Loading...

Thứ Sáu, ngày 27 tháng 2 năm 2015

Tây Nguyên ới, Tây Nguyên cao cao...

  Tây Nguyên đấy, Tây Nguyên cao cao...

CLB Hưu trí Bộ NG thường tổ chức chuyến đi Xuyên Việt (gồm chương trình đi qua mấy tỉnh Tây Nguyên trong đó có Tp  Đà Lạt, tới SG quay trở lại đi đường ven biển về Hà Nội). Hơn chục năm nay tổ chức được 4 lần rồi.

Tôi đã đi chuyến đầu hè năm 2012. Đi đầu tháng 4, trải qua đúng một tháng, trong đó có chuyến thăm Côn Đảo (khi tới SG lấy vé máy bay khứ hồi chặng này). 

Không kể hồi còn đi làm, tôi cũng được đặt chân lên vùng này vài ba lần...

Cảm tưởng cá nhân, tôi luôn thấy đẹp, lạ, độc đáo...; và ấn tượng mạnh ở kiểu cách "hùng vĩ" đặc trưng của một "nóc nhà đất nước". (khác với "vẻ hùng vĩ" của những vùng núi cao Tây Bắc và Việt Bắc của đất nước...

Mới đây tình cờ xem được một phóng sự ảnh rất đẹp về vùng đất Tây Nguyên.

Xin chuyển tới bè bạn trên Blog một lời tư vấn, nếu ai chưa đi TN thì nên đi; còn người đi rồi, tham quan chưa kỹ, thì rất nên... đi lại. 

Đương nhiên có vấn đề sức khỏe, thấy "thoải mái" hãy nhập cuộc các bạn ah.
 

Nguyễn Vĩnh/Vệ Nhi g-th


 -------

 

Tháng 3, lên Tây Nguyên... 

Tác giả phóng sự ảnh là Hữu Thành Nguyễn


Rừng Khộp
Tôi đã có 3 lần lên Tây Nguyên. Cứ mỗi lần đi tôi lại khám phá ra nhiều điều thú vị về vùng đất huyền thoại này. Và, chuyến đi tháng 3 năm 2014 là chuyến đi khác lạ khi tôi có nhiều thời gian tiếp xúc với nhiều lễ hội dân gian của người bản xứ Ê Đệ, M’Nông v.v với nhiều cảm xúc tràn đầy…

Thác Dray Sap

Thiếu nữ M'Nông

Tắm sông Serepok




Theo “Bách khoa toàn thư mở Wikipedia”
Trước thế kỷ 19, Vùng đất Tây Nguyên từ xưa vốn là vùng đất tự trị, địa bàn sinh sống của các bộ tộc thiểu số, chưa phát triển thành một quốc gia hoàn chỉnh. Do đất rộng, người thưa, các bộ tộc thiểu số ở đây thỉnh thoảng trở thành nạn nhân trước các cuộc tấn công của vương quốc Champa ở phía đông hoặc Chân Lạp ở phía tây nhằm cướp bóc và bắt nô lệ. Tháng 2 năm Tân Mão niên hiệu Hồng Đức thứ 2 (1471), vua Lê Thánh Tông thân chinh đi đánh Chiêm Thành, phá được thành Chà Bàn, bắt sống vua Champa là Trà Toàn, sáp nhập 3 phần 5 lãnh thổ Champa thời đó vào Đại Việt. Hai phần Champa còn lại, được Lê Thánh Tông chia thành các tiểu quốc nhỏ thuần phục Đại Việt. Phần đất Phan Lung (tức Phan Rang ngày nay) do viên tướng Chăm là Bồ Trì trấn giữ, được vua Lê coi là phần kế thừa của vương quốc Chiêm Thành. Một phần đất nay là tỉnh Phú Yên, Lê Thánh Tông phong cho Hoa Anh vương tạo nên nước Nam Hoa. Vùng đất phía Tây núi Thạch Bi, tức miền bắc Tây Nguyên ngày nay được lập thành nước Nam Bàn, vua nước này được phong là Nam Bàn vương.

Hạn Hán

Lên Nương

Múa hát
 Sau khi Chúa Nguyễn Hoàng xây dựng vùng cát cứ phía Nam, các chúa Nguyễn ra sức loại trừ các ảnh hưởng còn lại của Champa và cũng phái một số sứ đoàn để thiết lập quyền lực ở khu vực Tây Nguyên. Các bộ tộc thiểu số ở đây dễ dàng chuyển sang chịu sự bảo hộ của người Việt, vốn không có thói quen buôn bán nô lệ. Tuy nhiên, các bộ tộc ở đây vẫn còn manh mún và mục tiêu của các chúa Nguyễn nhắm trước đến các vùng đồng bằng, nên chỉ thiết lập quyền lực rất lỏng lẻo ở đây. Trong một số tài liệu vào thế kỷ 16, 17 đã có những ghi nhận về các bộ tộc Hré, Hroi, Kor, Bru, Ktu và Pacoh,Djarai Mnong và Rhadé Epan, Raglai, Mạ để chỉ các bộ tộc thiểu số sinh trú ở vùng Nam Tây Nguyên ngày nay

