chỉ huy, nhảy dù xuống chiến khu Việt Bắc giúp Việt Minh huấn luyện lực lượng quân sự còn non trẻ. Đại tá Archimedes Patti (1913-1998), tác giả cuốn “Why VietNam”, lúc đó đại diện cho OSS (Office of Strategic Services) là tiền thân của CIA, đã đến Hà Nội vào năm 1945 khi Hồ Chí Minh lập chính phủ lâm thời và viết Tuyên ngôn Độc lập. Ông Patti đã giúp cụ Hồ sửa Tuyên ngôn Độc lập (giống của Mỹ). 
 

Lúc đó (1945-1946) Hồ Chí Minh đã tìm mọi cách để bang giao với Mỹ, giống như ông Bùi Viện (1839-1878) đã cố gắng làm trong thế kỷ trước, nhưng không thành (vì những trớ trêu của lịch sử). Theo tư liệu lịch sử, ông Bùi Viện đã hai lần cất công sang tận Washinton DC, gặp được tổng thống Ulysses Grant (1873-1875) để cầu viện chống Pháp, nhưng đã bị “nhỡ tàu”. Năm 1978, cơ hội bình thường hóa quan hệ hai nước sau chiến tranh Việt Nam cũng bị “nhỡ tàu” (cho đến năm 1995). Nhìn lại, cái giá phải trả cho việc “nhỡ tàu” nhiều lần, làm mất cơ hội hợp tác chiến lược, là quá lớn đối với cả hai nước. Vậy phải làm thế nào để khi “trở lại tương lai” hai nước không bị “nhỡ tàu” một lần nữa?

Robert McNamara (cựu bộ trưởng quốc phòng dưới thời John Kennedy) đã thừa nhận sai lầm trong cuốn sách về chiến tranh Việt Nam (In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam, McNamara, Vintage Books, 1996) và ông ấy đã đến Hà Nội gặp đại tướng Võ Nguyên Giáp để lý giải và hòa giải quá khứ. Muộn còn hơn không. Họ đã cố gắng thanh lý di sản của một cuộc chiến tranh vô nghĩa (do nhầm lẫn).



Ông Phạm Xuân Ẩn (“điệp viên hoàn hảo”) tuy chống Mỹ vì nhiệm vụ của một người yêu nước, nhưng cũng yêu nước Mỹ (với vai trò ký giả của Time magazine). Ông Ẩn là một nghịch lý của một cuộc chiến không đáng có. Đến cuối đời, ông ấy vẫn mong hai nước trở thành bạn và đồng minh. Con ông ấy (Phạm Xuân Hoàng Ân) đã phiên dịch cho chủ tịch nước Trương Tấn Sang và tổng thống Obama trong chuyến thăm Mỹ (24-26/7/2014).


 Obama: Tiếng kèn ngập ngừng?


Theo Alexander Vuving (Vũ Hồng Lâm), Việt Nam đang tách xa dần Trung Quốc, nhưng “không quá xa”, và đang nhích lại gần Mỹ, nhưng “không quá gần”. Nói cách khác, quan hệ Mỹ-Việt tuy đã sang trang (sau chuyến thăm Mỹ của TBT Nguyễn Phú Trọng), nhưng vẫn như “tiếng kèn ngập ngừng”. Việt Nam vẫn tiếp tục đi dây để giữ cân bằng quan hệ với Trung Quốc và Mỹ. Hai vấn đề then chốt đang cản trở quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ (là nhân quyền và căn cứ Cam Ranh) vẫn chưa được tháo gỡ. 
 

Trong khi đó, nhiều người cho rằng Chính quyền Obama đã mắc vào cái bẫy duy trì hòa bình bằng mọi giá và sẽ phải trả giá đắt cho chủ trương này. Thái độ này làm cho Bắc Kinh càng thêm cứng rắn và hành động táo bạo hơn để thay đổi nguyên trạng Biển Đông, biến những gì họ đã chiếm được thành việc đã rồi. Những gì Washington đã làm, gồm những lời tuyên bố suông (rhetoric) và các cuộc tuần tra FONOP “vô hại” (innocent passage) không làm Bắc Kinh chùn bước trong kế hoạch lấn chiếm và quân sự hóa Biển Đông.


Chuyến tuần tra FONOP thứ ba sau khi bị hoãn, đã được USS William Lawrence triển khai (10/5/2016) đi qua đá Chữ Thập (Fiery Croos Reef) chứ không qua đá Vành Khăn (Mischief Reef) và vẫn theo hình thức “đi qua vô hại” (innocent passage). Tuy quyết định này có thể liên quan đến tính toán thời điểm Tòa án Trọng tài Quốc tế ra phán quyết, nó phản ánh tâm lý sợ rủi ro (risk-averse) của tổng thống Obama, muốn tránh mọi tình huống gây ra khủng hoảng với Trung Quốc, trong mấy tháng cuối cùng của nhiệm kỳ tổng thống. Nhưng càng tránh rủi ro thì rủi ro càng tìm đến, với nguy cơ cao hơn. FONOP theo kiểu “đi qua vô hại” không có tác dụng răn đe Trung Quốc, và làm đồng minh và đối tác bất an. 
 

Việc trì hoãn bỏ cấm vận vũ khí sát thương bằng cách gắn nó với điều kiện cải thiện nhân quyền như một kiểu trao đổi (tradeoff) không phải là cách làm hiệu quả, thậm chí còn phản tác dụng (counter-productive). Trong khi Trung Quốc nhảy “Rock n Roll” thì Mỹ-Việt vẫn nhảy “Slow Waltz”, theo “tiếng kèn ngập ngừng”. Trong khi Trung Quốc ráo riết quân sự hóa các đảo họ lấn chiếm và bồi đắp tại Biển Đông (xây dựng các sân bay quân sự và quân cảng, lắp đặt các trạm ra đa và tên lửa hiện đại) biến thành các cứ điểm mạnh, thì Mỹ-Việt vẫn sa vào trò chơi “mèo vờn chuột”, tiếp tục mà cả để đổi chác nhân quyền lấy vũ khí (human rights for arms). Việc này chỉ có lợi cho phái cực đoan và bảo thủ tại Bắc Kinh (và Hà Nội), đồng thời làm vô hiệu hóa chiến lược xoay trục của Mỹ và đồng minh.


Đòi hỏi Việt Nam tôn trọng và cải thiện nhân quyền là cần thiết. Nhưng chấp nhận việc thả tù chính trị nhỏ giọt để đánh đổi lấy bỏ cấm vận vũ khí từng phần, sẽ dẫn đến tiến thoái lưỡng nan (như “catch 22”). Nó chỉ kéo dài sự ngược đãi giới bất đồng chính kiến, và đẩy hàng vạn ngư dân vô tội đến chỗ tuyệt vọng, vì họ bị tàu thuyền Trung Quốc xua đuổi không cho đánh cá tại vùng biển của mình, trong khi bờ biển Miền Trung bị nhiễm độc nặng trong một thảm họa môi trường lớn. Chẳng lẽ đây không phải là vấn đề nhân quyền?

Muốn ngăn chặn Trung Quốc bành trướng tại Biển Đông mà lại sợ làm họ mất lòng thì thật vô lý. Trong khi Trung Quốc bành trướng, thách thức Mỹ và bắt nạt Việt Nam, tại sao họ không sợ làm mất lòng Mỹ hay Việt Nam? Tại sao Mỹ tuần tra FONOP tại Biển Đông lại phải áp dụng innocent passage? (sợ Trung Quốc phản ứng?). Tại sao Viêt Nam không dám kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế như Philippines (sợ Trung Quốc tức giận?).

Về quan hệ Việt-Trung, Patrick Cronin nhận xét, Việt Nam rất thận trọng không muốn vượt qua “vạch đỏ” (red lines) với Trung Quốc, và Mỹ tôn trọng điều này. Cronin nói “chúng tôi không tìm kiếm căn cứ quân sự”. Trong khi đó Jonathan London cho rằng lãnh đạo Việt Nam không muốn làm “đứt cầu chì” (circuit breaker), để Trung Quốc có lý do phản ứng quá mạnh…Theo Carl Thayer, lý do chính Việt Nam muốn bỏ cấm vận vũ khí là ý nghĩa chính trị tượng trưng, chứ không phải là nhu cầu quân sự cấp bách.

Trong khi đó, Alexandere Vuving lập luận rằng muốn hóa giải sự lưỡng lự của giới quân sự Việt Nam, “Mỹ phải chứng tỏ thiện chí bằng cách bỏ hẳn cấm vận vũ khí”... Làm như vậy sẽ “mở rộng cửa” để hợp tác quân sự chặt chẽ hơn, và để thực hiện bước tiếp theo là tiếp cận căn cứ Cam Ranh. Nếu thường xuyên tiếp cận căn cứ Cam Ranh, “Mỹ sẽ có nhiều lợi thế để duy trì cân bằng lực lượng với Trung Quốc”. Có lẽ, Mỹ cần Việt Nam vì ba lý do chính: (1) VN có vị trí chiến lược quan trọng, (2) VN có căn cứ chiến lược Cam Ranh và quân đội thiện chiến, (3) VN có truyền thống chống Trung Quốc.


John McCain & John Kerry: Không thể thiếu?


Không thể hòa giải và bình thường hóa quan hệ hai nước nếu thiếu vai trò dẫn đầu của TNS John McCain (Chủ tịch Tiểu ban Quân lực Thượng viện) và John Kerry (Ngoại trưởng), cũng như hàng ngàn cựu binh khác (như đại sứ Pete Peterson). Họ đang chiến đấu dũng cảm vì hòa bình và hòa giải, cũng như khi họ chiến đấu dũng cảm trong chiến tranh. Di sản của tổng thống Obama (và Clinton) trong quan hệ Mỹ-Việt không thể tách rời vai trò của John Kerry và John McCain, cùng những người khác. Dù trước đây là thương binh hay tù bình, họ không trở thành “tù binh của quá khứ” (prisoner of the past). Trong chuyến thăm Việt Nam lần này, cùng với Tổng thống Obama, Ngoại trưởng John Kerry sẽ dự lễ khởi công dự án Đại học Fulbright. John Kerry là người bảo trợ cho dự án này ngay từ đầu. 

