Loading...

Thứ Sáu, ngày 01 tháng 5 năm 2015

Những kỷ niệm không phai mờ

Những kỷ niệm không phai mờ



Khoảng đầu giờ chiều nay, ngày Quốc tế lao động 1/5, anh Nguyễn Đình Bin gọi điện thoại cho tôi thăm hỏi sức khỏe. Vào một ngày mọi người đa phần ở thành phố nghỉ lễ, đi tham quan du lịch, cú điện thoại của một người trước đây có cương vị lãnh đạo cao cấp, từng có thời kỳ là thủ trưởng trực tiếp (khi mình làm tờ Quốc Tế; và trước đó trong ban Thư ký UBQG tổ chức HNCC7 Pháp ngữ mà anh Bin là Phó chủ tịch thường trực của UBQG này)... càng thấy sự chu đáo tình nghĩa của con người đồng nghiệp với nhau.

Cuối cuộc chuyện trò anh có nói tới ngày 30/4 vừa qua đi, biết bao nhiêu câu chuyện về đoàn kết, hòa giải dân tộc dù sao vẫn như "mắc nợ", vẫn như tồn tại lấn cấn một điều gì ở cả phía bên này bên kia. Nhân đó anh Nguyễn Đình Bin có nhắc tới thời anh làm Thứ trưởng BNG, Chủ nhiệm Ủy ban quốc gia về người Việt Nam ở nước ngoài, anh bảo có nhiều điều đáng nói về công việc này.

Tôi có nói với anh Nguyễn Đình Bin là tốt nhất anh gửi cho bài viết về công việc đó. Anh Bin nói bài viết đã lâu, chừng 6 năm về trước "có sao không, có hợp với blog anh không?". Tôi bảo quan trọng là nội dungt, nếu phóng phú, giàu tư liệu và các thông tin thì bài viết vẫn có giá trị với bạn đọc thời nay...

Và sau đó tôi nhận được bài viết dưới đây. Bài viết hơi dài nhưng phải nói là chất chứa tâm huyết của một nhà ngoại giao được giao trọng trách về công tác Việt kiều... Chủ blog tôi xin post nguyên văn để bạn đọc Blog ở gần cũng như ở xa cùng chia sẻ...

Vệ Nhi g-th

-----



Những kỷ niệm không phai mờ

Nguyễn Đình Bin*



Trong hơn bốn mươi năm công tác tại ngành ngoại giao, một trong những vinh hạnh lớn nhất của tôi là đã được kề vai sát cánh với đội ngũ cán bộ, nhân viên UBVNVNONN, cơ quan tham mưu và quản lý của Đảng và Nhà nước ta về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài,  trên cương vị là người đứng đầu, trong giai đoạn rất đáng ghi nhớ: 4 năm mở màn thiên niên kỷ thứ ba (2000 - 2003).

Bốn năm là một quãng thời gian không dài trên chặng đường nửa thế kỷ từ khi ra đời đến nay của Ban VK TƯ, rồi UBVNVNONN  và nay là UBNNVNVNONN, nhưng đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không thể phai mờ và bài học quý.  Đó là những năm tháng công cuộc đổi mới toàn diện của nhân dân ta, do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, được triển khai mạnh mẽ và toàn diện,  giữa một thế giới đang biến động sâu sắc, đan xen những thời cơ lớn với thách thức cũng lớn. Trên bình diện chủ quan thì UBVNVNONN, qua 40 năm  hoạt động và phát triển và sau 4 năm Thủ tướng Chính phủ quyết định sát nhập vào Bộ Ngọai giao, đã tích lũy được nhiều kinh  nghiệm quý báu và có thêm điều kiện để có những bước phát triển mới về chất.

 

Hôm nay, nhìn lại quãng thời gian ấy, tôi vui mừng là đã cùng tập thể cán bộ nhân viên UBVNVNONN tăng cường đoàn kết, không ngừng phấn đấu vươn lên, kế thừa và phát huy được những  kinh nghiêm quý báu của các lớp anh, chị đi trước, đồng thời đã tự đổi mới được mình, trước hết là đổi mới tư duy, phát huy mạnh mẽ bản lĩnh, tinh thần chủ động, tiến công, dám chịu trách nhiệm, đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tham mưu và quản lý mà Đảng và Nhà nước giao phó trên lĩnh vực công tác này, có những đóng góp xứng đáng vào các thành tích đáng tự hào trong 50 năm phát triển của UBNNVNVNONN. 

Trong số các sự kiện giờ đây dồn dập hiện lên trong ký ức tôi, nổi bật nhất, sâu đậm nhất là qúa trình thai nghén và ra đời của Nghị quyết 36 của BCT, nghị quyết công khai  đầu tiên của  cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng về công tác đối với NVNONN.

Đầu năm 2000, sau khi nhận quyết định bổ nhiệm của Thủ tướng Phan Văn Khải, tôi khẩn trương tìm hiểu công việc, nắm các tư tưởng chỉ đạo của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước để định hướng cho mình và xây dựng chương trình công tác tổng thể. Tôi nghiên cứu lại Nghị quyết 08-NQ/TƯ, ngày 29-11-1993 của BCT ( khóa VII), một văn kiện đã thể hiện nhiều quan điểm đổi mới chủ yếu của Đảng ta trên lĩnh vực này. Nhưng, đến thời điểm ấy, Nghị quyết ban hành đã được gần 7 năm,  tình hình trong nước, tình hình cộng đồng cũng như tình hình thế giới đã có nhiều điểm mới. Tôi thấy cần phải  tiến hành tổng kết việc thực hiện nghị quyết quan trong này, từ đó đề xuất những kiến nghị điều chỉnh, bổ sung cần thiết để đáp ứng những đòi hỏi của tình hình mới. Qua quá trình thực hiện tổng kết, chúng tôi phát hiện một thực tế là nhận thức chung về cộng đồng và công tác cộng đồng còn nhiều điểm quá lạc hậu và lệch lạc nữa. Nhiều lãnh đạo các ngành, các cấp  thậm chí còn không biết là đã có NQ – 08 của BCT.  Điều này hiểu được, vì đó là một nghị quyết mật và ra đời đã gần 7 năm. Trong khoảng thời gian này, rất nhiều lãnh đạo các ngành, các cấp đã thay đổi. Chính thực tế này đã làm cho tôi nảy sinh ý tưởng cần kiến nghị BCT ra một NQ mới và công khai về vấn đề này, bởi tôi  nghĩ rằng để có thể làm tốt công tác đối với cộng đồng NVNONN trong thời kỳ mới thì,  điều kiện đầu tiên, quan trọng nhất và quyết định nhất là phải tạo được một nhận thức chung, thực sự đổi mới, đúng đắn và thống nhất. Không chỉ cán bộ lãnh đạo các ngành, các cấp và các đảng viên mà toàn bộ hệ thống chính trị cũng như toàn thể nhân dân ta và cả cộng đồng NVNONN cũng phải được biết, hiểu và quán triệt tư duy đổi mới của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực này. Hơn nữa, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta đối với cộng đồng NVNONN là quang minh, chính đại, không hề có gì trái với lợi ích của các nước nơi bà con ta đang làm ăn, sinh sống, mà ngược lại còn góp phần tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các nước đó với nước ta. Bởi vậy, cũng rất cần phải tuyên truyền rộng rãi chủ trương, chính sách đó cho thế giới hiểu. Và, biện pháp khả thi và hiệu nghiệm nhất để đạt được các mục tiêu này là BCT ra một nghị quyết công khai, nói rõ tư duy, các quan điểm và chủ trương đổi mới đó. Nhưng khi chỉ đạo UBVNVNONN xây dựng “Đề án tăng cường công tác vận động cộng đồng”, tôi nêu ý này ra thì đã có một số ý kiến không đồng tình ngay trong số cán bộ chủ chốt của UB, vì cho rằng các nghị quyết của BCT lâu nay hầu hết đều là mật, Nghị quyết 08 cũng là một văn kiện mật, BCT  không thể ra một nghị quyết công khai về một vấn đề phức tạp và tế nhị như vậy. Nhưng qua tranh luận thật sự dân chủ,  thẳng thắn, ý tưởng đổi mới này đã  được hoàn toàn nhất trí. Chúng tôi đã tập trung lực lượng khẩn trương xây dựng Đề án, trong đó kiến nghị 8 giải pháp tổng thể mà điểm then chốt nhất, có tính chất quyết định để đổi mới công tác vận động cộng đồng là BCT ra một Nghị quyết mới, công khai về vấn đề này. Nhận thức rõ đây là một công việc rất quan trọng và nhạy cảm, tôi đã tranh thủ trình trước 2 Ủy viên BCT ( đồng chí Nguyễn Mạnh Cầm , Phó thủ tướng phụ trách đối ngoại và đồng chí Trương Tấn Sang, Trưởng Ban kinh tế TƯ) để cho ý kiến sơ bộ. Thầm mừng được cả  2 đồng chí bật đèn xanh- đồng chí Trương Tấn Sang còn khen là đề án tốt-, tôi rà soát kỹ lại và sửa sang lần chót văn bản và  ngày 28 tháng 7 năm 2000 đã ký Tờ trình Đề án lên Thường vụ BCT ( Khóa VIII, Trung ương Đảng không có Ban Bí thư) và Thủ tướng Chính phủ. 

