Thứ Bảy, 31 tháng 10, 2015

Một cách tiếp cận mới về Biển Đông trong giới trí thức Nhật Bản

Một cách tiếp cận mới về Biển Đông trong giới trí thức Nhật Bản

  Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng vừa có chuyến sang Nhật tham dự Hội thảo tháng 9 trước. Anh có viết và đăng bài dưới đây trên báo Văn Nghệ ngày 17/10/2015 với đầu đề "Một cách tiếp cận mới về thách thức trên Biển Đông".  

Mới đây tác giả chuyển cho chủ blog tôi bài viết trên cùng với các tấm ảnh về Hội thảo mà anh nói rằng vì "lý do kỹ thuật" các báo khác họ không đăng được nên gợi ý cho tôi nếu đăng lại bài thì đăng những tấm ảnh này với lời chú thích mà anh chuyển cùng bài cho blog tôi.

Xin mời bà con, bạn bè của trang Nguyễn Vĩnh blog cùng chia sẻ bài & ảnh trước nhiệt tình của tác giả...

Vệ Nhi g-th

----  . 

Thách thức mới ở Biển Đông, qua kỳ hội thảo


 “Mùa Xuân sang có hoa Anh Đào, 
Màu hoa tôi trót yêu từ lâu…” 

Đinh Hoàng Thắng (Tokyo—Hà Nội, Thu 2015)


Chuyến bay VN0384 chở chúng tôi đáp xuống phi trường Haneda, Tokyo chính xác từng phút như ghi trong lịch trình. Trên đường về Khách sạn, người của Ban Tổ chức tranh thủ thông báo chi tiết hơn về Hội thảo kỳ này (so với kế hoạch đã gửi qua mail). Vẫn biết từ trước là Hội thảo 2 ngày, nhưng 2 ngày mà đến 6 buổi thì thật đúng là một “phong cách rất Nhật Bản”. Quá nghiêm cẩn, quá chỉnh chu và chương trình làm việc như vậy là cũng khá độ sộ! “Mưa rả rích mấy ngày nay, anh ạ…” Onuki Kamu nói tiếng Việt giọng nửa Nam nửa Bắc. “Tiếc là không được đón các anh vào mùa Anh Đào, phải chờ đến tháng Tư cơ, hy vọng các anh sẽ có dịp quay lại đúng vào kỳ hoa nở”. Thật thú vị khi bí mật đầu tiên được khai mở. Hóa ra bài ca trữ tình năm nào lại đến từ một tác giả Việt. Cứ ngỡ là của người Nhật. “Mùa Xuân sang có hoa Anh Đào, Màu hoa tôi trót yêu từ lâu…”. Mấy ai biết, đằng sau bản tình ca anh hát bằng cả lời Nhật là một “núi Phú Sỹ” về những vấn đề liên quan đến Biển Đông và quan hệ Việt-Nhật trong những ngày tới.  



Ảnh trên (từ phải sang trái): Giảng viên Odoka, Giáo sư Imai, Giáo sư Nakano, Tiến sĩ Tanaka cùng tác giả.

Ảnh bên: Trong số báo phát hành sáng ngày 20/9/2015, tờ Yomiuri Shimbun (tirrage đạt tới 12.774.000 bản mỗi ngày) và Sekai Nippon (phát hành ở Tokyo) đã dành phần lớn trong mục Thời sự Quốc tế đăng tin về Hội thảo Biển Đông tổ chức tại Đại học Takushoku.

 





Ảnh trên: Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, thành viên của Viện các Vấn đề Phát triển tại Hội trường Shintobe của Đại học Takushoku đang thu hút sự chú ý của giới trí thức Nhật Bản.

Ảnh dưới: Đây là tấm áp-phích lớn treo trước cổng trường Đại học Takushoku (Tokyo) trước hôm diễn ra Hội thảo chừng 10 ngày. Nhưng...có một câu chuyện "bi-hài" đã xảy ra mà những người kể lại không khỏi "tức cười" về một hành động lạ! Đó là tấm áp-phích tự dưng bị bóc gỡ, lấy đi mất khiến Ban Giám hiệu phải ra một Thông báo, viết rằng "...đây là tấm áp-phích đẹp, nếu bạn sinh viên nào thích thì có thể đến Văn phòng xin, Nhà trường phát không phí, chứ đừng nên tự ý bóc ra lấy làm của riêng...Người ta truyền tai nhau, nhiều khả năng cô cậu sinh viên bóc áp-phích kia là sinh viên Trung Quốc?! Người Nhật đúng là đại hài hước (họ có "great sense of humor").



