 

Không phải ngẫu nhiên mà TNS John McCain phát biểu, “Đã đến lúc chúng ta phải chuyển hướng, trong chính sách của Mỹ tại Châu Á-Thái Bình Dương…Mỹ cần hành động mạnh mẽ hơn là những cử chỉ tượng trưng tại Biển Đông” (Americda Needs More than Symbolic Gestures in the South China Sea, John McCain, Financial Times, April 12, 2016). John McCain có vai trò chính trong việc vận động bỏ một phần cấm vận vũ khí (năm 2014). McCain lập luận rằng không nên hạn chế việc bán công nghệ quốc phòng cho Việt Nam để đảm bảo an ninh hàng hải, nhưng việc chuyển giao các chủng loại vũ khí khác cần phải xét “từng trường hợp một” (case by case) và gắn với tiến bộ về nhân quyền.




Tổng thống Hillary Clinton: Déjà vu?

Chỉ còn mấy tháng nữa, (từ 1/2017), Việt Nam (và Trung Quốc) phải làm quen với tổng thống Hillary Clinton (hay tổng thống Donald Trump?). Ngoài hai ứng cử viên đại diện cho hai đảng, không còn ai khác. Dù ai sẽ sẽ là chủ Nhà trắng, thì cũng phải tiếp thu di sản của ông Obama, để đối phó với Trung Quốc tại Biển Đông.


Mặc dù thua Barack Obama trong cuộc đua vào Nhà trắng (cách đây 8 năm) Hillary Clinton đã nhận lời Obama làm ngoại trưởng. Với vai trò ngoại trưởng, Hillary Clinton là kiến trúc sư của chính sách xoay trục (hay tái cân bằng) của Mỹ. Nay ra tranh cử tổng thống lần thứ hai, Hillary Clinton có cơ hội lớn để thắng cử, trở thành tổng thống nữ đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ. Với kinh nghiệm của đệ nhất phu nhân và ngoại trưởng, Hillary Clinton sẽ là một “tổng thống tuyệt vời” (excellent president) như nhận xét của Barack Obama.

Mặc dù Bill Clinton mắc vào bê bối tình dục (trong nhiệm kỳ đầu), nhưng Hillary đã giúp Bill Clinton vượt qua thử thách và trở thành cặp đôi quyền lực (partners in power). Bill Clinton không thể thành công trong hai nhiệm kỳ, nếu thiếu vai trò của Hillary (và ngược lại). Barack Obama và Hillary Clinton từ đối thủ tranh cử (rivals in election) đã trở thành đối tác trên chính trường (partners in politics). Đây là lần đầu tiên một tổng thống đắc cử đã mời đối thủ vừa bị thua cuộc làm ngoại trưởng (và Hillary Clinton đã nhận lời). 

Tuy tính cách và tầm nhìn có thể khác nhau, nhưng Barack Obama và Hillary Clinton đã “cộng tác lành mạnh” trong chiến lược “xoay trục sang Châu Á” (mà cả hai đều muốn nhận là tác giả). Họ “nhất trí nhiều hơn là bất đồng”, khác biệt “về phong cách và bản năng, chứ không phải bản chất và nguyên tắc”. Nhưng khi cần phải tranh thủ cử tri, thì Hillary Clinton sẵn sàng né tránh hoặc thay đổi lập trường đối với những vấn đề nhạy cảm (như TPP). Bản năng chính trị thực dụng đó có thể làm nhiều người thất vọng, vì Hillary Clinton “luôn ứng xử như một ứng cử viên”. (“Alter Ego”, Landler, Random house, 2016). 

Trong khi con đường dẫn đến Nhà trắng của Hillary Clinton không bằng phẳng, vì đa số cử tri Mỹ đã chán những nhân vật trong giới quyền lực (establishment), thì Donald Trump cũng mất dần lợi thế ban đầu. Trong khi Hillary Clinton được sự ủng hộ của những nhân vật hàng đầu như Bill Clinton và Barack Obama, thì Donald Trump không được sự ủng hộ của lãnh đạo đảng Cộng Hòa. Trong khi Barack Obama bị ám ảnh bởi vai trò lịch sử, thì Hillary Clinton tính toán mọi nước cờ thực dụng để tiến thân. Obama hiểu rằng di sản của mình phụ thuộc nhiều vào thắng lợi của Hillary Clinton. Vì vậy, họ vừa là đối thủ, vừa là đồng đội.


Trước đây, cử tri Mỹ đã từng tỏ thái độ khi họ ủng hộ “Tea Party”, nhưng dường như tiếng nói của họ chưa được để ý. Vì vậy, lần này họ bỏ phiếu cho Donal Trump trong vòng tranh cử sơ bộ (primary election) như một cảnh cáo mạnh mẽ lãnh đạo đảng Công hòa (cũng như Dân chủ). Nhưng Donald Trump không thể coi sự ủng hộ của cử tri là mặc nhiên và vô điều kiện. Trước đây cử tri Mỹ đã không bầu ứng cử viên độc lập Ross Perot thì nay chưa chắc họ bầu Donald Trump làm tổng thống? Có lẽ đến phút chót, họ mới quyết định xem họ có muốn những rủi ro mà tổng thống Donald Trump có thể đem lại cho nước Mỹ. 

Bài diễn văn về chính sách đối ngoại duy nhất của Donald Trump lấy cảm hứng từ trong quá khứ khi nước Mỹ theo đuổi chủ nghĩa biệt lập (isolationism), chỉ biết đến Mỹ (American first). Quan điểm cổ lỗ sĩ này (của thế kỷ 19) cản trở chứ không thúc đẩy quá trình hòa bình và thịnh vượng trong nước cũng như ngoài nước. Trong thê giới ngày càng phức tạp, nước nào nhiều quan hệ liên kết nhất sẽ là nước mạnh nhất. Nhưng Donald Trump hoài nghi giá trị của các liên minh. Vì vậy, chính sách của Donald Trump sẽ làm cho các liên minh của Mỹ suy yếu và không thể làm cho nước Mỹ vĩ đại được. (Joseph Nye).   
          
Tham khảo 

1. “How Clinton and Obama tried to run the world while trying to manage each other”, Carlos Lozada, Washington Post, April 29, 2016. Book review of “Alter Ego”, Mark Landler, Random House, 2016

2. “How Trump Would Weaken America”, Joseph Nye, Project Syndicate, May 10, 2016

3. US Likely to Lift Ban on Arms Sales to Vietnam”, Dan De Luce & Keith Johnson, Foreign Policy, May 9, 2016
4. “Two Myths About the United States and Vietnam: Setting the record straight”, Jonathan Zimmerman, Foreig Affairs, May 19, 2016
5. “America needs more than symbolic gestures in the South China Sea”, John McCain, Financial Times, April 12, 2016
6. “How America Picks Its Next Move in the South China Sea”, Zack Cooper & Bonnie Glaser, Asia Times, May 11, 2016




NQD. 23/5/2016




Thứ Ba, ngày 17 tháng 5 năm 2016

Nghịch lý Tập Cận Bình

Nghịch lý Tập Cận Bình

Bữa qua tôi nhận được bài mới viết của tác giả Nguyễn Quang Dy. Mấy năm nay anh là một cây bút viết khá nhiều, đều tập trung vào các vấn đề thời cuộc, chính trị - xã hội dưới góc nhìn rộng ra các mối quan hệ quốc tế. Và để từ đấy, người viết có ý thức so sánh chúng, soi chiếu lại các vấn đề trong nước. Tôi nghĩ rằng đây là một cây bút thời của hội nhập mà đất nước, và đặc biệt là dư luận cũng như trong lý thuyết, lý luận khoa học xã hội của mình cần lúc này.

Với bài viết mới dưới đây, Nguyễn Quang Dy lưu ý đến chủ blog tôi một tâm nguyện riêng. Trong ít dòng email anh gửi, anh viết rằng: "Đây là bài mới vừa xong, viết vội sau khi nói chuyện lần cuối với Nguyễn Khắc Phục (tuần trước) khi ông bạn văn còn tỉnh táo nói chuyện được. Đây là lời hứa thầm với " thằng bạn 'hỗn độn' "đang kẹt tại cõi trung giới, tuy gần đất xa trời mà vẫn thống thiết trăn trở - rằng "ông phải viết thêm cái gì đó về Trung Quốc đi". Vì vậy tôi viết bài này còn là vì Nguyễn Khắc Phục nữa. Bài này tôi chưa gửi cho ai, mà muốn các ông đăng trên blog trước khi thằng Phục nó qua đời để thắp trước cho nó một nén nhang tiễn biệt. Tôi sẽ in ra và hóa tại lễ tang của nó để sang thế giới bên kia nó đọc. Nó nằm trên giường bệnh nhưng vẫn đọc hết các bài của tôi và bắt tôi hứa là phải xuất bản cuốn sách này. Tội nghiệp nó quá ".
    
Cảm thấy tình bạn của tác giả với bạn bè thật là thiêng liêng và cũng là một sự tử tế quá khi đối xử và nghĩ ngợi về nhau đến như thế, chủ blog tôi hôm nay đang ở xa vẫn đưa lên đây... "cho kịp". 

Nói là cho kịp, nhưng nghĩ kỹ thì kịp việc gì tôi cũng mông lung chẳng rõ. Lại cũng chẳng muốn rõ và nói rõ điều đó ra đây mà làm gì...

Vệ Nhi g-th

------- 



Nghịch lý Tập Cận Bình (The Paradox of Xi Jinping: Dr Jerkyll & Mr Hide)


Tác giả: Nguyễn Quang Dy

Sau hơn ba năm cầm quyền, Tập Cận Bình đã thâu tóm và tập trung quyền lực tuyệt đối như một nhà độc tài (hay bạo chúa) không kém gì Mao (hay Caesar). Tập vừa là chủ tịch nước và tổng bí thư, vừa là chủ tịch quân ủy trung ương và tổng tư lệnh. Nhiều người ngỡ ngàng và thất vọng, vì Tập “ngày càng giống Mao chứ không giống Đặng Tiểu Bình”.