Tiếp đó là những ngày tháng chờ đợi. Qua các mối quan hệ công tác, tôi cố gắng thúc đẩy việc đưa Đề án ra trình xin ý kiến Lãnh đạo. Nhưng, thời điểm đó, Lãnh đạo Đảng đang tập trung vào việc chuẩn bị, tiếp đến là tiến hành Đại hội toàn quốc lần thứ IX của Đảng, và sau đó là vào việc triển khai các NQ của Đại hội IX, có thể vì vậy mà chưa thể xem xét việc này. 



Đầu tháng 10 năm 2001, tôi thật vui mừng nhận được công văn của Văn phòng Chính phủ thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đối với “Đề án tăng cường công tác vận động cộng đồng” , trong đó Thủ tướng chỉ thị “ Ban cán sự Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan chuẩn bị Đề án trình Bộ Chính trị có Nghị quyết (hoặc Chỉ thị) về lĩnh vực công tác này”. Thế là tôi cùng các cán bộ hữu quan của UB bắt tay vào xây dựng dự thảo Đề cương, rồi Đề cương chi tiết và cuối cùng là văn kiện mà chúng tôi vẫn kiên trì kiến nghị là “Nghị quyết công khai của BCT”. Trong suốt quá trình này, chúng tôi đều tiến hành trao đổi, lấy ý kiến đóng góp của Mặt trận Tổ quốc và các Bộ, cơ quan, ban, ngành hữu quan. Qủa thực, đây là một công việc không đơn giản. Nhưng qua kiên trì trao đổi cởi mở, tranh luận thẳng thắn, cuối cùng , ngoại trừ một cơ quan còn phân vân giữa “ Nghị quyết” hay “ Chỉ thị”, 12 Bộ, cơ quan, ban, ngành hữu quan khác đều nhất trí với chúng tôi là kiến nghị BCT ra“ Nghị quyết công khai”.  

Ngày 20 tháng 5 năm 2002 tôi ký Tờ trình dự thảo Nghị quyết lên BCT Và Thủ tướng Chính phủ. Tiếp đó lại là những tháng ngày cố gắng thúc đẩy việc xem xét kiến nghị này, nhưng vẫn chưa có thông tin khích lệ.
Ngày 12 tháng 3 năm 2003, Taị Hội nghị toàn thể lần thứ 7, TƯ Đảng khóa IX ra Nghị quyết về “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vì  dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Tôi thầm mừng: thời cơ đã đến để làm sống lại kiến nghị mà chúng tôi đã kiên trì đeo đuổi suốt 3 năm qua.  Bởi BCT ra nghị quyết mới này chính là một bước triển khai và cụ thể hóa Nghị quyết TƯ 7 đối với cộng đồng nười Việt Nam ở nước ngoài, một bộ phận không thể tách rời của toàn dân tộc Việt Nam. Thế là chúng tôi lại rà soát lại các văn bản và ngày 14 tháng 4 năm 2003, tôi ký một Tờ trình mới lên BCT, nhắc lại kiến nghị  này  trong bối cảnh tình hình và yêu cầu mới.

Tiếp theo đó, nửa đầu tháng 6 năm 2003, tôi được cử dẫn đầu một đoàn liên ngành đầu tiên của nước ta đi thăm, tiếp xúc trên tinh thần rất chủ động, thẳng thắn, cởi mở với cộng đồng người Việt tại Canada và Hoa Kỳ. Những nét rất mới trong tình hình cộng đồng nắm được qua chuyến đi này càng củng cố thêm niềm tin và thôi thúc tôi phải tiếp tục thúc đẩy  kiến nghị nói trên. Tôi chủ động xin ý kiến  đồng chí Vũ Khoan, Bí thư TƯ Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ phụ trách đối ngoại. Tôi rất mừng được đồng chí đồng ý. Thế là lại một lần nữa, tôi cùng anh chị em cán bộ hữu quan của UB khẩn trương rà soát, chỉnh lý lại văn bản đã trình trước đây; và ngày 25 tháng 6 năm 2003, tôi lại ký Tờ trình lên BCT nhắc lại kiến nghị  nói trên, lần này với niềm hy vọng lớn hơn bao giờ hết. Thật là may mắn, đồng chí Vũ Khoan đã dành thời gian đích thân đọc và cho ý kiến chỉ đạo trực tiếp vào văn bản. Vào thời điểm đó, tôi đã có quyết định của Lãnh đạo cấp cao cử làm Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền nước ta tại Pháp. Tôi đặt mục tiêu: phải hoàn thành bằng được công việc then chốt này mà tôi đã tâm huyết, trăn trở từ khi mới nhận nhiệm vụ làm Chủ nhiệm UBVNVNONN. Với quyết tâm  đó, theo  ý kiến chỉ đạo rất cụ thể của đồng chí Vũ Khoan, tôi đã dành thời gian, công sức cùng anh chị em cán bộ UB hoàn chỉnh dự thảo.  Rồi lại lấy ý kiến đóng góp của các cơ quan, ban, ngành hữu quan một lần nữa. Tôi rất vui đã thực hiện được mục tiêu đề ra : hoàn chỉnh lần cuối cùng các văn bản và kịp trình Dự thảo NQ lên BCT trước khi tôi lên đường đi Paris nhận nhiệm vụ mới vào đầu tháng 12 năm 2003.  Cũng như các lần trước, trong Tờ trình, chúng tôi đã báo cáo ý kiến của  tất cả các cơ quan, bộ, ban, ngành hữu quan để BCT có đầy đủ cơ sở xem xét. Đáng lưu ý là, lần cuối này, ngoài một cơ quan ngay từ đầu vẫn giữ ý kiến phân vân giữa kiến nghị BCT ra “ Nghị quyết” hay “ Chỉ thị” thì có thêm một cơ quan rất quan trọng  trước đây tán thành, nay không đồng ý với việc kiến nghị BCT ra Nghị quyết công khai nữa.

Ít tháng sau, trong khi đang công tác tại Pháp, tôi thật sự vui mừng nhận được tin và toàn văn Nghị quyết số 36 NQ/TW , bản NQ công khai đầu tiên của BCT về cộng đồng NVNONN, ban hành ngày 26 tháng 3 năm 2004. Như trên đã nói, Nghị quyết 36 của BCT chính là bước cụ thể hóa và triển khai Nghị quyết 7 của TƯ Đảng ( khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đối với hơn 3 triệu đồng bào ta đang sinh sống ở nước ngoài, một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt  Nam,  một văn kiện có ý nghĩa lịch sử, có giá trị cơ bản, to lớn, toàn diện và lâu dài. Từ đó, trên cơ sở các tư tưởng, quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo của Nghị quyết 36, nhiều chính sách đổi mới cụ thể của Nhà nước ta đối với cộng đồng đã (và sẽ còn tiếp tục) được ban hành, được bà con kiều bào cũng như dư luận quốc tế nhiệt liệt hoan nghênh.