Lễ cúng Bến Nước

Khu du lịch Buôn Đôn

Lễ hội Đâm Trâu
.
Cúng Bến Nước
Tuy sự ràng buộc lỏng lẻo, nhưng về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc phạm vi bảo hộ của các chúa Nguyễn. Thời nhà Tây Sơn, rất nhiều chiến binh thuộc các bộ tộc thiểu số Tây Nguyên gia nhập quân Tây Sơn, đặc biệt với đội tượng binh nổi tiếng trong cuộc hành quân của Quang Trung tiến công ra Bắc xuân Kỷ Dậu (1789). Tây Sơn thượng đạo, vùng đất phía Tây đèo An Khê là một căn cứ chuẩn bị lực lượng cho quân Tây Sơn thủơ ban đầu. Người lãnh đạo việc hậu cần này của quân Tây Sơn là người vợ dân tộc Ba Na của Nguyễn Nhạc.

Mua và Bán

Thi voi đá Banh

Thi voi chạy tốc độ

Thi voi bơi qua sông Serepok

Thời Pháp thuộc người Kinh bị hạn chế lên vùng Cao nguyên nên các bộ tộc người Thượng sinh hoạt trong xã hội truyền thống. Mãi đến giữa thế kỷ 20 sau cuộc di cư năm 1954 thì số người Kinh mới tăng dần.

Cồng Chiêng

Đánh cá Hồ Lak

Voi ở Hồ Lak

Từ đó nhiều dân tộc thiểu số chung sống với dân tộc Việt (Kinh) ở Tây Nguyên như Ba Na, Gia Rai, Ê đê, Cơ Ho, Mạ, Xơ Đăng, Mơ Nông...

Người M'Nông làm chổi

Khát nước

Nụ cười M;Nông


Già làng N;Nông

Tây Nguyên, nay đã là một vùng đất chiến lược của thời Việt Nam hiện đại ngày nay. Chính vì vậy hiểu thêm về đất và người ở đây cũng là một sự hãnh diện của một công dân Việt – Tôi nghĩ thế!

Đôi bạn...

Thứ Năm, ngày 19 tháng 2 năm 2015

Chúc mừng Năm Mới -Xuân Ất Mùi 2015



Chúc mừng Năm Mới  
 


Nhân dịp đầu Xuân Ất Mùi, Chủ blog tôi xin chúc các bạn gần xa, những bạn bè trên facebook và trên blog một năm mới dồi dào sức khỏe và mọi sự an lành.

Qua một năm Giáp Ngọ tô rất thú vị nhận và chia sẻ những dòng thông tin về mọi mặt đời sống, những bức ảnh và bức tranh phản ảnh cuộc sống sôi động trên khắp đất nước cũng như trên thế giới… Đó cũng là tiêu chí của blog này đặt ra, cũng là đích nhắm tới của những trang FB đầy tính thời sự, là những khoảnh khăc của cuộc sống, “viết trên dòng thời gian, chia sẻ tâm trạng của nhau trên cùng dòng thời gian”…

Với lòng mong ước được cùng mọi bạn bè xa gần “vừa chung niềm vui”, và “vừa chia sớt những nỗi buồn không tránh được trong cuộc đời, trong kiếp nhân sinh”…




Hôm nay, ngày đầu của Tết truyền thống dân tộc chúng ta lại được gặp mặt nhau trên trang blog này là một niềm hạnh phúc. Bởi như lứa tuổi mà người chủ trang blog này đang sống, “trên thất thập cổ lai hy” rồi thì thời gian đã luôn quý lại càng quý hóa hơn, mang nhiều giá trị hơn bao giờ hết. Chắc các bạn tán đồng ý này với chủ blog tôi?   

Cảm ơn các bạn và mong các bạn luôn đồng hành và chia sẻ mội điều trên các trang blog và facebook của bản thân tôi “ cây nhà trồng được”.

Nguyễn Vĩnh Blog (vinhnv43.blogspot.com) & Trang facebook 








 


Thứ Năm, ngày 29 tháng 1 năm 2015

Trạng Chu

TRẠNG CHU 

Đọc thấy một bài viết về Đỗ Chu thấy hay, đưa lên đây mọi người cùng đọc.

Trạng Chu

TP - Các nhà văn xúm xít vào nghe Đỗ Chu nói. Chuyện thời sự chính trị nóng hổi trong nước đến chuyện Tây Tầu. Chuyện cung đình ông này lên ông kia xuống đến chuyện Mỹ Nga, Hàn Nhật. Đỗ Chu có tài biện giải những lắt léo lôi thôi của sự việc như trạng, mà anh là trạng thật.

Mới sáng tinh sương mà ông cụ đã đứng dưới cổng gọi với lên ời ời: “Dậy đi! Dậy đi! Dậy đi Bắc Ninh chơi, hôm nay chủ nhật!”.


 
Tranh của: Nguyễn Xuân Hoàng


Rồi ông cười cười: Hôm nay tao có tí việc với mấy đứa quan họ, phải có mày với thằng Chu đi tháp tùng.
Nhìn ông già xách cái túi vải là tôi biết, quà cho chị em quan họ đây mà.
Vâng, bố cứ yên tâm, tôi mau mắn gật đầu.
Đấy là ông già Kim Lân vậy.