Thực ra Tập không giống Mao mà cũng chẳng giống Đặng. Trong khi Mao độc đoán, vô tổ chức và ham chơi, thì Tập rất kỷ luật và chuyên nghiệp. Trong khi Đặng thực dụng, chủ trương lãnh đạo tập thể và phân quyền, thì Tập lại giáo điều, chủ trương lãnh đạo cá nhân và chuyên quyền. Có người tưởng Tập sẽ giống Gorbachev (muốn thay đổi nguyên trạng) nhưng Tập làm ngược lại Gorbachev (muốn duy trì nguyên trạng). Có người ví Tập như bạo chúa Caesar hay hoàng đế Chu Lệ thời nhà Minh (với bộ máy thanh trừng “Đông Xưởng” đáng sợ). Tổng thống Nixon đã thừa nhận trước khi qua đời (1994), “Chúng ta có thể đã tạo ra con quái vật Frankenstein”. Phải chăng Tập Cận Bình là hiện thân của Frankenstein? 


Vậy Tập Cận Bình thực sự là ai? Đó là câu hỏi của Andrew Nathan trong bài điểm sách (“Who Is Xi?”, Andrew Nathan, New York Review of Books, May 12, 2016 Issue). Dường như Tập Cận Bình đã trở thành một nhân vật bí hiểm đa nhân cách (như “Dr Jerkyll & Mr Hide”). Tác phẩm kinh điển này của Robert Louis Stevenson (1886) đã trở thành một hình tượng văn học hữu ích. Một bác sỹ khả kính (Dr Jerkyll) có thể biến thành một kẻ quỷ quái và độc ác (Mr Hide) nếu uống phải một liều thuốc cực đoan (như Maoism). 

Andrew Nathan là một học giả hàng đầu về Trung Quốc, năm nay 73 tuổi, là giáo sư khoa học chính trị tại Đại học Columbia, chuyên nghiên cứu về chính trị và chính sách đối ngoại Trung Quốc. Cách đây gần 40 năm khi tôi bắt đầu nghiên cứu về Trung Quốc (ANU, 1977-78) Nathan là một học giả trẻ đầy ấn tượng, với tác phẩm đầu tay, “A factionalism model for CCP politics”, China quarterly, March 1973. Tôi nhớ lúc đó giáo sư Ian Wilson (1934-2011) đã dặn, “Hãy chú ý, nó là một ngôi sao đang lên!” (Watch out, he’s a rising star).

Gần hai thập kỷ sau, khi tôi đến Harvard (1992-1993), Nathan đã là một học giả nổi tiếng. Giáo sư của tôi về Nhật Bản (prof Eszra Vogel) thường nhắc đến Nathan mỗi khi chúng tôi bàn về Trung Quốc. Đến nay, Nathan là tác giả/đồng tác giả của 15 cuốn sách và rất nhiều bài nghiên cứu giá trị viết về Trung Quốc. Nhưng quan trọng nhất, có lẽ là tác phẩm của Nathan phân tích mô hình phát triển kinh tế Trung Quốc (từ sau Thiên An Môn) như là yếu tố chính đã đưa nền kinh tế này cất cánh “thần kỳ” với tốc độ tăng trưởng 2 con số trong 3 thập kỷ, (“Authoritarian resilience”, Andrew Nathan, Journal of democracy, 2003).




Ngộ nhận và nhầm lẫn

Nhưng tại sao lúc này Nathan lại điểm một lúc 4 tác phẩm viết về Tập Cận Bình? (đặc biệt là cuốn “China’s Future”, David Shambaugh, Polity Press, March 2016). Không phải chỉ Nathan mà nhiều người khác cũng quan tâm đến nhân vật bí hiểm này. Nhưng đến bây giờ mới đặt câu hỏi “Tập Cận Bình là ai” liệu có muộn quá không?  Có điều gì đó bất ổn về Tập Cận Bình làm người Mỹ lo lắng đến thế? Thứ nhất, có thể người Mỹ trước đây đã ngộ nhận và nhầm lẫn về Tâp Cận Bình. Thứ hai, có lẽ người Mỹ đang phải đối phó với Tập Cận Bình như đối với “Frankenstein” (mà Nixon đã cảnh tỉnh). Thứ ba, có thể qua việc điểm sách này, Nathan muốn khẳng định và ủng hộ quan điểm của David Shambough. Thật vậy, Nathan và Shambaugh là những học giả hàng đầu đã từng khen hoặc bênh Bắc Kinh, nay có lẽ đã tỉnh ngộ, thay đổi nhận thức và cách đánh giá về Trung quốc (và Tập Cận Bình).

Trong ba năm cầm quyền, Tập Cận Bình đã “có công” làm nhiều học giả và chính khách hàng đầu của Mỹ hết ngây thơ (innocence) và ảo tưởng về Trung Quốc “trỗi dậy hòa bình” (peaceful rise) và phải xem xét lại chủ trương “tham dự một cách xây dựng” (constructive engagement). Không phải chỉ có Gordon Chang và Minxin Pei, mà cả Paul Krugman, Andrew Nathan, David Shambaugh… đã thay đổi quan điểm và đánh giá về Trung Quốc. Nhiều học giả đã phê phán chính sách Trung Quốc của Henry Kissinger (hậu Shanghai Communique). Nhiều người cho rằng Kissinger đã “có công” tạo ra con quái vật Frankenstein này. Thế mà mới đây chính quyền Obama vẫn tặng Kissinger Giải thưởng Dịch vụ Công xuất sắc (Distinguished Public Service Award)” vì những gì ông ấy đã gây ra, mà chính tổng thống Nixon đã phần nào thừa nhận sai lầm. Đấy là chưa kể tội Kissinger ở Cambodia và Bangladesh.  

Không phải chỉ có người Mỹ (từ chính giới đến học giả) đều ngộ nhận và bất ngờ, mà người Trung Quốc (từ quan đến dân) cũng nhầm lẫn và thất vọng về Tập Cận Bình. Nhiều người cứ tưởng Tập sẽ giống cha mình là ông Tập Trọng Huân (một nhà cải cách, bị đày đọa thời Cách mạng Văn hóa), nhưng Tập không theo cha, mà lại theo Mao. Phải chăng Tập Cận Bình là một “nghịch lý” đa nhân cách (như “Dr Jerkyll & Mr Hide”?).

Nhiều chuyên gia về Trung Quốc (cả ngoài nước và trong nước) tưởng rằng Tập Cận bình sẽ là một nhà cải cách cởi mở (liberal reformer) ủng hộ kinh tế thị trường và dân chủ hóa (vì gốc gác gia đình và kinh nghiệm sống của mình). Cha ông là Tập Trọng Huân (1913-2002) đã từng là nạn nhân của chủ nghĩa Mao, bị thanh trừng 3 lần, nhưng vẫn kiên trì đường lối cải cách. Năm 1989, Tập Trọng Huân là người duy nhất trong Bộ Chính Trị đã phản đối thanh trừng Hồ Diệu Bang (tổng bí thư, chủ trương cải cách). Bản thân Tập Cận Bình trong Cách mạng Văn hóa cũng bị đày đọa xuống nông thôn, chịu nhiều cay đắng.

Nhưng ngược lại với dự đoán và mong muốn của nhiều người (cả trong và ngoài nước), Tập đã  phục hồi và bắt chước những đặc thù cực đoan nguy hiểm nhất trong cách cai trị của Mao (như chế độ độc tài cá nhân, đòi hỏi tuân thủ ý thức hệ một cách mù quáng, tùy tiện bức hại những ai dám chống đối). Theo tác giả, Tập Cận Bình tôn thờ Mao không phải là sự lựa chọn cá nhân tùy hứng, mà dựa trên cơ sở tư duy có hệ thống.   

Điều đó nghe có vẻ phi lý nhưng là một sự thực. Theo Nathan, phái “con ông cháu cha” (princelings) tin vào “thuyết huyết thống” (bloodline theory). Nó gần giống như thuyết định mệnh lưu truyền trong dân gian Việt Nam, “con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa”. Nhưng dường như các princelings cố lờ đi vế thứ hai trong thuyết đó là, “bao giờ dân nổi can qua, con vua thất thế lại ra quét chùa”.  Tập Cận Bình tin vào sứ mệnh “thiên tử” của mình, nhưng vẫn phải tìm cách lý giải việc theo Mao. Vì sao?

Tại sao Tập lại theo Mao (mà không theo Đặng)? Trái ngược với sự đồng thuận của phương Tây cho rằng Đặng Tiểu Bình đã cứu chế độ Trung cộng sau khi bị Mao đánh tan tành, Tập Cận bình và nhiều princelings cho rằng Đặng đã hủy diệt di sản của Mao. Một nghịch lý nữa là tướng Lưu Nguyên, con trai của cựu chủ tịch nước Lưu Thiếu Kỳ (người đã bị Mao trù dập cho đến chết) nay đang tích cực giúp Tập chống tham nhũng trong quân đội. Nathan lý giải rằng, Tập lên nắm quyền đúng vào lúc chế độ đang phải đối phó với một loạt thách thức gay gắt và cấp bách, đòi hỏi Tập phải thâu tóm nhiều quyền lực. Đúng lúc này, Maoim cung cấp cho Tập một mô hình quyền lực tuyệt đối mà Tập đang cần. Có phải vậy không?

Theo mô hình đó, Tập gạt các ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị ra ngoài lề, trừ hai cánh tay đắc lực là Vương Kỳ Sơn, đứng đầu Ủy Ban Kiểm tra Kỷ luật (CCDI), và Lưu Vân Sơn, đứng đầu Ủy Ban Tuyên truyền. Gần đây có nhiều dấu hiệu bất ổn giữa Lưu Vân Sơn và Tập, nên Lưu Vân Sơn có thể sẽ bị loại nốt. Có nhiều tin đồn là vai trò điều hành kinh tế của thủ tướng Lý Khắc Cường cũng bị vô hiệu hóa. Tập lãnh đạo và điều hành thông qua 22 tổ công tác lãnh đạo và một nhóm trợ lý thân cận và trung thành, như Lật Chiến Thư (Li Zhanshu) là Chánh Văn phòng TƯ (Chief of Staff), Mạnh Kiến Trụ (Meng Jianzhu) đứng đầu Ủy Ban An ninh Quốc gia, và Lý Thành (Cheng Li) một học giả được trọng dụng.