Trong khi tập trung trí tuệ, tâm sức vào việc then chốt nói trên tôi cũng tự đặt câu hỏi: có việc cụ thể nào khả thi mà có thể tạo tác động đột phá, thể hiện thực sự và mạnh mẽ tinh thần đổi mới, chủ trương khép lại quá khứ, thực hiện hòa hợp, đoàn kết dân tộc  của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng kiều bào ta? Tôi nghĩ chiến tranh kết thúc và đất nước  thống nhất đã một phần tư thế kỷ, cùng với cả nhân loại, dân tôc ta đã bước vào một thiên niên kỷ mới. Ngay với Hoa Kỳ, nước đã đem quân tới xâm lược nước ta, gây ra biết bao tội ác và hậu quả nặng nề cho nhân dân ta, thế mà từ cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, ta đã bắt đầu hợp tác với họ để tìm kiếm hài cốt những binh lính Mỹ mất tích trong chiến tranh, một chủ trương thể hiện rõ truyền thống khoan dung, nhân đạo của dân tộc ta, đã tác động tích cực tới dư luận Hoa Kỳ và thế giới. Vậy, đối với những binh lính Sài Gòn, là đồng bào của ta, đã chết, xét cho cùng cũng là những nạn nhân  của cuộc chiến tranh xâm lược đó, thì ta cần và có thể làm gì? Tôi quyết định trực tiếp  cùng một số cán bộ của UB vào khảo sát nghĩa trang mà chính quyền Sài Gòn cũ đã xây dựng tại xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương, nơi tập trung nhiều mồ mả nhất của binh lính chế độ cũ. Sau chuyến đi,  chúng tôi đã nhanh chóng thống nhất trong nội bộ UB một ý tưởng mới và bắt tay ngay vào việc trao đổi, bàn bạc và thuyết phục, tranh thủ sự đồng tình của các cơ quan, bộ phận và cá nhân hữu quan khác đối với ý tưởng này, một việc không hề đơn giản vì cực kỳ nhạy cảm, khi nêu ra đã gặp không ít sự không đồng tình, hiểu lầm, phản đối. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn kiên trì, không nản chí. Và khi thấy tình hình đã tương đối thuận, ngày 05 tháng 01 năm 2001, tôi đã ký Tờ trình lên Thường vụ BCT, đề xuất chủ trương cho thân nhân ở trong nước hoặc đang sinh sống ở nước ngoài bắt đầu từ Tết Tân Tỵ được chỉnh trang, tu bổ lại những ngôi mộ của người thân nguyên là sỹ quan, binh lính chế độ Sài Gòn cũ tại nghĩa trang tỉnh Bình Dương bình thường như các khu mộ chí khác của nhân dân. Tôi thật sự vui mừng là chưa đầy nửa tháng sau,  tại công văn số 5333-CV/VPTW, ngày 19 tháng 01   năm 2001, Văn phòng TƯ Đảng đã thông báo ý kiến của Thường vụ BCT  đồng ý với kiến nghị đó. Nhưng cũng thật là buồn, một chủ trương đúng đắn, sáng ngời tính nhân văn, được cấp Lãnh đạo cao nhất của Đảng rất nhanh chóng xem xét và chấp thuận như vậy,  đã không được  thực thi nghiêm túc, mặc dù  UBVNVNONN và cá nhân tôi đã hết sức cố gắng để thúc đẩy thực hiện, mà phải chờ đợi hơn 5 năm sau, mãi  đến cuối 2006, với ý kiến chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, chủ trương này mới được thi hành đầy đủ.

Một việc khác mà tôi cũng rất trăn trở và xác định là một trọng tâm công tác sau khi nhận nhiệm vụ là thành lập Hội liên lạc với người VN ở nước ngoài. Sự thật là ở thời điểm đó, vẫn còn một số ý kiến chưa thuận trong các cơ quan hữu quan, kể cả ở cấp Lãnh đạo. Nhưng tôi thấy đã đến lúc rất cần sự ra đời của Hội ở cấp quốc gia, bởi hơn 20 Hội  thân nhân kiều bào ở các địa phương đã được thành lập và hoạt động khá sôi nổi.  Thế là chúng tôi bắt tay vào việc trao đổi, vận động, thuyết phục ... Sau khi đạt được sự  đồng thuận, ngày 30 tháng 5 năm 2000, tôi đã ký Tờ trình lên Thường vụ BCT và Thủ tướng Chính phủ kiến nghị xin chủ trương cho thành lập Hội liên lạc với người VN ở nước ngoài kèm theo Đề án cụ thể về thành lập Hội. Phấn khởi được bật đèn xanh, chúng tôi khẩn trương trao đổi, hiệp thương để mau chóng hình thành Ban vận động thành lập Hội, do Gs.TsKH Nguyễn Văn Đạo, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, làm Trưởng Ban, rồi cùng với Ban vận động triển khai các công việc chuẩn bị để  thành lập Hội phù hợp với các điều luật hữu quan hiện hành: xây dựng Điều lệ, tìm kiếm, trao đổi, hiệp thương về nhân sự, chuẩn bị nội dung, tổ chức, hậu cần, lễ tân… cho Đại hội lần thứ nhất trong điều kiện rất khó khăn về tài chính. Cuối cùng, mọi công việc đã được hoàn tất và điều tôi nóng lòng mong đợi đã đến: Đại hội lần thứ nhất thành lập Hội liên lạc với người VN ở nước ngoài đã được tổ chức thành công  ngày 4  tháng 2  năm 2002 tại Hội trường  Đại học Quốc gia , 19 Lê Thánh Tông, Thủ đô Hà Nội. Đại hội đã cử ra Ban Chấp hành gồm 50 vị tiêu biểu, đai diện cho Mặt trận Tổ quốc VN, một số tổ chức quần chúng, các Hội địa phương…, do Gs. Ts.KH  Nguyễn Văn Đạo làm Chủ tịch, ông Phạm Khắc Lãm, nguyên Phó Chủ nhiệm UBVNVNONN làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký. Ban chấp hành còn có nhiều trí thức, nghệ sỹ lớn như các Gs. Ts. Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Tài Thu, các NSND Đặng Nhật Minh, Chu Thúy Quỳnh, nhà sử học Dương Trung Quốc.. Từ khi ra đời, Hội đã và đang triển khai hoạt động ngày càng phong phú, thiết thực, góp phần tăng cường mối liên hệ giữa cộng đồng kiều bào với đất nước.

Một điều trăn trở khác của chúng tôi là công tác vận động cộng đồng kiều bào quan trọng, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước như vậy; thế mà chưa bao giờ có được một ngân sách cho công tác này, ngoại trừ những chi phí cho UBVNVNONN như một cơ quan hành chính và một số rất ít cán bộ chuyên trách công tác cộng đồng tại một số cơ quan đại diện của nước ta ở nước ngoài. Bởi vậy, chúng tôi đã tích cực và kiên trì đề xuất, vận động, thuyết phục các ngành hữu quan và  cả cấp Trên tán thành cho lập Quỹ hỗ trợ cộng đồng. Và thật vui là cuối cùng thì Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 990/Q Đ-TTg, ngày 30 tháng 10 năm 2002 cho phép thành lập “Quỹ hỗ trợ, vận đồng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”,  với số ngân sách ban đầu 7 tỷ đồng do Nhà nước cấp. Nhận thức tầm quan trọng của Quỹ, chúng tôi đã mời và được Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa nhận làm Chủ tịch Hội đồng Bảo trợ Quỹ.   Từ ngày ra đời,  Quỹ đã tài trợ trên 16 tỷ đồng cho 85 dự án rất thiết thực, hỗ trợ việc giảng dậy tiếng Việt, tổ chức trại hè về nguồn cội cho con em kiều bào, đưa các đoàn văn nghệ ra phục vụ cộng đồng, đưa nhiều trí thức kiều bào về góp phần phục vụ đất nước… 

    Trong 4 năm công tác tại UB, tôi đã có một số lần đi thăm, tiếp xúc với cộng đồng ở các địa bàn khác nhau. Mỗi chuyến đi đều để lại trong tôi những kỷ niệm không thể quên. Nhưng, chuyến đi để lại những ấn tượng sâu đậm nhất là dịp tôi được cử dẫn đầu đoàn liên ngành đầu tiên đi thăm, tiếp xúc với bà con kiều bào ở Hoa Kỳ và Ca na da vào nửa đầu tháng 6 – 2003 mà tôi đã nhắc tới ở phần trên. Đoàn có một số vị lãnh đạo các ngành như ông Nguyễn Tiến Võ, Ủy viên thường trực Đoàn Chủ tịch UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ông Trịnh Xuân Giới, Phó ban thường trực Ban Dân vận TƯ;  ông Trần Văn Tạo, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Thành Phố Hồ chí Minh, nguyên Ủy viên TV Thành ủy, Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hóa và Giám đốc Sở Công an của Thành phố. Ban Bí thư đã cho ý kiến chỉ đạo khi chúng tôi trình Đề án chuyến đi. Nhưng, trước khi lên đường, tôi vẫn xin gặp đồng chí Vũ Khoan, Bí thư TƯ Đảng, Phó Thủ tướng phụ trách đối ngoại, để xin thêm ý kiến chỉ đạo, đặc biệt là xin được triển khai với tinh thần mới thực sự chủ động, tiến công, cởi mở, theo đúng Nghị quyết TƯ 7 (khóa IX) về đại đoàn kết dân tộc vừa ban hành. Tôi rất mừng là những đề xuất cụ thể theo tinh thần đó đã được đồng chí chấp thuận. Các thành viên trong Đoàn rất phấn khởi, nhưng cũng tỏ lo lắng trước trách nhiệm nặng nề khi tôi quán triệt trong toàn đoàn tinh thẩn mới đó trong ý kiến chỉ đạo của đồng chí Vũ Khoan. Trong chuyến đi này, ngoài các cuộc làm việc chính thức với các quan chức  hữu quan nước sở tại, một trọng tâm là gặp gỡ, đối thoại với các thành phần khác nhau trong cộng đồng kiều bào. Tôi không bao giờ có thể quên không khí thực sự cởi mở, thẳng thắn, chân tình trên tinh thần hòa giải dân tộc, cũng như những giây phút xúc động trong các cuộc gặp gỡ đó. Có một số kiều bào, sau bao năm tháng bị bưng bít, tác động bởi tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch với đất nước, đã khóc khi nghe chúng tôi thông báo tình hình đất nước và trả lời các câu hỏi, làm sáng tỏ các chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước đối với cộng đồng. Điểm đặc biệt nhất trong chuyến đi này là lần đầu tiên chúng tôi gặp gỡ một số nhân vật nguyên là lãnh đạo chính quyền Sài Gòn cũ và hoặc bất đồng chính kiến nổi bật trong đó có ông Nguyễn Cao Kỳ, ông Đỗ Ngọc Yến, Tổng Giám đốc Công ty Báo Người Việt, ông Nguyễn Ngọc Hải, “Chủ tịch  Ủy ban bảo vệ chính nghĩa quốc gia” của thành phố  Houston, nhạc sỹ Phạm Duy…