Ảnh trên: Hội trường Shintobe với hơn 300 thính giả đến từ Đại học Takushoku.


Nhật-Việt cần kết nối…

Trong quá trình hội luận, tôi may mắn được trao đổi nhiều lần với các GS. Kojima Takayuki và GS. Araki Kazuhiro đều là “những cây đa cây đề” về các vấn đề an ninh Đông Á. Câu chuyện xoay quanh nhiều “nút thắt” nóng bỏng. Các bạn nói, từ nay, chúng tôi quan tâm đến cả hai “Biển Đông”. Tới đây, Trung Quốc sẽ làm gì tiếp theo ở cả Hoa Đông lẫn Biển Đông? Bạn cho rằng, Nhật Bản và Việt Nam cần khẩn trương làm sâu sắc hơn nữa mối bang giao vừa được nâng cấp lên tầm mức quan hệ “đối tác chiến lược sâu rộng” để có thể ứng phó kịp thời với những diễn biến ngày càng căng thẳng do các bước leo thang ngày càng nguy hiểm của Trung Quốc. Các diễn giả đều nhận thức rằng, quan hệ Việt – Nhật đã trở nên bền vững hơn trong những năm qua, một phần chủ yếu là do hai bên có chung các mối quan ngại trước sự gây hấn ngày càng gia tăng của Trung Quốc. Trong khi đó, ở một số phương diện, quan hệ Việt – Mỹ vẫn còn đang phát triển tiệm tiến, chưa có đột phá như quan hệ Việt – Nhật nên có thể khiến Trung Quốc tin rằng họ có thể “tiếp tục bắt nạt Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác”. Thái độ quyết đoán này của Bắc Kinh một phần nằm trong chiến dịch tiếm quyền kiểm soát khu vực, nhưng họ tiến hành một cách ma mãnh, không ồn ào, để không dẫn đến phản ứng quá mạnh của các nước lớn trong vùng.

Các bạn Nhật cũng nhắc lại thời điểm tháng 5/2014, chỉ 3 ngày sau khi Tổng thống Obama kết thúc chuyến công du châu Á để trấn an các đồng minh thì Bắc Kinh đã gây ra cuộc khủng hoảng HD981, hạ đặt giàn khoan khủng bất hợp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Vấn đề đặt lên bàn là, sau các chuyến thăm sắp diễn ra của Chủ tịch Tập Cận Bình và của Tổng thống Obama, lần lượt dự kiến sẽ đến Hà Nội vào tháng 11 tới, và đặc biệt là sau Đại hội 12 của Đảng CSVN, liệu Trung Quốc có gây hấn đối với Việt Nam hay không? Nếu có thì sẽ tấn công trên bộ hay trên biển? Thật ra, chẳng ai có thẩm quyền để trả lời câu hỏi này, ngoài Bắc Kinh, nhất là khi các bạn Nhật lại đọc thấy những lời đe nẹt trực tiếp Việt Nam ngay trên chính các trang báo đảng của Trung Quốc! Một nguy cơ khác, bạn không phát biểu công khai, nhưng luôn ẩn hiện trong các câu hỏi, các lời bình, đó là việc Trung Quốc đang cố “khua chiêng gõ mõ” về một mô hình “quan hệ cường quốc kiểu mới” với Hoa Kỳ. Cái gọi là mô hình mới này, theo các diễn giả Nhật, thực chất là việc Trung Quốc muốn thỏa hiệp với Mỹ trong một số vấn đề lớn, để “nuốt trọn Biển Đông”. Bằng cách nào? Trung Quốc muốn Mỹ đừng dính dáng gì đến đường lưỡi bò hay còn gọi là đường “đứt khúc 9 đoạn”, mà hãy để mặc cho Trung Quốc múa gậy vườn hoang, xử lý các nước nhỏ và yếu trong khu vực. Vậy liệu cái “tinh thần Thượng Hải” quyết “bán đứng Việt Nam” như năm nào sẽ được lặp lại theo gợi ý của chiến lược gia Bresinsky? Người Nhật không mấy tin vào cái giả thuyết sặc mùi con buôn này.