Trong một cuốn sách tuyên truyền, Tập Cận Bình nói rằng cha mình (ông Tập Trọng Huân) đã được Mao cứu mạng và bảo vệ (chứ không phải bức hại như nhiều người tưởng). Tập đổ lỗi thanh trừng cha mình cho Khang Sinh (trùm mật vụ của Mao). Ngay cả việc Chu Ân Lai bắt giam Tập Trọng Huân tại Bắc Kinh cũng là một cách để “bảo vệ”. Việc “điều chỉnh lịch sử” theo cách của mình là một sở trường của những người cộng sản (Tập cũng không ngoại lệ). Để lý giải quan hệ phức tạp đầy ân oán của gia đình mình với di sản của Mao (mà Tập muốn dùng làm mô hình quyền lực), Tập không ngần ngại khẳng định, “Nếu Mao không cứu cha tôi thì tôi không có mặt ở đây ngày hôm nay”. (Andrew Nathan).


Ông Chu Vĩnh Khang, một quan chức hàng cao cấp nhất đã bị "ngã ngữa" thời ông Tập.

Theo Lê Duẩn, Mao đã nói với lãnh đạo Việt Nam tại Vũ Hán (năm 1963), “Tôi sẽ làm chủ tịch 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông Nam Á…”. Chắc Mao không nói đùa vào ngày 1/4.  Tuy ông ấy không còn sống để làm việc đó, nhưng tham vọng bành trướng bá quyền của ông ấy vẫn đang sống, với “Giấc mộng Trung Hoa” của Tập Cận Bình. Hậu duệ của Mao đang dẫn hàng ngàn tàu đánh cá (hay “tàu lạ?”) xuống chiếm Biển Đông, trong khi cấm ngư dân Việt Nam và các nước không được đánh cá (vì “đại cục?”). Rồi vì “đại cục” họ sẽ cấm bay và cấm tàu thuyền đi lại, và không lâu nữa Biển Đông sẽ trở thành cái ao của họ.

Siêu nhân Tập Cận Bình

Trong cuốn sách mới, David Shambaugh đã tóm tắt, “Hiện có một chiến dịch tiếp tục đàn áp tất cả các dạng bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động xã hội; Internet và các phương tiện truyền thông xã hội phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ hơn; thánh giá và nhà thờ bị phá hủy; người Duy Ngô Nhĩ và người Tây Tạng bị bức hại ngày càng nhiều; hàng trăm luật sư nhân quyền đã bị bắt giữ và đưa ra xét xử; tụ tập nơi công cộng bị hạn chế; nhiều loại ấn phẩm bị kiểm duyệt; sách giáo khoa nước ngoài chính thức bị cấm ở các khóa đại học; trí thức bị đặt dưới sự giám sát chặt chẽ; các tổ chức phi chính phủ nước ngoài và trong nước chịu áp lực kiểm soát chưa từng có bởi chính phủ và nhiều tổ chức đã bị buộc phải rời khỏi Trung Quốc; các cuộc tấn công vào các “thế lực thù địch nước ngoài” diễn ra thường xuyên; và bộ máy an ninh “duy trì sự ổn định” đã bao trùm toàn đất nước Trung Quốc, hiên nay hà khắc hơn bất cứ thời điểm nào kể từ sau gia đoạn Thiên An Môn, 1989-1992”. (China’s Future).

Tuy theo chủ nghĩa Mao (như một công cụ quyền lực), Tập không giống Mao. Tập làm việc có tổ chức và chuyên nghiệp hơn, sống có trật tự chứ không hỗn loạn như Mao. Tập không sa vào thói hư sắc dục (như Mao) và kín đáo hơn về tham nhũng (tuy Panama Papers có nhắc tới họ hàng của ông ấy). Tập không phải là một nhà cách mạng, vì không tìm cách làm đảo lộn xã hội để quay về thời công xã và kinh tế kế hoạch. Tập muốn kết hơp chủ nghĩa Mao với hiện đại hóa. Nhưng đối với Tập, cơ chế thị trường chỉ là công cụ để xây dựng chứ không phải để thay đổi thể chế cũ. Cải cách giáo dục không phải để tạo ra tự do học thuật kiểu phương Tây, mà để đưa các học giả và sinh viên vào vòng kiểm soát. Nghe quen thuộc?

Trước đây, Mao độc đoán, quyết định mọi vấn đề theo cách của mình, bất chấp ý kiến của các lãnh đạo khác, và ông ta chỉ chú ý đến một vài vấn đề chính. Khi Đặng lên cầm quyền, đã áp dụng mô hình “lãnh đạo tập thể” (committee). Tuy Đặng có vai trò quyết định cuối cùng, nhưng ông ta cố gắng tìm sự đồng thuận trong nhóm lãnh đạo cao nhất. Nay Tập trực tiếp điều hành một loạt vấn đề quan trọng mà không tham khảo ý kiến các lãnh đạo khác. Nhưng Tập lại bắt chước Mao, đòi hỏi các cấp phải tuân thủ ý thức hệ một cách tuyệt đối, đồng nghĩa với trung thành với mình một cách tuyệt đối. Tập đòi hỏi các cơ quan truyền thông phải “thể hiện tính đảng và phục vụ như là miệng lưỡi của Đảng”. Nghe nói người ta đang biên soạn một cuốn sách tuyên truyền mới đặt Tập Cận Bình ngang hàng với Mao. Kinh chưa?

Dù Tập là ai (hay là gì) thì ông ấy cũng đã rất thành công trong việc thâu tóm quyền lực (ít nhất là đến lúc này). Bạc Hy Lai đã từng coi thường Tập Cận Bình, liên kết với Chu Vĩnh Khang định làm chính biến để lên thay Tập. Nhưng vụ Vương Lập Quân bất ngờ chạy vào lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô (2012) đã làm phá sản kế hoạch lớn của phe Chu Vĩnh Khang - Bạc Hy Lai (được Giang Trach Dân và Tăng Khánh Hồng chống lưng).   

Dù sao thì vụ Vương Lập quân đã giúp Tập Cận Bình một cơ hội bất ngờ để ra tay xử lý quyết liệt một loạt “siêu hổ” như Bạc Hy Lai, Chu Vĩnh Khang, Lệnh Kế Hoạch, Từ Tài Hậu, Quách Bá Hùng (thậm chí cả Giang Trạch Dân và Tăng Khánh Hồng). Nhưng Tập Cận Bình không thể thiếu sự cộng tác đắc lực của người Mỹ (như đồng minh?). Phó tổng thống Joe Biden đã trực tiếp trao cho phó chủ tịch Tập Cận Bình (trong chuyến thăm Mỹ năm 2012) những tài liệu tối mật mà Vương Lập Quân đã cung cấp. Ngoài “cái bẫy phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế” (economic co-dependency trap), vụ đổi chác (tradeoff) tài liệu mật đó tưởng sẽ gắn kết quan hệ Trung-Mỹ như “đồng minh”. Nhưng người Mỹ đã nhầm về Tập!

Không phải chỉ có người Mỹ đã nhầm mà cả người Trung Quốc đã nhầm về nhân vật bí hiểm này. Khác với những người tiền nhiệm (Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào) đã tuân theo “ý chỉ” của Đặng Tiểu Bình là “lãnh đạo tập thể” để tránh đường mòn cực đoan của Cách mạng Văn hóa, và “náu mình chờ thời” (thao quang dưỡng hối) để tập trung hiện đại hóa đất nước, Tập chủ trương tập trung quyền lực cá nhân (centralized & personalized power), phục hồi “sùng bái cá nhân” (cult of personality), và công khai thách thức Mỹ. 

Không chỉ làm Tổng Bí thư, Chủ tịch Nước, Chủ tịch Quân Ủy Trung ương, Tổng tư lệnh quân đội (bốn vị trí quyền lực tối cao), Tập Cận Bình còn trực tiếp làm chủ tịch 7 “tổ lãnh đạo” quan trọng nhất trong 22 “tổ lãnh đạo” điều hành chính sách. Vì thế, người ta gọi Tập là “Chủ tịch của mọi thứ” (Chairman of everything). Có lẽ chỉ có siêu nhân (Superman) hay người biến thái (như “Frankenstein”) mới làm việc theo kiểu đó.

Cách cai trị bá đạo và cực đoan của Tập Cận Bình khác hẳn với Đặng Tiểu Bình. Hãy nghe Đặng thuyết giáo, “Quá chú tâm vào quyền lực có khả năng làm nảy ra quy tắc tùy ý cá nhân với cái giá phải trả cho lãnh đạo tập thể, và nó là một nguyên nhân quan trọng của bộ máy quan chức trong tình cảnh hiện tại… Kiến thức, kinh nghiệm và năng lượng của bất cứ ai cũng đều có hạn. Nếu một người nắm giữ quá nhiều vị trí cùng một lúc thì khó có thể hiểu thấu hết các vấn đề trong công việc của mình và quan trọng hơn, sẽ ngáng đường các đồng chí thích hợp hơn nắm các vị trí lãnh đạo” (Đặng Tiểu Bình, 18/8/1980).

Không thể phủ nhận Tập Cận Bình là một lãnh đạo tài ba và chuyên nghiệp, muốn thực hiện “Giấc mộng Trung hoa” để đuổi kịp (hoặc vượt) Mỹ. Điều đó không có gì sai nếu Trung Quốc “trỗi dậy hòa bình” và cải cách thể chế, để trở thành một siêu cường văn minh. Tập đã có cơ hội biến “Giấc mộng Trung Hoa” thành hiện thực. Nếu làm được như vậy mà Mỹ bị thua cuộc để Trung Quốc vượt qua thì cũng xứng đáng (theo luật chơi công bằng).   