Tôi còn nhớ như in: sáng ngày 14 tháng 6 năm 2003, tôi cùng Tổng Lãnh sự nước ta lúc đó tại San Francisco Nguyễn Mạnh Hùng đã chơi golf với vợ chồng ông Nguyễn Cao Kỳ. Ông Kỳ đã chủ động kể cho tôi nghe chi tiết câu chuyện hồi kháng chiến chống Pháp, ông đã bị đưa về Hà Nội như thế nào trong khi đang lên cơn sốt rét ác tính nguy kịch. Cùng dạo bước trên sân cỏ  gần 5 tiếng đồng hồ, trong không khí cởi mở, thẳng  thắn, tôi và ông Kỳ đã trao đổi ý kiến về tình hình đất nước, đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, về tình hình cộng đồng, tình hình khu vực Đông Nam Á…Ông đã bày tỏ sự đồng tình đối với các chủ trương đổi mới của Đảng ta, nói rõ không tán thành các hoạt động chống đất nước và ý kiến của một số cá nhân và nhóm phái trong cộng đồng đòi áp đặt mô hình dân chủ phương Tây vào đất nước ta…Sau cuộc chơi golf, tôi đã mời vợ chồng ông Kỳ ăn cơm cùng toàn đoàn chúng tôi. Trong không khí cởi mở, vui vẻ của bữa cơm gặp lần đầu, với danh nghĩa Chủ nhiệm UBVNVNONN, tôi đã mời vợ chồng ông Kỳ về thăm quê hương. Một thoáng ngỡ ngàng, rồi niềm vui và xúc động đã lộ rõ trên nét mặt dày dạn phong sương của ông. Ông đã cảm ơn và sau đó bày tỏ với tôi  mong muốn được Nhà nước cho phép đưa một đoàn doanh nhân về làm ăn, hợp tác với đất nước như một cử chỉ hòa giải. Nửa năm sau, khi đang công tác tại Paris, tôi rất vui nhận được tin ông Nguyễn Cao Kỳ đã về thăm quê hương sau nửa thế kỷ xa cách, bể dâu. 

Tôi cũng không thể nào quên cuộc gặp gỡ tối ngày 9 tháng 6 năm 2003 với vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Hải tại nhà ông. Vợ chồng ông Hải là người miền Bắc, sau Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954 mới di cư vào Nam. Vừa bước vào nhà, tôi có ấn tượng như tới thăm một gia đình trí thức ở Hà Nội, một không gian đầy ắp màu sắc và hương vị văn hóa truyền thống Việt Nam. Sau phần chào hỏi theo thông lệ, ông mời đoàn chúng tôi vừa dùng cơm tối vừa nói chuyện. Vừa ngồi vào bàn ăn, ông Hải đã nói thẳng với tôi: ông đang là “ Chủ tịch Ủy ban bảo vệ chính nghĩa quốc gia” của thành phố Houston, ông là người chống cộng sản và vẫn kiên quyết chống cộng sản. Thế là bắt đầu cuộc đối thoại và tranh luận rất thẳng thắn và không ít lúc có thể nói là “ nảy lửa” giữa tôi và ông suốt bữa cơm kéo dài gần 2 tiếng đồng hồ, trong đó, ông lý giải và bảo vệ lập luận cơ bản của ông là theo chủ nghĩa cộng sản thì sẽ mất độc lập dân tộc, rơi vào vòng thống trị của Nga cộng, Trung cộng; vì vậy ông đã đi với Pháp rồi Mỹ, vì đó là cách duy nhất để chống lại nguy cơ đô hộ của Nga cộng, Trung cộng, bảo vệ độc lập dân tộc(?!). Còn tôi, đã lấy những sự thật lịch sử của nước ta, của Đảng ta và quan hệ quốc tế liên quan, đồng thời làm rõ những chủ trương, chính sách đổi mới hiện nay để chứng minh cho  ông chân lý hiển nhiên là chỉ có dưới ngọn cờ và sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tich Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam thì đất nước ta mới giành lại được độc lập, thống nhất và đang trên đường xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Cuộc gặp gỡ với vợ chồng ông Hải đã kết thúc bằng một bài hát dân tộc mà ông Hải là người hát và ông Trần Văn Tạo, thành viên trong Đoàn chúng tôi, là người đệm đàn. Lúc chia tay, ông Hải phát biểu giọng xúc động: “ Tôi không ngờ các anh chị lại là những người thật dễ thương!”. Tôi cũng mời vợ chồng ông về thăm lại quê hương. Tôi được biết, chỉ vài tháng sau, vào dịp Quốc khánh năm 2003, ông Hải đã về thăm quê sau gần 50 năm xa cách và ông là một trong số kiều bào đầu tiên ở thành phố Houston đầu năm 2007 đã được nhận giấy miễn thị thực xuất nhập cảnh mỗi khi về nước.

Hà Nội, 30 tháng 9 năm 2009

·       Nguyễn Đình Bin, Ủy viên TƯ Đảng khóa VIII, nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngọai giao kiêm Chủ nhiệm UVVNVNONN      

                               


Hệ quả Chiến tranh/The Legacy of War

Hệ quả Chiến tranh/The Legacy of War

Sự kiện 30/4 được 40 năm Blog mình như "được mùa" các bài viết gửi đến. Dưới đây là một bài viết đậm chất suy nghĩ chiêm nghiệm. 

Tác giả có độ lùi về thời gian để bình tĩnh nhìn lại sự kiện và những diễn biến từ tâm lý đến các hành động thường ngày của những người "ở cả 2 phía chiến tuyến trước kia" nên bài viết có giá trị nghiên cứu, dù nó được trình bày khá là ngắn gọn...

Cả 2 bản tiếng Việt và tiếng Anh đều là nguyên văn của tác giả gửi cho chủ Blog tôi. Xin trân trọng giới thiệu với bạn bè trên mạng...

Vệ Nhi

---- 

  Hệ quả Chiến tranh

    Tác giả: Nguyễn Quang Dy


“Vì chiến tranh bắt đầu trong đầu óc con người, chúng ta phải xây dựng cách bảo vệ hòa
bình ngay trong đầu óc con người.” (Lời nói đầu của Hiến chương UNESCO)

Câu chuyện hòa giải

Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt cách đây 40 năm, nhưng lòng hận thù vẫn chưa chấm dứt. Về
tâm lý, cuộc chiến vẫn còn đang diễn ra trong đầu óc nhiều người, vì sự cực đoan và cuồng tín đã
làm cho họ trở thành “tù binh của quá khứ”. Chiến tranh và bạo lực thường song hành với cực
đoan và cuồng tín, độc tài và tham nhũng.





Sau hơn hai thập kỷ, người Mỹ và người Việt Nam dù sao cũng đã hòa giải được với nhau, đã
bình thường hóa được quan hệ hai nước, và cố gắng hàn gắn vết thương chiến tranh. Tuy nhiên,
bóng ma chiến tranh Việt Nam vẫn còn ám ảnh đời sống chính trị và văn hóa của mỗi nước.
Ngày nay, hai nước thậm chí đang cố gắng trở thành đối tác chiến lược, trước sự trỗi dậy đầy
thách thức của Trung Quốc như một đám mây đen ở Đông Á.

Nhưng sau bốn thập kỷ, người Việt vẫn chưa hòa giải được với nhau, vẫn còn coi nhau như “kẻ
thù ảo”. Có lẽ vết thương nội chiến khó lành hơn nhiều. Các sử gia Mỹ nói rằng nước Mỹ phải
mất 50 năm mới thực sự hòa giải được cuộc nội chiến (chấm dứt tại Gettysburg). Liệu người
Việt phải mất bao nhiêu năm mới hòa giải được? Nếu không hòa giải được thì Việt Nam không
đủ sức mạnh để bảo vệ độc lập và chủ quyền của mình.