Và cái chính là, với lý trí lành mạnh, Hoa Kỳ khó có thể chấp nhận cái chính sách sẽ làm tổn hại đến vị thế cường quốc số một của mình; quan trọng hơn, làm mất đi một trong những đòn trục để “tái cân bằng”, đó là hệ thống các đối tác truyền thống (gồm các liên minh xưa nay) và cả những đối tác mới nổi (như Việt Nam). Dù bị cuốn hút vào các hồ sơ khác như Syria hay Ukraina, chính quyền Obama vẫn không quên thúc đẩy chính sách “xoay trục” qua vùng châu Á-Thái Bình Dương, một trong những hướng chủ yếu trong nền chính trị đối ngoại của Hoa Kỳ hiện nay. Các hoạt động ngoại giao ráo riết bên lề khóa họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc đã diễn ra cuối tháng 9 vừa qua cho thấy, Hoa Kỳ đang tăng cường quan hệ kinh tế và chiến lược với Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ. Hai sự kiện hiếm hoi liên quan đến bang giao giữa Mỹ với Á châu diễn ra gần như đồng thời vào ngày 29/9 tại New York. Ngoại trưởng Mỹ John Kerry, đã siết chặt hàng ngũ cùng hai đồng nhiệm Nhật Bản Fumio Kishida và Hàn Quốc Yun Byung Se, trong một cuộc họp tay ba hy hữu giữa các đồng minh quân sự này. Ông Kerry còn có một cuộc họp khác với hai Ngoại trưởng Nhật Bản và Ấn Độ; cuộc bắt tay ấy cũng chưa từng có, được giới thiệu như là “những cuộc hội ngộ giữa các nền dân chủ lớn của thế giới”. Và đến giờ này, sau khi phối hợp hoạt động giữa Hạm đội 3 với Hạm đội 7, triển khai thêm 30.000 thủy quân lục chiến đến Hawaii, thông báo cho đồng minh về kế hoạch tuần tra hải quân ở Trường Sa, có thể thấy rằng các bạn Nhật nói đúng, người Mỹ không hề tuyên bố suông!

Nghe cả tiếng nức nở

Hội trường Shintobe của Đại học Takushoku quy tụ hơn 300 khách mời, bao gồm các giáo sư, giảng viên và phần lớn là sinh viên các khóa master của Học viện Quốc tế từ Đại học Takushoku và các trường đại học bạn. Các sinh viên quốc tế học Nhật Bản rất coi trọng đến an ninh “phi truyền thống” trong nghiên cứu về khu vực và nhân tố con người trong nghiên cứu về phát triển toàn cầu. “Đằng sau các vận động chính trị lớn không bao giờ được quên nhân tố con người”. Lão Giáo sư Hasegawa Michiko từ Đại học Saitama nói với tôi sau khi ông hoàn thành xuất sắc bản báo cáo dẫn đề tại Hội thảo. Nói đến con người Nhật Bản thì không thể không nói đến văn hóa và giáo dục, mà tôi chú ý nhất là văn hóa chính trị và giáo dục quốc tế học. Buổi gặp gỡ các nghị sỹ và dân biểu từ Thủ đô Tokyo và hàng chục đơn vị bầu cử từ các địa phương lên nghe chúng tôi nói chuyện là một bài học nhớ đời đối với bản thân. Ngày 18/9, khi chúng tôi đang ở trong Tòa nhà Quốc hội, ước tính hơn cả ngàn người đang thực sự “bao vây” tòa nhà vừa cổ kính vừa hiện đại ấy, dưới trời mưa tầm tã. Những người biểu tình phản đối dự luật cho phép Lực lượng Phòng vệ (SDF) tham chiến khi có xung đột đe dọa đến an ninh của cả Nhật lẫn Mỹ. Mấy mươi năm trước đây, ông ngoại của Thủ tướng Abe bây giờ cũng đã muốn sửa đổi điều 9 của Hiến pháp Nhật liên quan đến vấn đề này, nhưng ngày ấy, cử tri Nhật không đồng ý. Bây giờ số người phản đối dự luật vẫn còn đông, nhưng ông Abe đã thành công. Ông thành công không chỉ bằng lá phiếu ở Quốc hội, vì Liên minh cầm quyền chiếm đa số ở cả Hạ viện lẫn Thượng viện. Dự Luật đã biến thành Luật, ông Abe vẫn không ngơi nghỉ các nỗ lực thuyết phục những người chống đối bằng nền văn hóa dân chủ. Chính ông cũng thừa nhận, chính quyền ngay từ đầu, thực sự chưa giải thích thấu đáo dự luật này cho người dân.