Hồi ấy có khi ông cũng chỉ ở tuổi tôi bây giờ. Không hiểu sao bây giờ tôi chả thấy mình già tí nào, vậy mà lúc đó, cả tôi, cả anh Đỗ Chu, và mọi người đều thấy ông cụ thật là già, ra dáng một trưởng lão. Mặc dù nói đến “mấy đứa quan họ” thì tôi cũng biết tỏng ông nói đến “đứa” nào rồi. Tình cảm con người ta kể cũng nhiều lắt léo.

Đã thành lệ, mỗi lần ra khỏi Hà Nội là hai ông con như có một thỏa thuận ngầm thế nào cũng qua Bát Đàn “đánh bát phở” cho ấm bụng. Ông không phải người khảnh ăn, nhưng khá rành cách ăn, cách đánh chén.
Ông bảo Hà Nội xưa ăn phở thanh cảnh chứ đâu có chuyện chém to kho mặn như cái “anh” Bát Đàn hôm nay. Phở Bát Đàn nổi tiếng ngon là nhờ bát to, nhiều thịt, hợp với lối sống thời bao cấp, lấy cái “chất” làm trọng. Xếp hàng một tí, chật chội một tí, nhưng bê bát phở lên là thấy ngay cái sự hào hứng rộn lên từ trong bụng.

Một cuốc xích lô, hai cha con đã có mặt ở bến Nứa. Bến Nứa như là cái trạm trung chuyển lúc nào cũng đông, lúc nào cũng chen chúc. May mà tôi có cái thẻ thương binh mỗi lần mua được hai vé, chúng tôi ung dung lên xe có ghế ngồi phì phèo. Ông bảo bây giờ mình đến Bắc Ninh thì thằng Chu vẫn chưa dậy.

Thằng ấy sớm cũng phải mười giờ. Tao chưa thấy thằng nào có cái tật ngủ trưa xấu như thằng này, khôn nhất hạng. Về Bắc Ninh nó như ông con Trời. Nhà cửa đề huề, vợ con đâu vào đấy, cơm bưng nước rót, có mẹ già, vợ khỏe, con ngoan, lên Hà Nội bốc phét chán mồm, nhoáy một cái “người anh em” đã tếch về Bắc Ninh đắp chăn cười thiên hạ.

Tôi cũng đã có đôi ba bận theo ông về Bắc Ninh chơi với anh Chu, cũng khá thạo cung cách của anh, thạo cả lề thói dân dã nhưng thực ra rất vương giả.

Quả đúng như ông nói, hai cha con về đến sân gần chín giờ mà nhà cửa vẫn vắng hoe. Ông lên giọng: “Chu ơi, Chu à, dậy đi, tao với thằng Đỉnh về chơi này”.

Ngó vào nhà thấy có cái màn xô buông ở gian cạnh bóng ngưòi cọ quậy. Ông Kim Lân bảo: “Thôi, tao với mày đi loanh quanh tí. Thằng này chưa chịu dậy đâu”. Hai cha con vừa quay ra tới cổng thì gặp một người đàn bà trạc ngoài năm mươi, tay cắp nón, tất tả đi vào.

Chị ta xởi lởi: “Con chào ông, chị chào chú. Chắc ông và chú đi thăm bác Chu”. Chúng tôi chưa kịp trả lời thì chị đã liến thoắng: “Khổ thân bác Nhu nhà cháu ông và chú ạ. Bác giai hình như bị liệt lâu lắm rồi”. Tôi ớn lạnh xương sống, hỏi lại: “Chị nói sao? Anh Chu bị liệt?” - “Dạ vâng” , rồi chị hạ giọng: “Chả là lúc nào cũng thấy bác ấy nằm với cái chăn vắt ngang bụng”.

Trời đất quỷ thần ơi, cắn rơm cắn cỏ lạy thánh mớ bái, phỉ phui cái miệng nhà chị này! Người ta không dậy không có nghĩa là người ta bị liệt. Sao mà cứ nói lấy được thế!

Ông Kim Lân hỏi: “Chị là giáo viên, bạn với cái Nhu à?” - “Cháu dạy khác trường chị Nhu ông ạ, nhưng tuần nào cháu cũng sang đây thuê sách về cho tổ bộ môn đọc. Nhà bác ấy nhiều sách hay”. Tôi nói: “Bác ấy vẫn còn ngủ”. Chị đon đả: “Tôi quen rồi, cứ việc vào lấy sách trong giá rồi gửi tiền thuê vào trong ống bơ, chả hỏi han gì đâu”.

Tôi cảm thấy có một không khí thật thân thương gần gũi. Ông Kim Lân dường như quá quen với chuyện này nên không lấy đó làm điều. Hai cha con lần ra đầu ngõ, chặc lưỡi: ta ra tìm cốc nước chè, “thằng Chu” hay sang đó kéo thuốc lào.

***

Hai ông con uống nước chè, ăn kẹo lạc, nghe dân làng nói chuyện về “bác Chu” đến lắm chuyện khôi hài. Người ta nhắc đến Đỗ Chu đều với giọng yêu mến, trân trọng, cấm thấy ai suồng sã, khó chịu. Áng chừng mười giờ rưỡi, tôi bảo ông Kim Lân, giờ này chắc anh ấy đã dậy. Về đến ngõ, y rằng đã thấy Đỗ Chu đang đứng vạch quần tè vào gốc sấu trước hiên nhà. Sao lại tè lung tung thế, tôi nghĩ trong bụng, chưa kịp nói thì ông Kim Lân đã bảo, chắc nhà không có ai. Nhà quê sướng nhất là đái bậy! Tôi cũng là người nhà quê nhưng tôi không thấy thế.