Cực đoan & cuồng tín


Có một số bài học cần tham khảo. Sau Thế chiến thứ II, người Mỹ và đồng minh thắng trận có
đủ lý do để trừng trị người Đức và người Nhật bại trận. Nhưng họ chỉ xét xử các tội phạm chiến
tranh tại tòa án quốc tế, chứ không trả thù hàng loạt. Người Đức và người Nhật đã đầu hàng và
hợp tác với người Mỹ (như đồng minh mới) để tái thiết đất nước của mình, vì họ đã quá hiểu cái
giá phải trả cho chủ nghĩa cực đoan và cuồng tín.

Khi nước Đức thống nhất (1990), người Tây Đức đã không phân biệt đối xử và miệt thị người
Đông Đức, mặc dù Đông Đức theo hệ tư tưởng và chế độ chính trị khác. Quá trình hòa giải và
thống nhất đã diễn ra khá êm thấm và mau chóng. Người Đức đã bỏ phiếu cho bà Angela Markel
làm thủ tướng mặc dù bà là người Đông Đức. Nay nước Đức đã thống nhất và mạnh hơn, vì
người Đức không còn cực đoan và cuồng tín.

Ở Việt Nam, những người cộng sản cực đoan và những người chống cộng cực đoan thực ra
chẳng khác gì nhau. Hầu hết bọn họ đều cuồng tín và độc tài, coi những ai khác quan điểm với
mình đều là “thù địch”. Sự cực đoan này là hệ quả của lịch sử lâu dài đầy phức tạp và một cuộc
chiến sai lầm không đáng có.

Phạm Xuân Ẩn, (“Điệp viên Hoàn hảo”) có kể lại một câu chuyện thú vị là một lần đến gặp trạm
trưởng CIA mới sang và được khuyên là phải cẩn thận với Ngô Đình Nhu. Ông Ẩn hỏi “tại sao?”
và được giải thích là ông Nhu có thể là cộng sản. Ông Ẩn về kể lại ngay câu chuyện đó với Ngô
Đình Nhu và ông Nhu phá ra cười. Ông Ẩn hỏi “tại sao toi lại cười?” và ông Nhu trả lời “có lẽ
nó nói đúng đấy…vì trước đây moi hay học bọn Viêt Minh”.

Tôi nhớ trong ngày kỷ niêm 30/4 tại Sài Gòn cách đây vài năm, một nhà báo già đã nhận xét
chua chát về hệ quả không định trước của cuộc chiến, “tại sao họ không nói toạc ra ngay từ đầu
là họ thích tất cả những thứ này?” Thật là bi hài kịch.



Cái giá của chiến tranh


Trong khi bóng ma Chiến tranh Việt Nam vẫn còn ám ảnh đời sống chính trị và văn hóa mỗi
nước, nó vừa là trở ngại vừa là lợi thế cho quan hệ hai nước. Dù muốn hay không, nhiều người
Mỹ vẫn bị ám ảnh và không quên được Viêt Nam (như một “hệ quả không định trước”).

Sự hủy diệt về vật chất chỉ là hệ quả trực tiếp của chiến tranh. Số lượng bom đạn khổng lồ đổ
xuống Việt Nam trong chiến tranh (cả Miền Bắc và Miền Nam) là quá đủ để đưa đất nước này
“trở về thời kỳ đồ đá” (Curtis LeMay, 1965).

Trong khi bom mìn chưa nổ vẫn gây ra thương vong bất ngờ cho những người dân vô tội, chất
độc Da Cam đã để lại những hậu quả dai dẳng và kinh khủng cho nhiều thế hệ người Việt.

Nhưng tư duy thời chiến mới là hậu quả khó thay đổi, nhất là đối với những người Việt đã quen
với chiến tranh liên miên gần suốt cuộc đời, dù trực tiếp hay gián tiếp. Chiến tranh đã để lại một
gánh nặng cực đoan trong lòng họ (như “tù binh của quá khứ”).

Cuộc chiến còn tiếp diễn


Hình ảnh giao thông ở Hà Nội (hay Việt Nam) là hình ảnh giao thông thời chiến. Mọi người đều
vội vã như “đi sơ tán”. Không ai nhường ai, như trong một cuộc tranh đấu một mất một còn. Đó
là một não trạng và tâm thức chiến tranh, như một thói quen xấu. Con số thương vong về giao
thông hiện nay không kém con số thương vong trong thời chiến. Trong 6 ngày nghỉ Tết 2015, có
199 người chết và 326 người bị thương vì tai nạn giao thông.

Hình ảnh phá hủy nhà cửa trên đường Bưởi (Hà Nội) hiện nay, để làm đường mới, cũng như
những gì diễn ra trên đường Yên Phụ trước đây, để bảo vệ đê, không khác gì hỉnh ảnh Hà Nội bị
tàn phá trong chiến tranh (như bị ném bom). Hay hình ảnh phản cảm về Hà Nội hàng năm đào
vỉa hè lên để lát lại, là những ví dụ về não trạng thời chiến.

Tại sao tình trạng bạo lực ngày càng gia tăng trong xã hội? Đi đâu cũng thấy bạo lực, từ nông
thôn đến thành thị, từ người dân đến cảnh sát, từ đường phố đến trường học và công viên. Não
trạng bạo lực là một di chứng của chiến tranh, như một bệnh tâm thần.

Vụ Hà Nội quyết định chặt hạ 6700 cây xanh, gây phản kháng trong dư luận gần đây, cũng là
một biểu hiện của não trạng thời chiến. Hành động bạo lực và cực đoan không phải chỉ đối với
con người, mà còn đối với cả thiên nhiên và môi trường sống. Thói quen hủy hoại không cân
nhắc đến tương lai, là một thói quen thời chiến.

Muốn loại bỏ não trạng chiến tranh và bạo lực, phải từ bỏ cực đoan và cuồng tín.

NQD. 30/4/2015

(Nguyễn Quang Dy, Harvard Nieman Fellow, 1993)


----

The Legacy of War

“Since wars begin in the minds of men, it is in the minds of men that the defenses of peace
must be constructed.” (Preamble to UNESCO Constitution)

The saga of reconciliation

The Vietnam War ended 40 years ago, but the animosity and hatred did not. Psychologically, the
war still rages on in the minds of many people, as extremism and fanaticism have turned them
into “prisoners of the past”. War and violence often go hand in hand with extremism and
fanaticism, dictatorship and corruption.

After over two decades, the Americans and Vietnamese somehow have managed to reconcile and
normalize relations with each other and tried to heal the wounds of war. However, the ghost of
the Vietnam War still haunts the political and cultural life of each nation. Today, the two nations
are even trying to become strategic partners, in face of the challenging rise of China as a long
and dark shadow over East Asia.

Yet, after 4 decades the Vietnamese have failed to reconcile and still considered each other as
“virtual enemy”. Perhaps, the wounds of a civil war are much harder to heal. American historians
said it had taken America 50 years to reconcile the civil war (ended at Gettysburg). How many
years do the Vietnamese need to reconcile? Without reconciliation, Vietnam would not be strong
enough to protect its independence and sovereignty?

Extremism & fanaticism


There are a few lessons to learn from. After the Second World War, the Americans and allies had
good reasons to punish the defeated Germans and Japanese. But they only tried war criminals at
the International Tribunal, and did not take revenge en masse. The Germans and the Japanese
surrendered and cooperated with the Americans (as new allies) for their national reconstruction,
as they have learned the price to pay for extremism and fanaticism.

When Germany was reunited (1990) the West Germans did not really discriminate and insult the
East Germans, although East Germany followed a different ideology and political system. The
process of reconciliation and unification took place rather smoothly and quickly. The Germans
voted for Angela Markel as their Chancellor though she was an East German. Now Germany has
been united and stronger as the Germans are no longer extremist and fanatical.

In Vietnam, both the communist extremists and anti-communist extremists are almost the same,
as most of them are fanatics and dictators who would consider anyone having a different point of
view as “the enemy”. This extremism is an outcome of a long and complex history and a wrong
war that should not have taken place.

Phạm Xuân Ẩn (the “Perfect Spy”) told an interesting story that he once talked to a new CIA
station chief in Saigon, who advised him to be careful with Ngô Đinh Nhu. Ẩn asked “why?”
and was told that Nhu might be a commie. Ẩn then told Ngô Đình Nhu of the story and Nhu
burst into laughter. Ẩn asked “why do you laugh?” and Nhu replied “he might be right… I used
to learn from the Viet Minh”.

I remember during an April 30 celebration in Saigon a few years ago, one old-hand journalist
commented ironically on the unintended legacy of the war, “why the hell didn’t they tell us back
then they loved all this?” It’s really a melodrama.