Nhưng đáng tiếc là Tập đã không làm như vậy, mà chọn con đường cực đoan và bạo lực, phá luật chơi cũ để thay bằng luật rừng, coi trọng quyền lực cứng mà coi nhẹ quyền lưc mềm. Con đường ông ta chọn đang đưa Trung Quốc đến chỗ bế tắc và đổ vỡ. Điều đó nguy hiểm không chỉ cho Trung Quốc mà còn cho nhân loại. Trước đây, phát xít Đức và Nhật đã theo chủ nghĩa quân phiệt cực đoan, nên bị diệt vong. Liệu Tập Cận Bình có muốn lặp lại thảm họa đó, bằng cách tập trung quyền lực tuyệt đối bằng mọi giá để giữ nguyên trạng (trong nước), và bành trướng thách thức Mỹ và đồng minh để thay đổi nguyên trạng (tại Biển Đông)?  

Hệ quả không định trước

Vậy hệ quả của cách cai trị cực đoan đó là gì? Theo Nathan, Tập Cận Bình đang gắn sự sống còn của chế độ vào khả năng của ông ta trong việc điều hành một khối lượng công việc khổng lồ mà không phạm sai lầm lớn. Có nguy cơ Tập sẽ phá hủy “khả năng thích ứng và khả năng phục hồi” mà Đặng đã khó khăn lắm mới tạo ra được sau thảm họa do Mao để lại. Không phải vô cớ mà người Trung Quốc (bao gồm các quan chức và đại gia) đang ồ ạt gửi tiền và đưa gia đình ra nước ngoài như “bỏ phiếu bằng chân”. Một cảm giác sắp xảy ra khủng hoảng đang bao trùm khắp xã hội Trung Quốc. Cách hành xử cực đoan của Tập đang xô đẩy chế độ đối mặt với nguy cơ khủng hoảng chính trị mà Tập tìm cách ngăn chặn.

Theo các chuyên gia về Trung Quốc, chính sách “Một Vành Đai, Một Con Đường” đầy tham vọng của Tập Cận bình để thực hiện “Giấc mộng Trung hoa” tiêu phí dự trữ ngoại tệ một cách khủng khiếp mà chưa mang lại lợi ích nào đáng kể. Chính sách “đả hổ, diệt ruồi” tuy có hiệu quả mị dân, nhưng đã làm tê liệt hàng ngũ cán bộ vì ai cũng lo sợ sẽ tới lượt mình nên không ai muốn làm việc thực sự. Đến nay, CCDI đã kỷ luật 182.000 quan chức, trong đó có 36 thứ trưởng và cán bộ cao cấp. Kết quả là đồng tiền Nhân dân Tệ đã bị xụt giá liên tiếp, thị trường chứng khoán bị lao dốc, làm cho thị trường Thượng hải, Thẩm quyến và Hồng kông mất đến 3.600 tỷ USD (trong tháng 8/2015), tương đương với GDP của nước Đức. Khoảng 1.000 tỷ USD dự trữ ngoại hối đã chạy ra nước ngoài (trong năm 2015).  

Nhiều người ở Mỹ và phương Tây kỳ vọng Trung Quốc hiện đại hóa sẽ “tất yếu” trở nên cởi mở và dân chủ hơn, tôn trọng nhân quyền và pháp quyền. Nhưng họ đã nhầm. Tập Cận Bình đã trở thành lãnh đạo độc tài nhất kể từ sau sự kiện thảm sát Thiên An Môn (1989). Chính sách đàn áp xã hội dân sự của Tập đã làm cả đất nước lạnh sống lưng, như thời Cách mạng Văn hóa. Bắt chước “cách mạng thường trực” của Mao, Tập đã xóa bỏ mô hình lãnh đạo tập thể mà Đặng đã dầy công xây dựng từ sau khi Mao qua đời (1976).




7 vị có chân trong Thường vụ Bộ Chính trị ĐCSTQ đương nhiệm


Để đối phó với tình hình bất ổn trong nước, Tập ráo riết quân sự hóa Biển Đông, làm gia tăng khả năng xung đột với Mỹ và đồng minh bằng chính sách “bên miếng hố chiến tranh”, làm quan hệ Trung-Nhật và Trung-Việt khủng hoảng. Với kinh tế ngày càng suy thoái, tốc độ tăng trưởng thực sự chỉ còn khoảng 2,2% (không phải 7%), Tập đầu độc tư tưởng người Trung Quốc bằng chủ nghĩa dân tộc cực đoan nguy hiểm, với chính sách đối ngoại hung hãn, đẩy Trung Quốc vào tình thế cô lập và dễ đổ vỡ. Hầu hết người Trung Quốc đều thất vọng và bất bình, kể cả những người thân cận lâu nay ủng hộ Tập, vì ông ta theo mô hình lãnh đạo cực đoan của Mao. Hình ảnh mị dân “Xi Dada” đã bị mọi người chế nhạo, đến mức bộ máy tuyên truyền phải “đột nhiên” rút nó khỏi hệ thống truyền thông chính thống, vì  hình ảnh “Xi Dada” không hiệu quả như hình tượng “the Wizard of Oz” (Andrew Nathan). Hâm đến thế là cùng!

Mô hình tập trung quyền lực tuyệt đối thời Mao cầm quyền đã dẫn đến thảm họa “Đại Nhảy vọt” và “Cách mạng Văn hóa”. Nếu không có cải cách kinh tế của Đặng cứu vãn thì không biết số phận Trung Quốc sẽ ra sao. Trong khi mô hình dựa trên ý thức hệ của Mao đã dẫn đến thảm họa, thì mô hình cải cách thực dụng của Đặng đã làm cho kinh tế Trung Quốc cất cánh (tuy không bền vững vì thiếu đổi mới chính trị).

Nay Tập Cận Bình lại kêu gọi người Trung Quốc “quán triệt tinh thần Mao Trạch Đông” (embrace the spirit of Mao Zedong) dành ưu tiên cao nhất cho ý thức hệ. Có lẽ Tập Cận Bình sẽ được lịch sử ghi nhận là người đã khởi động quá trình sụp đổ của chế độ Trung Cộng. Bất chấp những lời hoa mỹ, chính sách cai trị cực đoan của Tập không giúp nền kinh tế khá hơn, mà còn ngược lại. Chơi với ý thức hệ nguy hiểm như chơi với lửa (dễ mất kiểm soát). Ý thức hệ có thể biến người chơi thành tù binh hay nạn nhân của nó. Có thể nói ý thức hệ là một hệ thống tín điều dễ bị những kẻ cực đoan lạm dụng, mà sức mạnh hủy diệt của nó đã được lịch sử chứng minh (như Hitlerism, Stalinism, Maoism). 

Vẫn chưa biết sợ!

Theo Gordon Chang, chiến dịch thanh trừng của Tập (đang tiếp diễn) mang đậm màu sắc “Cách mạng Thường trực” (continuous revolution). Những gì Tập nói và làm gây ấn tượng ông ta là người của “một thời đại nào khác” (from another era). Sự tương đồng kỳ quái giữa Mao và Tập làm nhiều người lo ngại về khả năng diễn lại “Cách mạng Văn hóa vòng 2” (Cultural Revolution 2.0). Nhiều người (cả những thế lực ủng hộ ông ta) nay công khai phản đối sự chuyên quyền độc đoán đó. Gần đây, trang mạng CCDI (Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật TƯ) đã đăng một bài nhan đề “Một ngàn kẻ chỉ biết vâng lời không bằng một người tư vấn trung thực” (A Thousand Yes-Men Cannot Equal One Honest Adviser). Tân Hoa Xã cũng đăng một bài gọi Tập là “lãnh đạo cuối cùng của Trung Quốc” (China’s last leader), trong khi đó một trang mạng bán chính thức khác đã đăng một bài công khai kêu gọi Tập phải từ chức… 

Trước hết, chính sách “đả hổ diệt ruồi” của Tập thực chất chủ yếu nhằm thanh trừng nội bộ, thanh toán các phe phái chống đối, để củng cố quyền lực tuyệt đối của mình. Thứ hai, hệ quả của chính sách này đang đẩy các phe phái khác co cụm lại và đoàn kết chống Tập (phe Thượng Hải của Giang trạch Dân đang bắt tay với phe Đoàn Thanh Niên của Hồ Cẩm Đào và Lý Khắc Cường). Thứ ba, chủ trương thanh trừng nội bộ làm trì trệ và tê liệt bộ máy điều hành kinh tế, gây hoang mạng lo sợ, không ai muốn làm việc. Thứ tư, chính sách chống tham nhũng tuy mị dân khá thành công, nhưng lại gây phản cảm và lo sợ vì phục hồi bóng ma Cách mạng Văn hóa. Thứ năm, Tập theo mô hình Mao và bỏ mô hình Đặng nên đã làm đảo lộn cân bằng quyền lực giữa các phe phái, làm chế độ suy yếu và dễ đổ vỡ. 

Theo David Shambaugh, Trung Quốc đã bước vào “bẫy thu nhập trung bình”. Nó chỉ có thể thoát ra bằng cách “dựa vào tri thức chứ không phải cơ bắp”. Tập càng cực đoan, thì càng đẩy nhanh sự sụp đổ của chế độ (như hệ quả không định trước). Đây là giới hạn của quyền lực cứng (cái gậy và củ cà rốt) và phát triển không theo quy luật (cải cách kinh tế không đi đôi với đổi mới chính trị). Trung Quốc đứng trước 4 lựa chọn: (1) “Chuyên chế Cứng” (Hard Totalitarian path) như hiện nay, (2) “Chuyên chế Mềm” (Soft Totalitarian) như thời Hồ Cẩm Đào, (3) “Chuyên chế Kiểu mới” (Neo-Totalitarian) như thời Mao, (4) “Dân chủ Nửa vời” (Semi-Democratic) như Singapore, có dấu hiệu Tập đang chuyển từ “Chuyên chế Cứng” sang “Chuyên chế Kiểu mới”. Nếu Tập “quay lại tương lai” (back to the future) thì là một sai lầm chết người. Shambaugh tin rằng màn chót (end game) của chế độ Trung Cộng đang diễn ra. Theo tác giả, sự sụp đổ có thể đến trong một hai thập kỷ tới (the next decade or so). 