Đỗ Chu lại quay vào trong cái mùng xô, hồn nhiên nói với ra: “Ông và chú uống nước”. Tôi đành lấy cái phích nước, pha trà cho có việc. Ông Kim Lân thì ngồi kéo thuốc lào, Đỗ Chu vén màn gọi với xuống nhà: “Nhu ơi, Nhu à”. Lập tức chị Nhu nhào lên “chào ông, chào chú” xong đứng chờ.

Đỗ Chu nói: “Bây giờ mình lên chợ mua tôm cua ốc ếch gì đấy về lo bữa trưa cho ông với chú ăn. Mua một con gà để tối nấu cháo, đạp xe lên báo cho mấy đứa quan họ lo chuẩn bị tối lên đây hát cho ông và chú nghe”. Chị Nhu “vâng” một tiếng rồi dắt xe đạp ra đường.

Chiều hôm ấy, sau khi đi thăm mấy nàng quan họ về, tôi và ông Kim Lân được anh Đỗ Chu mời lên xem căn gác nhỏ như cái tổ chim, thiết kế của anh. Một cái bàn gỗ, một cái phản mộc, trên có khuôn cửa sổ rộng mở ra sau vườn. Đây là căn gác đặc biệt nhất thế giới, tôi dám chắc nó có một không hai, dưới sàn sách ném từng đống, không có các thiết bị tối tân, không có sự trang hoàng cầu kỳ, tuyệt nhiên không có ti vi tủ lạnh.
Độc nhất ở góc phòng phía trong được trổ một cái lỗ, lỗ này thiết kế khá tinh vi nhưng cũng dễ nhận ra ngay vì nó được làm bằng một vỏ chai bia Vạn Lực Trung Quốc. Chai bia được đập đáy gắn vào lỗ thủng chĩa ra sau vườn, để khi làm việc mệt, khi mót tiểu, chủ nhân của nó chỉ việc tè vào lỗ chai, nước tiểu phóng thẳng ra bụi cây dưới vườn. Tè xong tác giả của những truyện ngắn thơ mộng chỉ cần đổ một cốc nước lã là rửa sạch.
Một sự tự do đến kỳ quặc không ai nghĩ ra. Vừa thuận lợi lại vừa ích lợi vì dưới kia, đường nước tiểu được căn đúng một cái thùng tro dành để làm phân tuới cây trong tương lai gần.

Chị Nhu là nhà giáo, là một phụ nữ Kinh Bắc truyền thống, lấy việc đảm đang chăm chồng nuôi con là niềm hạnh phúc. Chị không bao giờ tham gia vào chuyện của chồng. Chồng chị là người nổi tiếng, chị biết, nhưng chị không bao giờ lấy điều ấy ra khoe với ai.

Việc của chị là gia đình chồng con, đóng góp với xã hội bằng nghề dạy học. Thế là đủ vui, đủ bận. Vậy mà khi chị bị tai biến, anh Chu một tay chăm lo vợ. Bằng tài thuyết khách của mình, bằng tình cảm riêng, anh đã mượn được tạp chí Văn nghệ quân đội một căn phòng vốn là kho để lặt vặt ở phía sau, dọn sạch, kê một cái giường cho vợ nằm.

Và anh như trở thành một Đỗ Chu khác: Ít nói hẳn. Lầm lũi, cần mẫn, siêng năng, anh không “khiến” bất kỳ ai “nhúng tay” vào, kể cả các con, từ tắm giặt đến cơm nước thuốc men cho vợ. Anh vào tận Văn phòng Trung ương rước được cụ thầy thuốc chuyên lo chăm sóc sức khỏe cho lãnh tụ ra, bắt mạch, kê đơn bốc thuốc cho chị Nhu. Anh đi bốc thuốc, về, sắc thuốc cho vợ hết ngày này sang tháng khác, nâng giấc cho vợ khẽ khàng, đến khi chị Nhu tỉnh dần, tỉnh dần rồi khỏi dần, khỏi dần.

Tôi hồi ấy ở Văn nghệ quân đội nên được chứng kiến từ đầu. Nhìn anh chăm sóc vợ mà thấy cảm phục anh hơn, trước đó, không phải không có chuyện này chuyện kia tức, ghét Đỗ Chu, nhưng qua cái đận này thì chả có cái gì xấu của anh còn đọng lại. Tức ghét bay biến. Nhiều khi tự thấy mình xấu hổ vì cái sự tức ghét kia. Anh chăm chị Nhu cũng kỹ càng như anh chăm sóc những trang văn, những đứa con của đời anh vậy. Tôi nghĩ thế và tự lấy đó làm gương cho cuộc sống của mình.