The prices of war

While the ghost of the Vietnam War is still hunting the political and cultural life of each nation,
this is both a liability and an asset for the relationship. Like it or not, many Americans have been
obsessed with and could not forget Vietnam (as an “unintended consequence”).

The physical destruction was a direct consequence of the war. The huge tonnage of bombs
dropped in Vietnam during the war (both the North and the South) was more than enough to turn
this country “back to the Stone Age” (Curtis LeMay, 1965).

While unexploded ordnance still causes unexpected casualties to innocent civilians, Agent
Orange has left prolonged and terrible consequences to generations of Vietnamese.

Yet, the mindset of war is the hardest to change, especially for Vietnamese who have been
exposed, directly or indirectly, to the long and repeated wars, for most of their life. The war has
left a baggage of extremism in their heart and mind (as “prisoners of the past”).

The war goes on

The image of traffic in Hanoi (or Vietnam) is the image of war-time traffic. Everyone is in a
hurry as in an “evacuation”. Nobody gives way, as in a life and death struggle. This is a state of
mind and psychology of war, as a bad habit. The casualty of traffic now is no less than that of
war. Within 6 days of Tet (Lunar New Year) 2015, there were 199 deaths and 326 injuries as a
result of traffic accidents.

The image of housing destruction along Bưởi road (in Hanoi) right now for a new road project,
as well as what had happened along Yên Phụ road earlier for dyke protection, is like the image of
war-time destruction (by bombing). Or the repugnant image of Hanoi turning the sidewalks
upside-down every year for repavement is an example of war-time state of mind.

Why has violence been rising in our society? Violence is seen everywhere, from the city to the
countryside, from citizens to the police, from the streets to the schools and public parks. The
violent state of mind is a residual of war, as a psychic symptom.

Hanoi’s decision to cut down 6700 trees, which provoked popular protests recently, is another
sign of war-time state of mind. The acts of violence and extremism are not only directed at
people but also at nature and living environment. The habit of destruction without consideration
of the future is a war-time habit.

To get rid off a war-time state mind, extremism and fanaticism must be given up.

NQD. April 30, 2015.

(Nguyen Quang Dy, Harvard Nieman Fellow, 1993)

Sài Gòn, ngày 30 tháng 4 năm 1975


Sài Gòn, ngày 30 tháng 4 năm 1975 

 
Nhân dịp 40 năm ngày 30/4 Giải phóng hoàn toàn Miền Nam, anh Trần Ngọc Quyên, cán bộ nghỉ hưu BNG có gửi cho chủ Blog tôi một bài viết trích dịch từ nguyên văn tiếng Đức miêu tả "cảnh và người Sài Gòn" trong những ngày lịch sử ấy.

Xin đưa lên đây các bạn cùng chia sẻ một góc nhìn độc đáo của một số phóng viên tầm cỡ của phương Tây khi đó ở Sài Gòn qua tập hợp của nhà báo Đức danh tiếng - Borries Gallasch làm việc cho Tạp chí uy tín của Đức "Der Spiegel" (Tấm gương).

Vệ Nhi

-----             

Sài Gòn, ngày 30 tháng 4 năm 1975 

Phóng sự của một nhà báo gạo cội phương Tây

      Tác giả: Borries Gallasch



                                    Phóng viên Borries Gallasch (trái)
 
"Thành phố Hồ Chí Minh - Giờ số không" là tên một cuốn sách gồm các phóng sự về kết cục của cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm do Borries Gallasch (Bo-rit Ga-lát-sơ) chủ biên, được xuất bản tại CHLB Đức (Tây Đức trước đây) chỉ hai tháng sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc. Cuốn sách gồm các phóng sự về những ngày cuối cùng của cuộc chiến tranh do 9 phóng viên “gạo cội” của các nước phương Tây viết ngay tại Sài Gòn. Họ là những  nhân chứng quan trọng có mặt tại Sài Gòn đúng vào giờ phút lịch sử ngày 30.4.1975. Các phóng sự này giới hạn trong khoảng thời gian 10 ngày trước và 10 ngày sau 30.4.1975.

Dưới đây là trích dịch một phóng sự có tên „Sài Gòn, ngày 30 tháng 4
năm 1975“ của Borries Gallasch, phóng viên Tạp chí Der Spiegel (Tấm gương) là tạp chí chính luận uy tín nhất của CHLB Đức (Tây Đức trước đây và cả CHLB Đức ngày nay).


*******


... “Giờ số không đã kéo dài 5 tiếng đồng hồ, từ 7 giờ sáng khi chiếc máy bay trực thăng cuối cùng của Mỹ rời Sài Gòn, đến mười hai giờ trưa cờ của Mặt trận Giải phóng (MTGP) tung bay trên Dinh Độc Lập.
Dietrich Mummenday (Phóng viên Báo "Tấm gương hàng ngày", ND) và tôi đã trụ qua đêm tại Hội Chữ thập đỏ đường Hồng Thập Tự và khoảng 8 giờ sáng cùng nhau đến khách sạn Caravelle, nơi phần lớn các phóng viên nước ngoài còn trụ lại ở Sài Gòn đang tụ tập tại đây: chủ yếu là người Pháp, người Nhật, một vài người Anh, Ý và chúng tôi. Mummenday và tôi không còn kiên nhẫn ở lại khách sạn lâu hơn nữa và đã đi đến văn phòng của hãng Reuter nằm chếch ngang với Dinh Độc Lập, cách khách sạn khoảng 2 km. Tôi lo sợ, đầu gối run lập cập đến mức khó lòng đi tiếp được nữa, tuy vậy tôi vẫn cố đi tiếp: khoảng 11 giờ 15 tôi đã đứng trước Dinh Độc Lập lúc này nằm yên lặng trước mắt tôi như một bảo tàng vào buổi sáng chủ nhật, không có người canh gác; trước các hàng rào chắn và chướng ngại vật bình thường được canh gác rất nghiêm ngặt nay ngổn ngang những mũ sắt, quân phục, súng ống, thậm chí cả lựu đạn và một khẩu súng phóng lựu chống tăng. Tuyệt nhiên không một bóng người, lác đác có tiếng súng nổ, phía xa vẫn còn vọng lại tiếng nổ của kho đạn ở Tân Sơn Nhất. Tôi đi qua cổng sắt hé mở, một viên thiếu tá đi về phía tôi, rồi đi qua mặt tôi, như là anh ta không hề nhìn thấy tôi. Tôi đi trên bãi cỏ, thầm nghĩ rằng bất kỳ giây phút nào cũng có thể có ai đó bắn vào xe tôi; các binh lính đang tranh luận với nhau bên bậc tam cấp lên cửa chính, một chiếc xe sang trọng màu đen lướt tới, Nguyễn Văn Huyền, Phó Tổng thống của nền Cộng hòa đang hấp hối, chui vào xe. "Chúng tôi đang chờ một phái đoàn của Mặt Trận Giải phóng đến Dinh này vào bất kỳ lúc nào, ông có thể chờ ở đây nếu ông muốn”. Binh lính trong đội cận vệ của Tổng thống cũng không thèm giơ tay chào, khi xe chở người có vị trí thứ hai của quốc gia đi qua trước mặt họ, chạy ra khỏi Dinh bằng cổng sau.