Vài lời cuối (end notes)

Có thể nói, ngày càng có nhiều dấu hiệu chứng tỏ Tập Cận Bình đã mắc phải một chứng bệnh tâm thần chính trị với nhiều biểu hiện vĩ cuồng cực đoan (đa nhân cách). Lúc thì Tập muốn làm “Xi Dada” khả kính để thần dân ca tụng, nhưng nhìn kỹ lại thấy Tập giống Mao hoặc hoàng đế Chu Lệ (thời nhà Minh) với bộ máy trấn áp CCDI (cũng kinh hoàng như “Đông Xưởng”). Hay nói cách khác, Tập muốn làm Dr Jerkyll khả kính (nhưng đa nhân cách) uống phải lọ thuốc độc Maoism mà cứ tưởng là lọ thuốc thần (để có quyền lực tuyệt đối) nên Tập biến thành Mr Hide (một kiểu Frankenstein mang “bản sắc Trung Quốc”?)

Hãy lấy vài ví dụ để minh họa. Khi đến thăm chính thức Việt Nam và đọc diễn văn tại Quốc hội (7/11/2015) Tập đóng vai Dr Jerkyll khả kính, thuyết giảng về “đại cục” và “16 chữ vàng”, dỗ ngon dỗ ngọt như “huynh đệ đồng lòng…”, nhưng khi vừa tới Singapore (cùng ngày) thì ông Tập lại biến ngay thành Mr Hide (với bàn tay lông lá đang ráo riết quân sự hóa Biển Đông) và tuyên bố trắng trợn không thèm úp mở , “những hòn đảo trên Biển Đông là thuộc lãnh thổ Trung Quốc kể từ thời xa xưa…”. Đúng là đa nhân cách nên mới nói không ngượng mồm. Trong chuyến thăm Mỹ (9/2015) khi Tập đề cập đến vấn đề nữ quyền, muốn tổ chức một hội nghị thượng đỉnh cho các đệ nhất phu nhân tại Liên Hợp Quốc (trong khi bàn tay lông lá của Tập đang xiết cổ nữ quyền và nhân quyền tại Trung Quốc) Hilary Clinton đã không nhịn được (dù là một luật sư và chính khách lịch lãm) phải thốt lên rằng “đạo đức giả” và “thật đáng hổ thẹn”. Không hiểu nay mai nếu Hilary Clinton (hay Donald Trump) lên làm tổng thống Mỹ thì thiên hạ sẽ ra sao. Hình như thế giới này đang có đại dịch tâm thần?   

Có lẽ bệnh tâm thần chính trị (đa nhân cách) có thể di truyền hoặc lây lan, không phải qua đường tình dục, mà “qua đường ý thức hệ”. Thời trước, người Việt đã uống phải thuốc độc Maoism, nên đã mắc căn bệnh tâm thần chính trị (cực đoan), dẫn đến thảm họa “Cải cách Ruộng đất” và “Cải tạo Tư sản”, rồi đàn áp “Nhân văn Giai phẩm” và “Xét lại Hiện đại, v.v.”  Nay không khéo người Việt lại uống phải thuốc độc “Neo-Maoism” do Tập Cận Bình pha chế (như Dr Jerkyll), nên bị nhiễm căn bệnh tâm thần ý thức hệ “kiểu mới”.

Nếu sự kiện dàn khoan HD 981 (5/2014) là một bước ngoặt (turning point) trong quan hệ Trung-Việt, thì sự kiện hàng trăm tấn cá chết do nhiễm độc tại bờ biển 4 tỉnh miền Trung và biểu tình vì môi trường (5/2016) là một bước ngoặt về khủng hoảng môi trường (và chính trị) tại Việt Nam, tiếp theo Đại hội Đảng đầy kịch tính. Cách ứng xử như tâm thần của các quan chức chính phủ, và hành động trấn áp thô bạo những người biểu tình ôn hòa vì môi trường ngay trước chuyến thăm của tổng thống Obama và bầu cửa quốc hội, đã làm dấy lên mối lo ngại về triển vọng tiếp tục bế tắc trong quan hệ tam giác chiến lược Mỹ-Trung-Việt, trong khi Viet Nam tiếp tục trôi dạt (drifting) trong bàn cờ Biển Đông đầy nguy hiểm. 

Các chuyên gia tâm thần nói rằng tại Mỹ có khoảng 30% dân số mắc bệnh tâm thần. Có lẽ tỷ lệ này tại Trung Quốc và Việt Nam còn cao hơn nhiều, vì xã hội chuyển đổi rủi ro cao và có nhiều áp lực bất thường. Một dấu hiệu đáng lo ngại là dòng người (và dòng tiền) rời bỏ Trung Quốc (và Việt Nam) đang tăng nhanh, như hệ quả tất yếu của khủng hoảng lòng tin. Khủng hoảng lòng tin là một dạng tâm thần. Nếu trong một hai năm tới không đổi mới thể chế, không cải thiện môi trường sống và cách ứng xử của chính quyền, thì dòng người (và dòng tiền) sẽ ra đi ổ ạt, như một hệ quả không định trước (unintended consequences).

NQD. 17/5/2016

--------

Tham khảo

1. “Who Is Xi?”, Andrew Nathan, the New York Review of Books, May 12, 2016 Issue
2. “Crackdown in China Worse and Worse”, Orville Schell, the New York Review of Books, April 21, 2016 Issue
3. “The Great Fall of China”, Jeffrey Wasserstrom, Review of “China’s Future”), Wall Street Journal, March 28, 2016 

4. “David Shambaugh’s China’s Future”, Andrew Browne’s Interview of David shambaugh, Wall Streeet Journal, March 14, 2016

5. China’s Future”, David Shambaugh, Polity Press, March 2016
6. Chinas Caesar: Xi Jinping and the Cultural Revolution”, Gordon Chang, Weekly Standard, April 25, 2016

7. “Chinas Political Culture Is Paralyzing Its Economy”, Paul Burgman & Andrew Friedle, National Interest, May 2, 2016

8. “How China Sees World Order”, Richard Fontaine & Mira Rapp-Hooper, National Interest, April 20, 2016

9. “Why Xi is Purging the Chinese Military”, Derek Grossman & Michael Chase, National Interest, April 15, 2016. 

10. “Xi Jinping flirts with danger in his turn to ideology”, Stein Ringen, South China Morning Post, April 11, 2016
11. “Big Daddy Xi no more”, Nathan Vanderklippe, Globe and Mail, May 7, 2016
12. “A survivor’s Tales: The rise and fall and rise of a career Maoist”, Henrik Bering, Weekly Standard Book Review, May 23, 2016 Issue,
13. “Authoritarian resilience”, Andrew Nathan, Journal of democracy, 2003.






Thứ Sáu, ngày 13 tháng 5 năm 2016

Những ý nghĩ lạ lùng, "rất Mỹ"... qua lời ứng viên tranh chức tổng thống nước Mỹ

Những ý nghĩ lạ lùng, rất Mỹ... qua lời ứng viên tranh chức tổng thống nước Mỹ

Trong hộp thư của tôi vừa thấy có bài viết dưới đây.

Đọc lên tự thấy có nhiều mối liên hệ với nhau. Bài viết về những điều "khó mà tưởng tượng" được phát ra từ một ứng viên chức Tổng thống nước Mỹ hiện vẫn đang diễn ra.

Có thể nơi đó là "sản phẩm" độc đáo, phải nói thêm là độc nhất vô nhị nữa, của ứng cử viên đảng Cộng hòa, ông Donald Trump.

Mà lạ hơn nữa, là bài viết thì lấy tư liệu từ giữa tháng 3, nay đã là gần sang giữa tháng 5/2016 rồi, mặc cho những lời phê bình, chê trách của dư luận Mỹ (và cả nhiều phản ứng của dư luận thế giới), ấy thế mà bất chấp... ông Trump không những không mất phiếu của cử tri Mỹ mà nay lại là ứng viên "dẫn đầu" của đảng Cộng hòa !?

Thấy những nghịch lý này của nền chính trị Mỹ, thái độ của những ai ở Mỹ ủng hộ đảng Cộng hòa lên làm tổng thống Mỹ khóa tới, chủ blog tôi không ngại bài viết đã cũ, vẫn đưa lại đây để bạn bè và bà con cùng đọc Tham khảo nhân những giờ phút nghỉ ngơi cuối tuần...

Vệ Nhi

-------



Đừng chỉ nghe truyền thông, hãy thử nhìn Trump dưới 9 góc độ này!

Tác giả: Hà Văn Thịnh 

 
Đừng chỉ nghe truyền thông, hãy thử nhìn Trump dưới 9 góc độ này!
Ảnh: AP/LM Otero

Có lẽ trong suốt 57 nhiệm kỳ (1789-2016) với 44 đời Tổng thống (TT), nước Mỹ chưa bao giờ chứng kiến một ứng viên có cách phát ngôn kỳ quái – thậm chí là đáng sợ như Donald Trump.

Ứng viên của đảng Cộng hòa đi vận động tranh cử nhưng bất chấp mọi quy tắc, phá vỡ mọi thủ tục truyền thống, bỏ ngoài tai mọi lời khuyên về nghi thức ngoại giao – cứ ưa gì nói nấy, khiến không ít người hoảng hốt.
Đến nỗi, có nghị sĩ phải phàn nàn, nếu Donald Trump trúng cử, chắc hẳn cả thế giới sẽ tin rằng người Mỹ đang bị… điên.
Quả thực, khó ai có thể hình dung nổi những ngôn từ mà Trump phát ra lại có thể đại diện cho trí tuệ, sức mạnh Mỹ trong 4 năm sắp tới.
Khoe cô con gái Ivanka xinh đẹp, ông “bộc bạch” rằng đẹp đến nỗi là nếu không phải là con gái của mình thì chính ông ta cũng muốn… hẹn hò(?).
Bàn về người nhập cư từ Mexico, Trump đoan quyết rằng chính họ đã đem ma túy và đủ thứ tồi tệ vào Mỹ.