***

Ở Hội Nhà văn có những nhân vật đặc biệt, nói hay, nói nhiều, chuyện đông tây kim cổ thảy đều am tường. Ngày xưa có Chế Lan Viên, Nguyễn Khải, thời chúng tôi có anh Đỗ Chu, anh Nguyễn Khắc Phục. Đỗ Chu đến phòng nào lập tức phòng đó biến thành nơi tụ tập. Các nhà văn xúm xít vào nghe Đỗ Chu nói. Chuyện thời sự chính trị nóng hổi trong nước đến chuyện Tây Tầu. Chuyện cung đình ông này lên ông kia xuống đến chuyện Mỹ Nga, Hàn Nhật. Đỗ Chu có tài biện giải những lắt léo lôi thôi của sự việc như trạng, mà anh là trạng thật. Nghe Trạng Chu nói thì đến con kiến trong lỗ cũng phải bò ra nghe.

Tôi đã từng được chứng kiến một “pha” ngoạn mục, ấy là một hôm, Nguyễn Khắc Phục đang cao đàm khoát luận trong phòng Nguyễn Minh Châu về các triết luận cao siêu của Căng, của Nít, rồi chuyện cụ Xôcrát đến ông Nguyễn Hữu Đang nhà ta đối thoại với các triết gia hàng đầu của Pháp quốc. Chuyện đang cao trào thì Đỗ Chu đến. Nguyễn Khắc Phục coi như không có chuyện gì xảy ra, tiếp tục nói về chủ nghĩa hiện sinh và các nhà tư tưởng trụ cột của trường phái này. Một lúc sau thì Đỗ Chu lặng lẽ giữ ý, biến mất, không để lại dấu vết. Thế mới biết các nhà hùng biện của chúng ta cũng có sự kiêng kị nhau khá rõ ràng.
Ở Hội Nhà văn từ khi được thành lập đến nay, có hai “ông cụ” hoành tráng nhất, ấy là cụ Cơ Chế và cụ Đặc Thù, cả hai cụ ấy đều đứng sừng sững gác hai bên cánh cổng tạo nên vẻ, khi thì nghiêm trang huyền bí, khi thì xáo trộn xuôi ngược. Mà cái sự nghiêm trang thường chỉ diễn vào dịp đại hội Hội Nhà văn. Có cờ đèn kèn trống uy nghi trang trọng, có các vị lãnh đạo quốc gia, các vị đầu ngành của đất nước đến nhiệt liệt chào mừng.

Thậm chí có binh lính nghiêm trang gác bảo vệ, có xe hụ còi mỗi khi đoàn đại biểu đi ra diễu hành trên đường phố. Đấy, không có ngài Cơ Chế và không có “Cụ” Đặc Thù thì làm sao có được sự vinh danh hùng vĩ như vậy? Thế còn cái sự lộn xộn dễ thương của mấy anh nghệ sĩ thì tất nhiên, nghệ sĩ người ta phải khác người đời và luôn được người đời để ý, dựng thành đủ thứ tin đồn, đủ thứ huyền thoại.

Nếu hay thì trong dân gian truyền tụng và nếu dở thì nhân dân thảy đều cho qua vì các nghệ sĩ rất kém tổ chức, làm cái gì quy lát bài bản là y như rằng, trở nên xộc xệch. Nghệ sĩ mỗi người một tính cách, một vòm trời, không ai đại diện cho ai nhưng ngài ấy sẵn sàng đại diện cho cả dân tộc. Không thể bắt nghệ sĩ xếp hàng nghiêm ngắn, càng không thể yêu cầu anh ta mặc đồng phục, hát đồng ca, hô khẩu hiệu. Lãnh đạo văn nghệ sĩ vừa là lãnh đạo cao cấp, vừa là nghệ nhân, một thứ cán bộ lãnh đạo không lãnh đạo gì cả.

Chân dung cụ Nguyễn Đình Thi là bức chân dung điển hình nhất của nhiều thế hệ cán bộ Hội Nhà văn: Sang trọng, tài hoa, dân dã, sắc sảo, hiền hòa, ai cũng nể trọng. Một trong những cán bộ không chức vụ gì cả, nhưng thâu tóm mọi câu chuyện mọi tình hình tình huống của Hội, ấy là anh Đỗ Chu. Anh Đỗ Chu ngất ngưởng ở các quán nước chè, các quán rượu quanh khu vực Hội Nhà văn bao năm nay và ngất ngưởng ở trong cơ quan Hội bấy nhiêu năm, không ông Tổng thư ký nào, không ông Chủ tịch hội nào, không ông Ban chấp hành nào không kiềng nể Đỗ Chu.

Đỗ Chu vừa là nghệ sĩ, nhân sĩ, vừa là cán bộ có đủ “mác” cho một cán bộ lý tưởng của cách mạng: Đã từng kinh qua lính thời chiến tranh, đã từng đoạt đủ các thứ giải thấp cao của Hội Nhà văn và của quốc gia, lan cả sang quốc tế. Hỏi Đỗ Chu giữ chức vụ vai trò gì, tất nhiên chức vụ thì không, nhưng vai trò thì có đấy! Vai trò gì? Ở đây có một thứ nhiệm vụ không nhiệm vụ gì cả. Có một thứ trách nhiệm không trách nhiệm gì cả. Có một thứ vai trò có rất nhiều vai trò, nhưng thực ra, chả vai trò gì cả.