Tôi thở mạnh, bước tiếp lên bậc tam cấp vào cửa chính, qua khu sảnh rồi leo lên lầu một, ở đây tôi gặp Hà Huy Đính, một luật sư Sài Gòn người nhỏ bé, là học trò của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu. Hà Huy Đính mới xuất hiện từ mấy hôm nay từ Phong trào bí mật, cũng có cùng ý nghĩ như tôi: đơn giản là cứ đến đây, nếu có xảy ra điều gì thì cũng tại đây. Anh ta đã ở lại bên tôi trong suốt 3 giờ tới.
Trong khoảnh khắc đó, khi chúng tôi còn đứng giữa sảnh, thì cửa cầu thang ở phía bên trái mở ra: Tổng thống Minh "lớn", Thủ tướng Mẫu, một vài Đổng lý vừa từ hầm trú ẩn lên lầu một. Minh "lớn" nói: "Cũng hay là có các ông ở đây, các ông sẽ được chứng kiến cảnh vận mệnh của đất nước tôi được chuyển giao vào tay những người xứng đáng hơn tôi như thế nào".
Trong khi đám tùy tùng đi đi lại lại đầy lo âu, thì Minh "lớn" vẫn đứng nguyên và im lặng ở giữa sảnh, nhìn qua lớp kính chắn của Dinh qua bãi cỏ sang phía Nhà thờ lớn. Bỗng nhiên có tiếng súng, tiếng lựu pháo nổ và từng tràng súng máy vang lên; tôi vội nằm xuống đất, tìm chỗ trũ ẩn đằng sau một cột bê tông, tiếng ầm vang đến chói tai. Một cuộc đảo chính trong phút cuối cùng chăng? hay một cuộc tấn công vào Dinh? liệu chúng tôi có phải chết? Quả thực tôi rất sợ.
Nhưng không hề có một tấm kính nào bị vỡ, chúng tôi rời chỗ trú ẩn của mình, Minh "lớn"  vẫn còn đứng nguyên tại chỗ cũ, to lớn như một tượng đài bên cạnh ông Thủ tướng nhỏ thó của mình. Trước mắt tôi là một cảnh tượng không thể tin được: ba chiếc xe tăng với những lá cờ to quá khổ của MTGP đang lăn bánh tới cổng sắt hướng về khu vườn của  Dinh, súng bắn loạn xạ, trút đạn lên không trung: Những phát súng thể hiện niềm hân hoan , dàn giao hưởng của chiến thắng, phút giây của niềm vinh quang! Chiếc xe tăng đầu tiên đã húc đổ cánh cổng, lăn bánh thẳng trên bãi cỏ nhằm chính hướng Dinh lao tới, hai chiếc xe  tăng còn lại vòng sang bên trái và bên phải, rồi cả ba xe tăng cùng dừng lại trước mặt tiền của Dinh; khoảng 20, 30 xe tăng khác tiến vào theo.
Tôi chạy ra ban - công, chụp ảnh; thật là một cảnh ngoạn mục. Và rồi viên Chỉ huy của chiếc xe tăng dẫn đầu, tay trái cầm súng, tay phải cầm cờ xông lên cầu thang, xuýt xô ngã cả tôi, hai chiến sĩ khác của MTGP đứng gác phía  bên trái và bên phải bên cạnh cầu thang, không ai đếm xỉa đến Minh "lớn"  và những người khác lúc này đang đứng hơi chếch về một phía trước phòng chờ của Tổng thống.
Đứng trước tôi là viên Chỉ huy xe tăng, nói rất to với tôi một câu gì đó mà tôi không hiểu. Đính gọi với sang tôi: "Mở cửa ban - công ra, mở ra". Tôi tiến lại mở cánh cửa bằng kính ra, anh ta chạy lướt qua tôi, kéo cờ lên, vẫy đi vẫy lại lá cờ; phía dưới xe tăng tiếp tục tiến vào, tất cả đều bắn chỉ thiên, một số phóng viên cũng từ phía bên ngoài đang chạy nhanh trên bãi cỏ.
Chỗ kia là nhóm ba mươi binh sĩ cuối cùng của chế độ cũ đã đầu hàng, có lẽ họ là những binh sĩ cuối cùng của quân đội Thiệu còn chưa kịp trút bỏ quân phục trên người và chưa bị đè bẹp trong những giờ cuối cùng này. Họ giơ cao tay xin hàng và sắp thành 3 hàng trên bãi cỏ.
Tôi chạy trở vào Dinh, thật may vừa đúng lúc: là người châu Âu duy nhất trong Dinh, là phóng viên duy nhất có mặt tôi đã được chứng kiến cảnh tượng Minh "lớn", Tổng thống của Cộng hòa Việt Nam đã bị ông Phạm Xuân Thệ, Chỉ huy một đơn vị quân đội thuộc "Đoàn Đông Sơn" của Quân Giải phóng bắt như thế nào. Tay cầm khẩu súng lục đã lên đạn, một khẩu K55 của Nga, bản thân ông ta cũng có vẻ hồi hộp, ông Thệ đã nói rất to với Tổng thống: "Ông Minh, chúng tôi yêu cầu ông đi ngay với chúng tôi đến Đài phát thanh và ra lệnh cho quân đội đầu hàng vô điều kiện, để máu khỏi phải tiếp tục đổ".
Nhưng Minh chần chừ không muốn đi, ông ta đề nghị ghi âm phát biểu của mình ngay tại đây, trong Dinh; người ta thảo luận, các lý lẽ được trao đi đổi lại; ngày càng có nhiều chiến sĩ Chính phủ Cách mạng Lâm thời (CPCMLT) xông vào sảnh. Lúc bấy giờ người ta quay ra đi tìm một chiếc máy ghi âm, nhưng uổng công. Cũng như trong toàn thành phố này, ở đây (Dinh Độc Lập) các viên chức và nhân viên kỹ thuật không chỉ rời chỗ làm việc của mình, mà họ còn lấy đi tất cả những gì có thể mang đi được: không còn sót một máy ghi âm nào trong Dinh.
Sự lộn xộn thực sự diễn ra khi viên Tư lệnh của Bộ chỉ huy tiếp nhận đầu hàng của CPCMLT, Chính ủy Bùi Văn Tùng (Đại tá Bùi Văn Tùng - nguyên Chính ủy Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2, chú thích của ND) tham gia vào kịch bản. Nhóm người giữa lúc đó đã đông lên gấp bội được dẫn vào phòng khánh tiết của Dinh ở lầu một, nơi chúng tôi đang đứng chờ. Trong khi đó một số phóng viên từ bên ngoài cũng đã kéo vào cùng với các chiến sĩ của CPCMLT, Minh, Mẫu và Chính ủy Tùng.
Sau mấy phút Minh, Mẫu và viên Chính ủy rời phòng trên, theo sau là tất cả những ai giữa lúc đó đã có mặt tại đây. Chúng tôi đi xuống cầu thang, ra bãi cỏ, đến ngang chỗ đài phun nước thì Minh và Mẫu trèo lên một chiếc xe Jeep, có hai chiến sĩ của CPCMLT đi hộ tống, Chính ủy Tùng và một chiến sĩ nữa trèo lên chiếc xe Jeep thứ hai. Tôi đứng ngay cạnh đó, vừa bám chặt lấy ông ta, vừa năn nỉ bằng tiếng Pháp xin được đi theo và ông ta gật đầu. Đính và tôi nhẩy lên phía sau của xe Jeep; xe lăn bánh, chỉ có hai xe Jeep này của chúng tôi chạy giữa một thành phố đang sôi sùng sục, nhưng dường như mọi sự lo sợ cũng bỗng nhiên biến mất; xe chạy qua sứ quán Mỹ đã bị cướp bóc trống rỗng tới một ngôi nhà phụ của Đài phát thanh nằm trên đường Nguyễn Bình Khiêm.
Chúng tôi lên lầu một của tòa nhà, vào một phòng Studio nhỏ, các nhân viên kỹ thuật giật bức chân dung Thiệu khỏi tường, vứt qua cửa sổ xuống sân.
Một khoảnh khắc trôi qua, chúng tôi ngồi đây và không biết làm gì. Mẫu phe phẩy một quyển sách mỏng làm quạt, Minh và Tùng ngồi trên hai ghế đệm, tôi ngồi giữa hai người, trên một chiếc bàn nhỏ. Trong khi đó Tùng đang dự thảo bài phát biểu đầu hàng của Minh trên một tờ giấy mầu xanh.
Vũ Văn Mẫu tỏ ra hài lòng, nét mặt ông ta hân hoan như đây chính là chiến công của cá nhân ông ta vậy. Là người đồng sáng lập và Người phát ngôn của Lực lượng thứ Ba cách đây một tuần ông ta còn giải thích với tôi về sự cần thiết của Nhóm Trung lập của ông ta đối với mọi tương lai chính trị ở Miền Nam Việt Nam. Lúc này mà ông ta còn nói tới cơ may của Lực lượng thứ Ba, sau khi ông ta đã đầu hàng, cả sau khi mà tình hình đã thay đổi lớn đến như vậy! Nhà chính khách chuyên nghiệp này thậm chí còn không chút ngượng ngập khi ông ta tuyên bố với nét mặt rạng rỡ rằng: "Không còn Lực lượng thứ Nhất nữa, cho nên cũng không cần tới Lực lượng thứ Ba nữa. Sự hòa giải dân tộc đã diễn ra nhanh hơn là chúng tôi dự đoán. Bây giờ  tất cả chúng tôi cùng nhau phụng sự nhân dân, không phân biệt ai". "Không phân biệt cả chính kiến à"?, tôi hỏi. "Có, có chính kiến khác nhau, nhưng chúng chỉ khác nhau ở con đường mà chúng tôi muốn đi đến mục tiêu chung".
Chính ủy Tùng có vẻ khó nhọc trong công việc viết lách: Khuôn mặt nghiêm trang, không cử động khi ông ta cắm cúi viết viết, xóa xóa. Có thể như thế chăng? Những con người này đã chiến đấu từ 30 năm nay cho cùng một sự nghiệp, chiến đấu giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác một cách độc nhất vô nhị vào đến tận hang ổ cuối cùng (của chế độ Sài Gòn) là Dinh Độc Lập theo đúng ý nghĩa của từ ngữ này. Và họ chưa kịp chuẩn bị sẵn những lời để có thể diễn đạt thành văn trong lúc này.
Trong lúc đó người ta đã trở nên thân mật với nhau, không khí căng thẳng ban đầu đã dịu đi. Viên chỉ huy Phạm Xuân Thệ, người đã bắt Minh tại Dinh, tuy vẫn còn cầm súng lục trên tay, song có lẽ chỉ còn do thói quen. Nét mặt anh ta bây giờ cũng tỏ ra tươi tỉnh và thỉnh thoảng lại quay sang nói với Minh: "Anh Minh, anh đừng sợ; chúng tôi chỉ chiến đấu vì dân tộc chúng ta, chúng tôi chỉ chiến đấu chống lại kẻ thù của chúng ta, anh hãy nói trên đài phát thanh để máu khỏi tiếp tục đổ. Bây giờ chúng tôi đã có mặt tại đây, và không ai làm gì hại anh, cũng sẽ không có ai làm gì hại anh cả".
Minh im lặng. Những người đàn ông trong quân phục mầu xanh mũ tai bèo đứng nhìn ông ta một cách tò mò, họ tạo thành một vòng tròn, trong khi phía ngoài cầu thang người ta vẫn còn bắn sung mừng chiến thắng; những người chiến thắng không kìm được sự xúc động cao độ của mình và trước sự hưng phấn say sưa của niềm vui chiến thắng họ tung tăng như những em nhỏ.
Cuối cùng thì Minh cũng lên tiếng, con người năm 1963 đã lật đổ Diệm và nay nhờ đầu hàng kịp thời đã cứu Sài Gòn khỏi bị tàn phá, đã hỏi người canh giữ mình: "Anh (hay em) tôi thế nào, bao giời tôi có thể gặp Anh (hay chú) ấy?" (Trong tiếng Đức từ “Bruder” không phân biệt được là anh hay em - ND).
Định mệnh Việt Nam: Anh (em) của Tổng tống là một vị tướng trong quân đội Miền Bắc Việt Nam, từ 20 năm nay hai anh em đã chiến đấu chống lại nhau trong hai quân đội thù địch nhau của nhân dân họ.
Chỉ huy Thệ im lặng. Mọi người bỗng dưng im lặng và sự yên lặng tức thời đã làm cho những câu nói tiếng Anh của Đính bạn tôi trở nên như một lời bình luận quá to của một phóng viên trong chương trình thời sự: "Kẻ thất bại muốn hòa giải".
Một số chiến sĩ bắt chuyện với tôi bằng tiếng Nga, họ nhìn thấy tấm phù hiệu đeo trên ngực tôi đề "Báo chí Đức" và tất nhiên chỉ nguyên việc tôi được phép có mặt tại đây cũng làm cho họ nghĩ rằng tôi phải từ CHDC Đức tới. Họ muốn nói chuyện với tôi về Marx - bạn tôi Hà Huy Đính nói cho họ rõ tôi là ai, tự nhiên họ trở nên không cởi mở như trước nữa, có vẻ hoài nghi hơn, không hẳn thân thiện, nhưng dè dặt hơn.