Trở lại với các khảo luận của Giáo sư Ari Nakano, dường như các bài viết ấy của chị chỉ được đăng tải trên báo chí Nhật Bản và nước ngoài. Tôi tìm trong Google, tuyệt nhiên không thấy có bài “Những câu hỏi về quan hệ Việt-Nhật” trên truyền thông Việt Nam. Có lẽ nền “ngoại giao văn hóa” của ta còn phải phấn đấu nhiều hơn nữa. Phải chăng đã đến lúc nên giã từ cái thời ngoại giao thiên về ngợi ca một chiều, nặng về sáo rỗng bề ngoài, thiếu chiều sâu cần có? Dân gian ta từng truyền khẩu “Mồm tuyên giáo, áo ngoại giao” có sai không nhỉ? Thật nguy hiểm, nếu ta cứ hành xử mà thiếu nghiên cứu một cách rốt ráo văn hóa sở tại; nhất là ở miền đất mà tinh thần “võ sỹ đạo” vốn là một giá trị cốt lõi từ bao đời nay, đã bồi đắp, vun xới và làm nên một nước Nhật huy hoàng khiến cả thế giới từ Âu sang Á đều phải ngưỡng mộ, đều phải kính nể. Tiến sĩ Ari Nakano là Giáo sư của Trường Đại học Daito Bunka, từng là nghiên cứu sinh tại Đại học Keio và đoạt bằng Tiến sĩ tại đấy. Các lĩnh vực chuyên sâu của chị là Chính trị, Ngoại giao và Nhân quyền ở Việt Nam. Năm nào chị cũng xuống tận các tỉnh thành để trao đổi với chuyên gia của ta về các vấn đề liên quan đến Việt Nam. Chị đã đi nhiều nơi, phỏng vấn nhiều người ở các làng làm nông nghiệp tại các tỉnh Đắc Nông và Lâm Đồng, nơi các nguồn bô xít đang được khai thác, nhưng chị không thấy những người cư dân nơi đây đã được giải thích rõ ràng về khai thác bô xít, hay xây dựng và mở rộng các nhà máy tinh luyện alumina. Chị ghi lại một sự thật mà chị cho là đau lòng, chẳng mấy ai biết gì hơn về các kế hoạch “giải phóng” đất, chuyện đền bù, v.v… Mặc dù những người dân các làng ấy đều đã gửi đơn tới các công ty và các cơ quan công quyền nói về những thiệt hại về môi trường mà họ phải gánh chịu. Xin được nói thêm, GS-TS. Ari Nakano cũng chính là dịch giả “Nỗi buồn Chiến tranh” của Bảo Ninh.