Anh Đỗ Chu ngất ngưởng ở các quán nước chè, các quán rượu quanh khu vực Hội Nhà văn bao năm nay và ngất ngưởng ở trong cơ quan Hội bấy nhiêu năm, không ông Tổng thư ký nào, không ông Chủ tịch hội nào, không ông Ban chấp hành nào không kiềng nể Đỗ Chu.

Đến Hội Nhà văn Việt Nam mà chưa gặp Đỗ Chu coi như chưa làm việc, chưa gặp ai, chưa nắm được tình hình gì! Đỗ Chu là tai là mắt thậm chí là người phát ngôn (không chính thức) nhưng vô cùng quan trọng của Hội. Các nhà văn ở tỉnh xa về Hà Nội, ai may mắn được gặp Đỗ Chu chỉ một lần, một lần vài cốc bia hơi, vài chén rượu lạc, chịu khó nghe, và chỉ có nghe, Đỗ Chu giảng giải, chỉ dẫn, chỉ đạo, đến khi về tỉnh nhà thì tha hồ mà có chuyện với anh em. Tôi lắm lúc lẩn thẩn nghĩ dại, sau này, lỡ bác Chu ra đi thì cái “chân’’ của bác có ai thay thế được không nhẩy.

Chắc là thời thế sẽ khác và cái “chân” của bác Đỗ Chu sẽ chuyển cho một nhà văn có gương mặt mới, chưa rõ hình thù nó sẽ ra làm sao, phải bình tâm mà chờ đợi thôi các bạn ạ.

Hà Nội đêm mùng 6 tháng 8 năm 2014

 
Ảnh: Nguyễn Đình Toán


Ai khiến nhà văn đi gỡ bom nổ chậm…




Tôi chơi với anh Đỗ Chu cũng là vì anh gần gũi với ông Kim Lân và Nguyễn Trí Huân. Mà ông Kim Lân và Nguyễn Trí Huân đều là chỗ thân tình của tôi. Ở đời cứ hay bìu díu với nhau thế. Hình như các cụ gọi đấy là cái duyên. Phải duyên phải số nó vồ lấy nhau. Tôi mãi mãi chơi với anh Đỗ Chu vẫn chỉ là chơi theo, đến khi ông Kim Lân mất, thỉnh thoảng anh em vẫn qua lại với nhau. Chuyện cũ lắm khi thấy vui, lắm lúc thấy xao xác trong lòng. Ví như chuyện anh Đỗ Chu đi thực tế với Nguyễn Trí Huân vào trong tuyến lửa khu Tư.

Lúc ấy hai người đều là nhà văn trẻ của quân chủng Phòng không không quân. Đỗ Chu đã rất nổi tiếng với những truyện ngắn giầu chất thơ, đậm chất Paustovski.
Giữa thời chiến tranh khốc liệt ùng oàng, truyện ngắn của Đỗ Chu là khoảng lắng dịu dàng khiến người ta phải ngỡ ngàng. Nguyễn Trí Huân còn khá non cả tuổi quân lẫn tuổi nghề.

Với Huân lúc ấy là nhà văn trẻ ra chiến trường tất phải xông xáo. Đến một đơn vị đang làm nhiệm vụ gỡ bom nổ chậm, Huân ta xung phong đi cùng chiến sĩ đến tận nơi những trái bom phát nổ không biết lúc nào ấy, phải “sờ” được vào nó về mới hả.

Bác Đỗ Chu thì biến đi đâu mất. Khi “sờ” được thần chết rồi, về phía sau, Nguyễn Trí Huân hí hửng kể cho Đỗ Chu nghe, tưởng được ông nhà văn liền anh khen, không ngờ lại bị một trận mắng xối xả:
“Sao mày ngu thế? Ai khiến mày vào chỗ ấy, làm cái việc ấy? Mày vào thì làm được gì? Nhà văn thì phải viết chứ không ai khiến nhà văn đi gỡ bom nổ chậm. Mày mà chết thì là cái chết ngu chứ anh hùng gì…”.
                               
Tóm lại là ngu! Việc tháo bom nổ chậm là việc của chiến sĩ công binh, người ta có nghiệp vụ, thằng nhà văn vào đấy chỉ để “sờ” một cái, rồi về, hỏi có ngu không!

Tất nhiên luận về hai sự hèn ngu thì còn nhiều cách luận khác nhau, nhưng đến khi Nguyễn Trí Huân khoác ba lô đi chiến trường miền Nam, ở hậu phương, tết năm nào Đỗ Chu cũng vác một cành đào với cặp bánh chưng, cùng cái phong bao có mấy đồng nhuận bút còm về tận quê Huân biếu bà mẹ có hai con trai đều đang ngoài chiến trận.
                 
Năm nào cũng như năm nào, cho đến sau 1975, gặp nhau ở Sài Gòn, anh Chu nói với Huân: “Tao mừng mày còn sống, giờ tao trả bà cụ cho mày. Viết được gì thì cứ thong thả mà viết, trước mắt là về quê lấy vợ, có cháu cho bà cụ vui”.