Và rồi cũng đã đến lúc: Không ai trong số người có mặt biết xử dụng máy ghi âm. Chính ủy Tùng bằng một cử chỉ không thể hiểu lầm được đã ra hiệu cho tôi biết tôi cần phải làm gì: ông Minh đọc thử bài phát biểu vào băng ghi âm của tôi. Quá trình ghi âm lặp đi lặp lại 3 lần: lần thứ nhất ông Minh nói vấp, và đáng lẽ mở đầu phải đọc là: "Tôi, Dương Văn Minh, Tổng thống Chính quyền Sài Gòn...", thì ông ta lại muốn nói là: "Tôi, Tướng Dương Văn Minh, ra lệnh cho các lực lượng vũ trang hãy hạ vũ khí..." Trao đi đổi lại , cuối cùng đã đi đến một giải pháp thỏa hiệp, không mấy hài lòng đối với ông Minh: "Tôi, Tướng Dương Văn Minh, Tổng thống Chính quyền Sài Gòn...". Nhưng do chữ viết tay của Chính ủy Tùng khó đọc đối với ông Minh, nên ông Minh đọc sai nhiều chỗ, mỗi lần như vậy lại phải đọc lại từ đầu.

Cuối cùng thì việc ghi âm cũng xong xuôi, ông Minh đã kết thúc bài phát biểu bằng 4 chữ "...Miền Nam Việt Nam!" đọc rất đúng trọng âm.



Cả bài phát biểu của ông Mẫu và Chính ủy Tùng cũng đều do tôi ghi âm, sau đó tất cả mọi người cùng đến một ngôi nhà phụ nhỏ, vào phòng bá âm: tôi ngồi trước micro và cho chạy băng ghi âm với ba bài phát biểu, ông Minh ngồi phía bên trái tôi, Chính ủy Tùng, ông Mẫu và Chỉ huy Phan Xuân Thệ đứng phía sau. Qua cửa kính người ta ra hiệu cho chúng tôi: làm lại một lần nữa, nói sát vào micro hơn, cho nhỏ âm thanh đi một chút. Xong, viên Chính ủy cảm ơn, nói gì đó mà tôi không hiểu. Hà Huy Đính dịch lại. Thì ra, để thưởng công tôi được phép lái chiếc xe Jeep đưa Chính ủy Tùng trở lại Dinh Tổng thống. Chúng tôi đi ra đường, tôi ngồi vào tay lái, Chính ủy Tùng ngồi bên cạnh.
Nhưng tôi không gặp may, tôi không nổ được máy, không biết nổ máy một xe Jeep như thế nào? Người lái xe của Chính ủy vốn dã không thích thú gì để tôi làm thay chức năng của anh ta, dứt khoát từ chối chỉ dẫn cho tôi cách nổ máy. Trong khi đó viên Chính ủy Tùng cũng hết kiên nhẫn chờ thêm. Chúng tôi trèo lên một xe khác, tôi lại là hành khách.
Đường trở về chúng tôi đi qua các phố xá của Sài Gòn, lúc này đã là khoảng 14 giờ chiều, khắp nơi đầy các đơn vị Quân Giải phóng chốt giữ các ngã ba, ngã tư. Đường phố đông nghịt người, xe chúng tôi đi không có hộ tống: Sài Gòn, từ giờ này phút này trở thành Thành phố Hồ Chí Minh, đã nằm chắc trong tay CPCMLT mà không có bất cứ sự kháng cự đáng kể nào. Tôi chỉ nhìn thấy một binh sĩ miền Nam VN duy nhất chết tại góc phố; một lái xe xích lô đặt anh ta lên bệ để chân phía trước xe của mình và chở đi, như rác rưởi cần được dọn sạch.
Đến Dinh tôi phải xuống xe. Hai ngày sau đó ông Minh cùng với Nội các của ông ta đã tiến hành bàn giao công việc tại Dinh, sau đó ông ta được thả tự do, được về nhà, về với vườn phong lan của ông ta.
Liệu những Người chiến thắng có muốn hòa giải không, ngay lập tức và không có trả thù ? Liệu những Người chiến thắng có thể thực hiện được điều đó không, ngay cả khi họ đó muốn ?
Những ngày đầu tiên sau giải phóng chưa nói được gì nhiều về điều đó. Tuy các đường phố vẫn đông người, người ta nói cười mừng vui, tuy các anh "Bộ đội", những người lính từ trên rừng về được chào đón khắp nơi như những Người giải phóng, chỉ sau mấy giờ họ đã có thể đi lại tự do như những người du lịch trên các phố mà không cần mang vũ khí - nhưng liệu hình ảnh này của sự hòa hợp có đánh lừa người ta không ?...
Vâng cuộc sống đã trở lại bình thường gần như không cần có sự quá độ, không có dấu hiệu của sự hận thù, ngay cả một số ít người Mỹ còn ở lại cũng được đối xử tử tế. Tất cả mọi người đều nói tới hòa giải. Trên các đường phố điều đó đã diễn ra một cách phô trương đến mức sự hoài nghi của tôi tăng lên. Trong số những thanh niên kia, những người lúc này đang ôm hôn các anh Bộ đội, xin chụp ảnh chung với họ, có những người chỉ mấy tuần trước đây trong các giờ thiết quân luật tay còn lăm lăm súng M16 của Mỹ đi cướp bóc ban đêm trên Quảng trường Lam Sơn, một người còn gạ bán cho tôi một vé máy bay đi Mỹ để lấy đô la”...

Trần Ngọc Quyên (trích dịch)
nguyên cán bộ ngoại giao đã nghỉ hưu