Phải động viên được dân 


Giảng viên Odoka Tai còn khá trẻ, anh từng 15 lần bỏ tiền túi đi lại giữa Tokyo—Hà Nội—Lạng Sơn, phỏng vấn trực tiếp các nhân chứng sống còn sót lại từ cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Sỡ dĩ anh đi liên tục trong vội vàng, vì theo anh, các nhân chứng sống ấy ngày càng ít đi. Anh lo với thời gian và cung cách ở Việt Nam hiện nay, mọi chuyện dễ rơi vào quên lãng. “Quên sự đóng góp của người dân, sau này động viên họ sẽ rất khó”. Anh chia sẻ với chúng tôi các ưu tư đối với thân phận những người gắn đời mình với cả một giai đoạn bi tráng của lịch sử Việt-Trung, anh quan tâm nhiều đến việc làm thế nào để khi hữu sự phải động viên được người dân. Liên quan đến chủ đề thảo luận, anh tìm hiểu khá kỹ tương quan giữa P&D, tức là tương quan giữa nỗ lực kiến tạo hệ thống các đối tác chiến lược của Việt Nam (Partnership) với việc thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa bên trong đất nước (Democratization). Vâng, tại Quốc hội cũng như ở hội trường lớn, chúng tôi đã giải thích rất rõ ràng, để quản trị được các căng thẳng trên Biển Đông, đối với Việt Nam, ngoài khâu chuẩn bị “sức mạnh cứng”, việc xây dựng “sức mạnh mềm” là hết sức cần thiết. Mô hình “P&DOWN” ra đời từ bối cảnh ấy. Hẳn nhiên, P&D cần được đặt trên nền tảng của ba trụ cột “tương sinh, tương hỗ” khác là Luật pháp – Truyền thông – Kết nối (O—W—N). Đúng là cuộc chiến luật pháp và truyền thông giờ đây đã trở nên thời sự hơn bao giờ hết, khi mà cả hai nguyên thủ Việt Nam và Trung Quốc, tại Liên Hợp Quốc đã công khai “phản đòn” nhau trước công luận quốc tế. Lần đầu tiên ông Tập tuyên bố: “Quần đảo Tây Sa và Nam Sa (chỉ Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam) là thuộc chủ quyền của Trung Quốc từ thời cổ đại xa xưa”!? Chủ tịch Trương Tấn Sang đã thay mặt triệu triệu con tim người Việt ở trong nước và khắp mọi góc bể chân trời, kịp đáp trả: “Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thực sự thuộc về Tổ quốc Việt Nam chúng tôi”. Chủ tịch Trương Tấn Sang nói tiếp: “Phía Trung Quốc trong những lần gặp gỡ phía Việt Nam thường nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của họ, không có gì phải tranh cãi. Phía Việt Nam cũng khẳng định lại rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của tổ tiên Việt Nam chúng tôi, không thể tranh cãi”.

Tại những buổi tiếp xúc với các nghị sỹ, dân biểu Nhật Bản trong Tòa nhà Quốc hội (Diet), các khía cạnh luật pháp quốc tế đã được nhiều diễn giả mổ sẻ kỹ lưỡng. Không ít nghị sỹ và dân biểu nêu câu hỏi, tại sao đến giờ này, Việt Nam vẫn chưa đưa Trung Quốc ra Tòa án Quốc tế, trong khi các chứng cứ về pháp lý ủng hộ các bạn? Có nghị sỹ còn so sánh Nhật Bản, Philipinnes với Việt Nam, tìm nguồn gốc chung gây ra những căng thẳng trên cả Hoa Đông lẫn Biển Đông. Các bạn Nhật khá tâm đắc với mô hình có cách phát âm na ná như hai từ “Bí Đao” trong tiếng Việt, để chỉ “P&DOWN” là 5 chữ cái trong tiếng Anh. Lúc đầu bạn nhầm tưởng là một pe-rơ-đam từ Hoa Kỳ hay của ASEAN. Đến khi biết đấy là sáng kiến do nhóm chúng tôi đưa ra, bạn chủ động đề xuất, tới đây nên tiếp tục hợp tác nghiên cứu giữa Viện Quốc tế Takoshoku với Viện Văn hóa Biển hay với Viện các Vấn đề Phát triển. Bạn có ý tưởng muốn mở rộng pe-rơ-đam này thành một mô thức có thể áp dụng để góp thêm phần quản lý căng thẳng trên cả Hoa Đông lẫn Biển Đông (ECS và SCS). Bạn cũng rất quan tâm đến các dự án “Chương trình minh triết bảo vệ Biển Đông”, “SEA-SEA-FORUM” (Diễn đàn Biển Đông Nam Á). Biết là để Liên Hợp Quốc chấp thuận đổi tên Nam Hải thành Biển Đông Nam Á còn mất thời gian dài dài. Nhưng để lãnh đạo Trung Quốc khỏi ngộ nhận Biển Đông (Nam Trung Hoa) thuộc chủ quyền của Trung Quốc vì có chữ “Hoa” trong đó (!), trước mắt, nên đẩy mạnh dự án này ra toàn khu vực và thế giới…