Xem các phát ngôn gây tranh cãi của Donald Trump tại đây: >> TUYỂN TẬP NHỮNG PHÁT NGÔN KINH THIÊN ĐỘNG ĐỊA CỦA DONALD TRUMP
Xem các phát ngôn gây tranh cãi của Donald Trump tại đây: >>  .................. >>>>>>>>>



Chê bai đối thủ, Trump không ngại ngần xỉa xói cả chuyện đời tư: Ông ta cho rằng bà Hilary là người rất kém nên chồng chán mới ngoại tình, “Bà ta không làm thỏa mãn được cả ông chồng, làm sao tin là bà ta có thể làm thỏa mãn hàng triệu người dân Mỹ” - ông từng nói.

Báo chí la ó, dân mạng sôi sục, các nhà trí thức phẫn nộ… Mặc, Donald Trump cứ y như chiếc xe ủi đất, ủi phăng mọi chướng ngại rồi, cứ lầm lũi mang theo bùn đất, “dọn sạch” con đường thành công bằng sự ủng hộ từ hàng triệu các cử tri.

“Hiện tượng Trump” có thể được coi là độc nhất vô nhị - không chỉ trong nước Mỹ mà xét cả trên phạm vi rộng lớn của chính trường hàng trăm quốc gia trong thế giới đương đại.

Điều đầu tiên dễ nhận thấy cái xu hướng thích mới, lạ, sáng tạo, là một đặc tính Mỹ. Người Mỹ ghét sự nhàm chán, lặp lại, cũ mòn, luôn hướng tới những tìm tòi, khám phá riêng biệt, độc đáo.
Đây là điều giải thích vì sao hơn 70% những phát minh ý nghĩa và hiệu quả nhất của văn minh hiện đại là của người Mỹ.

Quả thực, Donald Trump đã đem đến một luồng gió mới; dẫu luồng gió đó có làm cho ai đó cảm thấy quá lạnh hay quá nóng, quá độc hay quá thô thiển thì nó vẫn… mới mẻ và đầy hấp dẫn.
Điều tiếp theo phải thấy là, thế giới mà chúng ta sống dường như luôn bao phủ bởi một màn dối trá nhàm chán.

Hết thảy các chính trị gia là những nhà ảo thuật của ngôn từ, họ làm xiếc cực tài với cái vỏ của ngôn ngữ, sao cho, nếu các lời hứa bóng bẩy sau này không thực hiện được thì cũng rất dễ dàng bao biện.
Chính vì thế, người Mỹ - với tính thực dụng cao độ, đang cần đến sự cụ thể, rõ ràng của cách thức dẫn dắt của người lãnh đạo, theo cách thức các tuyên bố càng rõ càng tốt chứ không phải như bấy lâu nay, càng mơ hồ thì càng được tán thưởng.

Thứ ba, tất cả những gì Trump “động đến” đều rất thiết thực, đã và đang là đòi hỏi bức bách của hàng triệu người như việc làm, bảo hộ mậu dịch, vị thế bị sứt mẻ của Mỹ trước nguy cơ bị Trung Quốc lấn lướt…

Trump đảm bảo sẽ có cái mà người Mỹ cần; và, quan trọng hơn, ông chỉ ra rất chi tiết cách thức ông sẽ làm, làm được.

Chẳng hạn, ông nói rằng ông sẽ xây được bức tường thật dọc biên giới Mỹ - Mexico chứ không phải cái bức tường gọi là đang có, bởi “không ai xây tường giỏi hơn tôi”! Còn gì thuyết phục hơn lời hứa xây tường của một tỉ phú kinh doanh bất động sản?




Thứ tư, trong lịch sử Hoa Kỳ, chưa có một người nào giàu cỡ như Trump ứng cử. Tài năng đã được tài sản mặc định. Tài năng đó càng được đảm bảo hơn khi dân Mỹ tin rằng đây sẽ là vị TT không dễ (không thể) bị các nhà tài phiệt thao túng. 

Thử nghĩ xem: các ứng viên TT lâu nay đều “sống” được là nhờ dựa vào sự hà hơi, tiếp sức từ đủ thứ “quỹ” ủng hộ bởi rất nhiều nguồn khác nhau. Chẳng ai lạ gì sự trả ơn (đồng nghĩa với việc bớt phần bánh của người nghèo) của các TT cho những kẻ giàu sau khi đắc cử.

Thứ năm, để cho nước Mỹ lại trở nên vĩ đại như khẩu hiệu mà Trump đưa ra (Make America Great Again), người dân Mỹ cần đến một sự táo bạo bất quy tắc – điều lâu nay vẫn luôn hiện hữu suốt nhiều đời TT.

Sự uyển chuyển của Obama hiện nay luôn được ngầm hiểu là “yếu đuối”. Nước Mỹ không thể vĩ đại nếu không phô diễn sức mạnh, đúng như cách Ronald Reagan (TT từ 1981-1989) đã từng thể hiện: “Chúng ta sẽ tăng cường sức mạnh bởi chúng ta biết rõ đây là cách tốt nhất để khỏi phải đem sức mạnh đó ra dùng”.


Cựu Tổng thống Mỹ Ronald Reagan, người luôn được coi là hình mẫu của đảng Cộng hòa. Ảnh: WikiMedia
Cựu Tổng thống Mỹ Ronald Reagan, người luôn được coi là "hình mẫu" của đảng Cộng hòa. Ảnh: WikiMedia


Thứ sáu, sự thâm thúy của ngôn từ, sự bóng bẩy đa nghĩa giàu hình ảnh trong cách diễn đạt của các TT và ứng viên TT, dường như là “món ăn, khẩu vị” của giới trí thức có bằng đại học, như phân tích của nhiều báo Mỹ.

Do vậy, tầng lớp ít học (một bộ phận lớn cử tri Mỹ) luôn cảm thấy đã và đang “bị thế giới phẳng giẫm đạp”; họ cần một sự thay đổi, cần một đại diện của họ theo đúng nghĩa đen của từ này, đó là con người hành động chứ không phải là người nói nhiều làm ít.

Thứ bảy, trái với cách hiểu sai của nhiểu người khi thấy ông ăn nói như một người ít học, Donald Trump lại là một trong những bậc thầy về ngôn từ.

Bằng chứng rõ nhất là ông đã từng chứng minh mình có tài ăn nói khi vừa là nhà sản xuất vừa là người dẫn chương trình truyền hình rất ăn khách – Apprentice (Học nghề) của đài truyền hình NBC.
Ông cũng là tác giả của nhiều cuốn sách ăn khách (Best-Seller) như Nghệ thuật thương lượng; Tồn tại đỉnh cao; Tôi đã làm giàu như thế nào; Hãy nghĩ như một tỷ phú

Thứ tám, từ tài năng đã được kiểm định, công nhận về ngôn ngữ trên đây mới thấy sự nổi bật về cách dụng từ có vẻ như bỗ bã, mộc mạc là một chủ định, tất nhiên, thành công đến ngay tức thì.

Có thể nói, Trump đang thực sự gần dân, hiểu dân, nói ngôn ngữ của đa số nhân dân; hứa với đa số điều ông hiểu rõ – sẽ làm. Trong lịch sử thế giới, có không ít lãnh tụ có kiến thức cao siêu nhưng luôn nói năng, phát biểu một cách mộc mạc. Chưa thấy ai trong số đó không thành công.

Thứ chín, Donald Trump đã từng gần như bị phá sản trong những năm 80 của thế kỷ trước. Thuở đó, Trump kể rằng ông còn nghèo hơn cả một người ăn mày vì tài sản của người đó là số 0, còn ông, âm 5 tỷ USD!.

Một con người có lúc thất cơ lỡ vận đến tận cùng, vẫn có thể vươn lên, không những đã trả hết nợ nần mà lại còn trở nên giàu có, chắc chắn là điều nước Mỹ đang cần.

Hãy nhớ lại một chút về lịch sử: năm 1932, nước Mỹ lâm vào cuộc Đại khủng hoảng, nền kinh tế bị tàn phá đến 60%. Chính trong thời điểm đó, người Mỹ cần đến một vị TT giàu ý chí, dám vượt qua mọi thử thách, khó khăn, có đủ bản lĩnh để đưa nước Mỹ tiến lên…

Người Mỹ đã chọn Franklin D. Roosevelt (1882-12.4.1945), đương kim Thống đốc bang New York – một người bị bại liệt từ năm 39 tuổi. Roosevelt đã không phụ lòng tin của nhân dân Mỹ, hoàn thành xuất sắc công việc trong gần 4 nhiệm kỳ.

Roosevelt bị bại liệt vẫn có thể trở thành Tổng thống, Trump bị phá sản vẫn có thể trở lại thành tỷ phú! Chẳng có bằng chứng nào thuyết phục hơn về tài năng, bản lĩnh, thành công…
Và cả hai đều là người New York!

 H.V.T.   

-----

ĐỌC THAM KHẢO:
           



Donald Trump - khi kẻ dối trá và gã đầu gấu quyện vào làm một

Tác giả: Đức Huy 

Donald Trump - khi kẻ dối trá và gã đầu gấu quyện vào làm một
Ứng viên Tổng thống đảng Cộng hòa, tỉ phú Donald Trump. Ảnh: Getty/Rolling Stones

Donald Trump đang giành được ưu thế lớn trong cuộc đua giành vị trí đại diện đảng Cộng hòa tranh cử Tổng thống Mỹ, bằng cách "khủng bố tinh thần" người dân nước này.

LTS: Trong bài viết góc nhìn đăng trên trang US News & World Report, giáo sư Nicole Hemmer thuộc Trung tâm Nghiên cứu Đối nội Miller, Đại học Virginia (Mỹ), đã gióng một hồi chuông cảnh tỉnh cho toàn thể người dân nước Mỹ, rằng họ đang bị Donald Trump "khủng bố tinh thần".

Trong bài viết, bà Hemmer chỉ ra rằng, bằng những lời nói dối trắng trợn như thể "lưỡi không xương" cộng với bản tính đặc trưng của một kẻ bắt nạt, Trump đã và đang thu hút được một bộ phận đông đảo cử tri ủng hộ, và đánh lạc hướng họ khỏi những làn sóng chỉ trích mình.

Bài viết đang thu hút được rất nhiều sự chú ý của người dân nước Mỹ, cũng như các độc giả quan tâm đến chính trị Mỹ trên toàn cầu.