Trung Trung Đỉnh
(Nguồn: Báo điện tử Tiền Phong) 

Chủ Nhật, ngày 18 tháng 1 năm 2015

Người sóm ủng hộ thông thoáng thông tin



 Người sóm ủng hộ thông thoáng thông tin

Đó là ông Mai Liêm Trực, là một trong số những nhà quản lý tiên phong mở cửa đưa Internet vào Việt Nam. 

Mới đây người đứng đầu Chính phủ ó phát biểu gây xôn xao cộng đồng mạng VN. Vì nó liên quan đến mạng xã hội, Chính phủ muốn các cơ quan công quyền đẩy mạnh và chủ động hơn nữa công việc đưa thông tin chính thức và đúng đắn ra công luận. Chính phủ cần sử dụng tốt nhất ngay các mạng xã hội này. Bởi một hiện thực khách quan là cả chục triệu người hằng ngày hằng giờ sử dụng mạng xã hội thì chẳng có lý gì các cơ quan lãnh đạo, quản lý công quyền không tận dụng ngay con đường đưa thông tin này để đến được với cộng đồng dân chúng.

Trên tinh thần đó chủ Blog tôi xin đưa lại bài phỏng vấn ông mai Liêm Trực đăng trên báo Tuổi Trẻ và một bài khác "khắc họa" chân dung người được phỏng vấn để bạn bè đọc Blog tham khảo.

Vệ Nhi g-th

-----  

Người sóm ủng hộ thông thoáng thông tin  
Phỏng vấn ông mai Liêm Trực 



* Thưa ông, trên các trang mạng hiện nay bên cạnh những thông tin tích cực, hữu ích thì cũng có không ít thông tin thất thiệt, vô bổ. Vậy làm thế nào có thể sàng lọc, nhận biết những thông tin tốt, loại bỏ thông tin xấu?

- Giải pháp hàng đầu là chúng ta phải dùng thông tin đúng đắn để phản ứng nhanh nhạy và đầy đủ. Tôi nói ví dụ trước đây xuất hiện tin đồn trên mạng là chủ tịch BIDV bị bắt. Đối với loại tin đồn như vậy, chỉ cần ông chủ tịch BIDV xuất hiện trên báo là dẹp bỏ được ngay. Nếu cần thì cơ quan chức năng như công an, Ngân hàng Nhà nước... có thông tin chính thức. Các bên liên quan không nên im lặng khi xuất hiện thông tin thất thiệt, sai sự thật vì chỉ có thông tin mới giải tỏa được thông tin.

Hay trường hợp ông Nguyễn Bá Thanh trên mạng nói này nói nọ, nhưng khi Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ trung ương công bố thông tin chính thức thì mọi việc rõ ràng. Chính những bác sĩ có uy tín nói ra để xã hội yên lòng. Cá nhân tôi mong ông Nguyễn Bá Thanh khỏe lại và chính ông sẽ nói ra.

* Đúng là phải chủ động thông tin để dẹp bỏ tin đồn thất thiệt. Nhưng giờ đây có nhiều loại thông tin xuyên tạc, kích động được dàn dựng và thường xuất hiện mỗi khi có các sự kiện chính trị quan trọng. Ông nhìn nhận như thế nào về hiện tượng này?

- Cơ chế tin đồn thường ẩn danh, thời xưa thì truyền miệng, sau đó truyền đơn, bây giờ có Internet thì truyền qua mạng. Một mặt chúng ta cần thấy đây là hiện tượng bình thường, nên quen với chuyện đó và đừng nên quá để ý, lo lắng để rồi bị chi phối, dẫn dắt bởi các loại tin đồn.

Đứng trước một thông tin nào đó cần bình tĩnh suy xét, tìm hiểu qua nhiều kênh khác nhau, đặc biệt là các kênh chính thức và có dẫn nguồn rõ ràng.

Mặt khác, các cơ quan chức năng và chính những người trong cuộc cần chủ động đấu tranh với tin đồn thất thiệt. Nếu cứ im lặng thì tin đồn sẽ làm xã hội phân tâm.

Nhiều lần tôi nói với những người có trách nhiệm rằng không nên né tránh những gì mà chúng ta thường cho là “nhạy cảm”. Càng không nên né tránh các loại thông tin xấu độc, xuyên tạc, vu khống. Nếu là tôi thì sẽ “chơi bài ngửa”, không có úp mở gì. 

Trong lĩnh vực thông tin, chúng ta có khoảng 800 cơ quan báo chí, hơn 18.000 nhà báo, ai nói gì mình phải nói lại chứ. Tôi nhớ khi ta chưa có Internet, Tổng cục Bưu điện được giao phát hành báo chí ra nước ngoài rất vất vả, một cân báo đưa lên máy bay là 10 USD, chưa kể đưa ra nước ngoài rồi ai phát hành?
Bây giờ hàng triệu người Việt Nam ở nước ngoài có thể đọc báo điện tử trong nước để cập nhật tin tức hằng ngày, hằng giờ. Với lực lượng báo chí hùng hậu như vậy, để xuất hiện khoảng trống thông tin, để cho thông tin xấu, độc chen vào thì tôi nghĩ rằng trước hết phải xem lại cách thông tin của chính chúng ta.