Đinh Hoàng Thắng (Tokyo—Hà Nội, Thu 2015)

Thứ Hai, 19 tháng 10, 2015

Thời cuộc trong bàn cờ Việt-Mỹ-Trung



Thời cuộc trong bàn cờ Việt-Mỹ-Trung


Thời cuộc Việt Nam nhiều thập kỷ nay muốn hay không muốn xoay quay cái trục “tam giác” Việt-Trung-Mỹ, trong đó 2 đại/siêu cường kia rõ ràng không lúc nào “buông bỏ” cái anh bé nhỏ VN (!?). Vì sao vậy, thôi thì qua quá trình lịch sử ngắn-dài mà nhìn lại, ai cũng thấy, chẳng cần trình bày thêm ra đây làm gì. Nếu nói theo dân gian, theo Phật… thì đó cũng là một thứ Duyên Nợ, vừa duyên vừa nợ. Muốn hay không muốn, thích hay không thích mặc lòng, mối quan hệ, tác động lẫn nhau/vào nhau của 3 quốc gia nó cứ diễn ra, lúc thuận lúc nghịch - mà nghịch xem ra nhiều hơn -, khiến việc xử lý nó với VN chúng ta là cả một loạt vấn đề làm “đau đầu” các nhà chính trị chuyên nghiệp. 

Tuy nhiên khi nhìn nhận thời cuộc đất nước - liên hệ tới mối quan hệ tam giác nói trên - vào lúc này như thế nào với một đối tượng rộng rãi hơn lại tùy thuộc vào chỗ đứng và suy nghĩ của mỗi người. 

Với Nguyễn Quang Dy, anh có một cách trình bày, lập luận và lý giải rất đáng để mọi người tham khảo.
Bài viết dưới đây Nguyễn Quang Dy đã chuyển cho trang Trần Hữu Dũng (Việt-studies), nhưng sau khi đăng thì tác giả muốn sửa lại đôi ba chỗ. Và tác giả mới gửi cho chủ blog tôi bản đã được chỉnh sửa này - mà theo anh “đây là bản mới mà tôi đã cập nhật, hay hơn so với bản đăng trên Việt-studies". Xin mời bà con trên mạng và bạn bè đọc tham khảo.

Vệ Nhi g-th

-----


Tam giác Mỹ-Trung-Việt đang chuyển đổi


Nguyễn Quang Dy


 Nếu chuyến thăm Mỹ gần đây của ông Tập Cận Bình làm nổi bật quan hệ Trung-Mỹ (đang xấu đi), thì kế hoạch thăm Việt Nam sắp tới của ông Tập và ông Obama sẽ làm rõ hơn quan hệ Trung-Việt (đang xấu đi) và quan hệ Mỹ-Việt (đang tốt lên). Dù tốt lên hay xấu đi, thì chuyển động trong quan hệ tay ba này đang định hình lại bức tranh địa chính trị tại Biển Đông, và tác động đến quá trình cởi mở chính trị tại Việt Nam. Bởi vì sự trỗi dậy đầy thách thức của Trung Quốc đang đe dọa an ninh khu vực Đông Á, nên Nhật Bản và các nước khác buộc phải chạy đua vũ trang và liên kết chặt chẽ hơn với Mỹ, trong một trò chơi quyền lực đầy nguy hiểm.

Biển Đông không của riêng ai

Trước chuyến thăm Mỹ của ông Tập Cận Bình, có một số diễn biến đáng lưu ý. Trong khi thái độ của Washington muốn hòa hoãn (để tránh đối đầu) thì thái độ của Bắc Kinh lại càng cứng rắn. Trung Quốc không hề giảm nhịp độ xây dựng sân bay và hạ tầng quân sự trên các đảo nhân tạo tại Biển Đông, bất chấp phản đối của Mỹ và các nước khác. Những hình ảnh vệ tinh mà CSIS cung cấp kịp thời (trong khi ông Tập thăm Mỹ) đã chứng minh rõ.  