Dưới đây, chúng tôi xin gửi tới quý độc giả bản dịch bài viết với nhan đề "Donald Trump đang khủng bố tinh thần nước Mỹ" (Donald Trump is Gaslighting America) của tác giả Nicole Hemmer, đăng ngày 16/3 vừa qua trên US News & World Report.

---

Người dân Mỹ thân mến,
Tôi xin phép có đôi lời can thiệp
Các bạn đang phải đối mặt với một vấn đề
Mang tên Donald Trump
Các bạn đang bị ông ta khủng bố tinh thần.

Đây là một chiêu trò thường thấy ở những kẻ chuyên đi lợi dụng: Bằng những thủ thuật tâm lý cùng những lời dối trá trắng trợn, chúng khiến nạn nhân (mà ở đây là cả một quốc gia) mất phương hướng đến mức bất lực không thể chống trả.

Trump là một sự pha trộn đáng sợ giữa một kẻ dối trá và một gã đầu gấu. Nếu cùng phe, thì Trump sẽ coi bạn như tri kỉ. Nhưng một khi bản chất lừa đảo đã bị lật tẩy, Trump sẽ chuyển ngay sang khủng bố tinh thần bạn.

Bị xét hỏi, Trump sẽ nói dối không chớp mắt. Gọi Trump là một kẻ dối trá, ông ta sẽ bào chữa rằng "nói thẳng quá cũng là cái tội".

Đối mặt với những bằng chứng chống lại mình, Trump chỉ nhún vai và cứ thế nhắc lại những gì đã nói. Có thể Trump sẽ tìm cách thay đổi chủ đề để "đánh trống lảng", nhưng ông ta sẽ không bao giờ rút lại lời nói dối của mình.



Khi đối mặt với bằng chứng chống lại mình, Trump đơn giản chỉ nhún vai, và tiếp tục nhắc lại những lời nói dối trước đó.
Khi đối mặt với bằng chứng chống lại mình, Trump đơn giản chỉ nhún vai, và tiếp tục nhắc lại những lời nói dối trước đó.


Ví dụ ư? Trump từng nói rằng ông ta chưa bao giờ phải dàn xếp một vụ kiện nào.

- Trump đã từng phải bỏ ra hàng trăm triệu USD để dàn xếp vụ kiện của hơn 100 nhà đầu tư vào dự án biệt thự cao cấp đứng tên Trump tại California.
- Tất cả các cuộc thăm dò dư luận tại New York đều cho kết quả bà Clinton bỏ xa Trump.
- Trump từng tuyên bố ông "sẵn sàng lo phí bảo lãnh" cho những ai vì ủng hộ ông mà dùng vũ lực đánh đuổi những người biểu tình phản đối.
- Kết quả các cuộc thăm dò dư luận do Washington Post và Univision phối hợp thực hiện đều cho thấy trong số các ứng viên đảng Cộng hòa, Trump là người giành được tỉ lệ ủng hộ thấp nhất từ nhóm người Latin ở Mỹ.
- Jeb Bush, Marco Rubio, và Scott Walker đã nhắc đến vấn đề người nhập cư trước cả khi Trump chính thức tuyên bố tranh cử.
Trump từng nói rằng tỉ lệ người dân New York ủng hộ ông ta vượt trội so với bà Clinton.
Trump từng nói rằng ông ta chưa bao giờ khuyến khích hành vi bạo lực tại các điểm vận động tranh cử.

Trump từng nói rằng ông ta thu hút được rất nhiều cử tri Latin về phía mình.

Trump từng nói rằng ông ta là ứng viên Tổng thống đầu tiên đề cập đến vấn đề người nhập cư.
Trump từng nói thế này, từng nói thế kia...
Nhưng quên hết đi, vì sự thật chỉ dành cho kẻ thua cuộc mà thôi.

Các phóng viên, nhà báo viết về chính trị ở Mỹ đã và đang liên tục bị chỉ trích vì không dám lật tẩy những lời dối trá của Trump. Nhưng sự thật là họ đã làm thế từ lâu rồi.

Với bất kì phóng viên chính trị nào, một chính trị gia bị bắt quả tang nói dối chẳng khác nào một miếng mồi ngon để họ khai thác. Nhưng khi họ lật tẩy Trump, ông ta không phản ứng như cái cách những người bị bắt quả tang thường làm.

Trump không biến sắc, không thèm phân minh, không cần giải thích. Ông ta đàn áp, ông ta bắt nạt, và lại tiếp tục những lời nói dối. Và cánh nhà báo chẳng biết phải làm gì. Họ đã chuẩn bị sẵn những bằng chứng cho một cuộc đấu trí, để rồi nhận ra rằng sự thật chẳng có nghĩa lý gì khi đối đầu với Trump.

Nếu bạn cảm thấy khó hiểu làm sao một cá nhân có thể khủng bố tinh thần cả một quốc gia, thì hãy nghe câu chuyện về phóng viên Michelle Fields của mạng tin Breibart để hiểu thêm.

Trong lúc đưa tin về một buổi vận động tranh cử của Trump hôm thứ ba (15/3 - PV) vừa qua, Fields đã bị nắm lấy tay và xô xuống đất.

Phóng viên Ben Terris của tờ Washington Post có mặt tại hiện trường khi đó cho biết, thủ phạm không ai khác chính là Corey Lewandowski, giám đốc phụ trách chiến dịch tranh cử của Trump.
Fields bị thương ở cánh tay, và cô có ghi âm lại vụ việc (vì khi đó Fields đang chuẩn bị đặt câu hỏi cho Trump - PV). Được biết, chính Lewandowski cũng nói với một biên tập viên tạp chí Breibart rằng anh ta đã nắm lấy Fields.

Vậy sau đó thế nào?

Lewandowski nói rằng Fields bị điên. "Hoàn toàn là ảo giác" - Lewandowski viết trên mạng xã hội Twitter. Trong khi đó, Trump cáo buộc Fields bịa chuyện.



Phóng viên Michelle Fields (váy trắng, cầm điện thoại) phỏng vấn Trump trong một buổi vận động tranh cử. Mới đây, cô cùng một phó tổng biên tập Breibart đã từ chức vì báo này không công khai đứng ra bảo vệ cô trong vụ lùm xùm với Trump.
Phóng viên Michelle Fields (váy trắng, cầm điện thoại) phỏng vấn Trump trong một buổi vận động tranh cử. Mới đây, cô cùng một phó tổng biên tập Breibart đã từ chức vì báo này không công khai đứng ra bảo vệ cô trong vụ lùm xùm với Trump.



Một người đồng nghiệp của tôi, Robert Schlesinger (phó tổng biên tập US News & World Report - PV), đã phải bình luận như thế này:

"Phe cánh của Trump đã áp dụng các chiêu trò công kích nạn nhân mà những kẻ bị cáo buộc cưỡng hiếp vẫn hay dùng, như: 'Cô ta bị ảo giác đó, cô ta bịa ra tất cả mọi chuyện, tại sao cô ta không báo cảnh sát, cô ta có tiền sử bị ảo giác như vậy đó".
Hay nói cách khác: khủng bố tinh thần.

Một cá nhân thì là vậy, còn ở cấp độ cao hơn thì sao? Hãy cùng đến với Chicago, nơi Trump đã hủy một buổi vận động tranh cử, dẫn đến một loạt các cuộc bạo động giữa một bên là các cử tri ủng hộ Trump khi đó đang tức giận, và bên kia là những người biểu tình phản đối Trump bấy giờ rất hồ hởi.
Trên chương trình phát thanh Sean Hannity tối cùng ngày, Trump giải thích rằng các cơ quan chức năng đã khuyên ông hủy bỏ buổi vận động tranh cử vì lý do an ninh.

Tuy nhiên, Sở cảnh sát thành phố Chicago khẳng định họ chưa từng khuyên Trump phải làm như vậy.
Trump nói rằng, "Tôi không muốn ai bị thương cả. Chúng tôi muốn xử lý tình huống mà không dùng đến biện pháp bạo lực".

Thế nhưng trong hơn một tháng vừa qua, Trump đã và đang khuyến khích những người ủng hộ ông cứ thoải mái gây bạo động, không chỉ bằng cách giật dây họ tấn công người biểu tình, mà thậm chí còn tuyên bố sẵn sàng lo phí bảo lãnh nếu họ bị bắt vì tội hành hung.

Trump phân bua rằng những người ủng hộ ông chỉ chống trả để tự bảo vệ mình - dù chỉ 3 ngày trước đó, camera đã ghi lại hình ảnh một người ủng hộ Trump đánh lén một người biểu tình, khi đó đang được các nhân viên an ninh đưa ra khỏi hội trường một sự kiện vận động tranh cử của ông.

Như để bảo vệ Trump, Hannity - một kẻ đã khủng bố tinh thần nước Mỹ trước cả Trump, nhưng không hiệu quả bằng - đã nói rằng: "Từ bao giờ chúng ta lại đi đổ lỗi cho nạn nhân thay vì những kẻ gây ra bạo động vậy?"

Sean Hannity là nhà nghiên cứu chính trị, và cũng là một nhân vật truyền thông có tiếng tại Mỹ. Ông là người dẫn chương trình phát thanh The Sean Hannity Show, nơi bàn luận về các vấn đề thời sự chính trị Mỹ, với thiên hướng ủng hộ tư duy bảo thủ tương đối rõ ràng.
Cứ việc hỏi Corey Lewandowski.
Cách tốt nhất để không bị khủng bố tinh thần là cắt đứt mọi liên kết với kẻ khủng bố. Một bộ phận đảng Cộng hòa đang tìm cách làm như vậy, nhưng dường như GOP còn phải đối phó với Trump ít nhất tới hết tháng 7, và nhiều khả năng tới tận tháng 11.

Nhưng người Mỹ ạ, các bạn vẫn có thể phản kháng. Trump sẽ vẫn nói rằng ông ta yêu quý các bạn. Nhưng đó chỉ là một trò lừa.

Cũng như mọi mối quan hệ ngược đãi khác, tình cảm là chiêu trò dùng để đánh lạc hướng, còn cái đích hướng tới thì luôn là quyền lực.

Do đó, thử thách lớn nhất đối diện các bạn vào lúc này, là ngăn cản Donald Trump có được điều đó

Đ.H.