Nhiều lần tôi nói với những người có trách nhiệm rằng không nên né tránh những gì mà chúng ta thường cho là “nhạy cảm”. Càng không nên né tránh các loại thông tin xấu độc, xuyên tạc, vu khống. Nếu là tôi thì sẽ “chơi bài ngửa”, không có úp mở gì. (Mai Liêm Trực)




Ông Mai Liêm Trực, nguyên thứ trưởng thường trực Bộ Bưu chính Viễn thông.  (Ông Trực cũng là một trong những nhà quản lý tiên phong mở cửa đưa Internet vào Việt Nam).


* Thưa ông, nói lại nhưng phải nói sao cho thuyết phục chứ không phải nói lấy được?

- Tất nhiên. Theo tôi ít nhất có hai điều kiện.

Thứ nhất, thẳng thắn đấu tranh với những thông tin sai trái nhưng không được áp đặt, không quy chụp. Thông tin một chiều, theo một mẫu câu thì tính thuyết phục rất thấp.

Thứ hai, cái gì mình đúng thì kiên quyết bảo vệ, nhưng không vì thế mà giấu cái sai, cái dở của mình. Càng công khai, minh bạch càng đẩy lùi được hiện tượng “nhiễu” thông tin. 

Một vấn đề quan trọng nữa, như tôi đã nói bản thân Internet không xấu, chỉ có con người lợi dụng Internet. Vì vậy chăm lo giải quyết tốt các vấn đề trong đời sống thật chính là giải quyết ở gốc những vấn đề phát sinh trên không gian mạng.

* Giả sử xuất hiện tin đồn thất thiệt liên quan đến ông thì ông sẽ ứng xử như thế nào?

- Ông bà ta dạy “Cây ngay không sợ chết đứng”. Nếu thông tin đó chỉ một vài người nói thì không đáng quan tâm. Nếu nhiều người nói, tôi sẽ nói lại bằng cách chính thức hoặc không chính thức. Chắc chắn là tôi không thể im lặng. Phải giải tỏa thông tin và chúng ta cũng phải tin vào lòng dân. Người dân biết hết.

* Ngoài việc chủ động thông tin và hoàn thiện hành lang pháp lý về quyền tiếp cận thông tin, ông có đề xuất giải pháp cụ thể nào khác không?

- Việc căn cơ trước mắt và cũng cho lâu dài là nâng cao dân trí, để tự mỗi người dân khi ngồi trước màn hình máy tính biết chọn lọc thông tin, biết tự bảo vệ mình trong không gian sống mới.

Việc tiếp theo là những giải pháp về hành chính và pháp lý. Tôi ủng hộ xử lý nghiêm, nhưng không chỉ bằng biện pháp hành chính mà bằng cách thức kiện ra tòa để tòa phân xử. Ví dụ như người nào tung tin có bom làm chuyến bay ngừng lại, cơ quan quản lý xử phạt theo quy định nhưng chính hãng hàng không là bên bị thiệt hại nhiều nhất phải kiện chứ.

Cuối cùng là giải pháp kỹ thuật  nhưng không nên lạm dụng. Trên bình diện rộng, đâu thể chặn hết mà thật ra cũng không chặn được. Khi xuất hiện trang WikiLeaks, nhiều quốc gia mạnh về công nghệ đã muốn chặn nó nhưng không thể, vì về mặt kỹ thuật thì sẽ có ngay rất nhiều trang web “nhân bản” WikiLeaks. Điều chúng ta có thể, tôi muốn nói lại một lần nữa, chỉ có thông tin mới giải tỏa được thông tin.

* Internet mang đến không gian sống mới như ông nói ở trên, nghĩa là đòi hỏi cách tiếp cận mới đối với cuộc sống con người, trong đó có cách tiếp cận thông tin?

- Không thể giữ cách quản lý như cũ. Đất nước ta trải qua nhiều cuộc chiến tranh ác liệt, hi sinh lớn lao, nên việc chúng ta lo lắng cho an ninh quốc gia là một lo lắng đúng đắn và chính đáng. Cách thức chúng ta quản lý trước đây thường rất chặt, ví dụ mỗi lần ai đó ra nước ngoài thì phải trả lời câu hỏi có mang tài liệu, bản đồ gì không. Nhiều nơi treo biển cấm quay phim, chụp ảnh. Bây giờ thời đại đã khác.

Tôi nói ví dụ như ta sử dụng Google Map hay Google Earth, rất dễ dàng để khám phá các tòa nhà, hình ảnh và địa hình, kể cả các địa danh nhạy cảm. Rõ ràng cách chúng ta tự bảo vệ mình phải khác trước vì thời đại đã thay đổi. Tôi rất tiếc là những biện pháp đưa ra cho các vấn đề hôm nay đây đó vẫn giữ cách làm cũ.



Một vấn đề khác là với dòng chảy thông tin trên mạng hiện nay, tôi có cảm giác chúng ta lo ngại và suy diễn quá lớn. Việc cần hơn là khơi dòng và nắn dòng thông tin bằng cách tiếp cận mới.

Trong đó không thể thiếu một hành lang pháp lý ngày càng được hoàn thiện để người dân thực hiện quyền tiếp cận thông tin của mình, đồng thời đòi hỏi những người có chức vụ, quyền hạn và các cơ quan quyền lực nhà nước ngày càng thực hiện đầy đủ hơn trách nhiệm giải trình.

Nguồn: Báo Tuổi Trẻ