Trước đó Bắc kinh còn cho 5 tàu chiến đến ngoài khơi Alaska (nơi tổng thống Obama đang đến thăm) để thách thức và thử gân ông Obama. Máy bay chiến đấu của Trung Quốc đã bay ngang chặn đường máy bay trinh sát của Mỹ trên không phận biển Hoa Đông. Cả hai lần Nhà Trắng đã lờ đi không muốn làm to chuyện. Cho đến gần đây, Nhà Trắng vẫn chưa cho Bộ Quốc Phòng điều tàu chiến đến tuần tiễu (để khẳng định quyền tự do hàng hải) trong phạm vi 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đang xây hạ tầng quân sự, vì ông Obama không muốn gây ra sự cố nào trước chuyến thăm của ông Tập Cận Bình.  

Nhưng thái độ hòa hoãn của Washington có thể phản tác dụng. Thứ nhất, nó có thể làm cho đồng minh và bạn bè hoang mang, mất lòng tin vào Mỹ. Lãnh đạo Hà Nội đã bị ám ảnh bởi mối lo Trung Quốc và Mỹ có thể “đi đêm” thỏa thuận ngầm với nhau sau lưng Việt Nam. (Điều này đã từng xảy ra trong quá khứ). Thứ hai, nó có thể làm cho Bắc Kinh ngộ nhận rằng ông Obama mềm yếu không dám hành động (vì sắp hết nhiệm kỳ), nên Bắc Kinh càng tranh thủ cơ hội để lấn sân và biến những gì còn đang tranh chấp thành chuyện đã rồi.  



Vì vậy, tại buổi họp báo chung ở Nhà Trắng (25/9/2015) trước mặt tổng thống Obama và giới truyền thông quốc tế, ông Tập không ngần ngại lên tiếng khẳng địnhCác quần đảo ở Nam Hải từ thời cổ đại là lãnh thổ của Trung Hoa”. Thái độ ngang ngược bất chấp luật pháp này tự mâu thuẫn với bài diễn văn ông Tập đọc tại LHQ ngay sau đó, với những lời lẽ hoa mỹ, “Những nước lớn, mạnh, giàu không nên hiếp đáp các nước nhỏ, nghèo và yếu”.

Bà Clinton nói không oan rằng ông Tập “đạo đức giả” và “không biết xấu hổ” (shameless) khi đề cập đến vấn đề nữ quyền. Về vấn đề Biển Đông cũng như vậy. Thái độ hai mặt (nói một đằng làm một nẻo) là một “đặc sản Trung Hoa” (Chinese exceptionalism). 

Trong quan hệ với Việt Nam, Trung Quốc luôn ngạo mạn và bắt nạt (như thiên triều đối với chư hầu). Ví dụ, gần đây Bắc Kinh ngầm dọa Hà Nội là nếu không thôi chỉ trích Trung Quốc xây đảo nhân tạo tại Biển Đông, thì ông Tập Cận Bình có thể bỏ chuyến đi thăm Việt Nam vào tháng này (mặc dù họ biết nếu bỏ sẽ bất lợi cho TQ). Họ còn nói nhỏ với lãnh đạo Việt Nam là họ không muốn ngoại trưởng Phạm Bình Minh được vào Bộ Chính Trị. 




Chính thái độ và cách hành xử đó của Trung Quốc đang xô đẩy Việt Nam càng gần hơn với  Mỹ. Dường như Trung Quốc vẫn chưa học được bài học Miến Điện. Có thể nói quá trình “Miến Điện hóa” (Myanmarization) đang diễn ra trong quan hệ Trung-Việt. Trên thực tế, quá trình “Thoát Trung” đã được đẩy mạnh kể từ khi Trung Quốc đem dàn khoan HD-981 vào Biển Đông, gây sốc và làm vỡ mộng cả những người thân Trung Quốc trong lãnh đạo Hà Nội. Đó là một bước ngoặt lớn, với một “hệ quả không định trước” (unintended consequence)

Thoát Trung như thế nào

Muốn “Thoát Trung” thì trước hết phải thoát ra khỏi “cái bẫy ý thức hệ” (ideological trap) đã trói buộc số phận Việt Nam với Trung Quốc mấy thập kỷ nay (đặc biệt là sau Thỏa thuận hành Đô, 1990); phải thoát ra khỏi “cái bẫy lệ thuộc kinh tế” (economic dependency trap). Muốn thoát về kinh tế thì tự mình phải mạnh lên bằng cách thay đổi thể chế, và liên kết kinh tế với Mỹ-Nhật, thông qua sân chơi TPP (đã thỏa thuận) và Tầm nhìn Đông Á (chưa thể chế hóa).

Nếu Việt Nam tiếp tục đi với Trung Quốc thì phải lệ thuộc và nghe theo Trung Quốc, không được chơi với Mỹ và Phương Tây (họ dùng chiêu bài “diễn biến hòa bình” để dọa); không được dân chủ hóa mà phải duy trì chế độ độc tài, độc đảng (giống như Trung Quốc); và không được dùng ASEAN làm đối trọng với Trung Quốc tại Biển Đông…

Nếu đi với Mỹ thì Việt Nam vẫn có thể chơi với Trung Quốc (nhưng bình đẳng và độc lập hơn); Việt Nam không cần phải thay đổi chế độ (nhưng phải dân chủ hóa); Việt Nam sẽ có vai trò và lợi ích lớn hơn trong ASEAN và Đông Á (với sân chơi mới TPP). Đi với Mỹ không có nghĩa là để chống Trung Quốc, mà chỉ để “Tái cân bằng” một quan hệ “mất cân bằng”.

Muốn hay không, quá trình này đang diễn ra rồi. Hà Nội không có nhiều sự lựa chọn. Cánh cửa cơ hội có thể mở ra, có thể khép lại. Thời cơ và thời điểm là rất hệ trọng. Hà Nội đã từng đánh mất những thời cơ vàng vào những thời điểm hệ trọng đối với vận mệnh quốc gia. Từ nay đến cuối năm 2015 là một thời cơ và thời điểm như vậy. Liệu lịch sử có lặp lại hay không, và Việt Nam có đánh mất cơ hội một lần nữa hay không?

Tại lề Đại Hội đồng LHQ ở New York (28/9/2015) chủ tịch Trương Tấn Sang đã lên tiếng đáp lại tuyên bố ngang ngược của ông Tập Cận Bình, khẳng định hành động xây đảo nhân tạo của Trung Quốc ở Biển Đông là vi phạm luật pháp quốc tế và ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh và an toàn hàng hải. Đây là một dấu hiệu chuyển biến tích cực mới của lãnh đạo Hà Nội, ngay sau khi ông Obama gặp ông Tập Cận Bình (25/9/2015). Có lẽ lãnh đạo Hà Nội đã thở phào vì thấy Mỹ đã không “đi đêm” với Trung Quốc (như Hà Nội vẫn lo sợ).  

Tiếp theo chuyến thăm Mỹ chính thức của chủ tịch Trương Tấn Sang (24-26/7/2013) và của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng (6-10/7/2015), có lẽ chuyến thăm Mỹ lần này của ông Tập Cận Bình đã góp phần thúc đẩy Mỹ và Việt Nam xích lại gần nhau hơn. Điều đáng nói là không phải chỉ có phái cải cách, mà cả phái bảo thủ cũng đang chuyển thái độ. Trong bối cảnh hiện nay, hãy ủng hộ xu hướng nào đỡ xấu hơn cho đất nước. Đây là lúc các bên nên dẹp bớt ân oán để hợp tác, từng bước thay đổi thực trạng, đặt lợi ích dân tộc lên trên lợi ích cá nhân và phe nhóm, trước nguy cơ mất hết chủ quyền biển đảo và Bắc thuộc.    

Hình như lãnh đạo Hà Nội đã tự tin hơn, quyết định họp Hội nghị Trung Ương 12 sớm hơn dự kiến, để bàn về nhân sự cho Đại hội (mà không chờ ông Tập Cận Bình sang thăm). Tuy quyết định cuối cùng về 4 vị trí cao nhất (còn gọi là “Tứ Trụ”) vẫn chưa ngã ngũ, phải chờ đến Hội nghị Trung Ương chót (phút 89), nhưng dù dàn xếp thế nào thì xu hướng đã khá rõ. So sánh thực lực sẽ thấy dù có phải thỏa hiệp, thủ tướng sẽ thâu tóm thực quyền. Tuy còn nhiều đồn đại, hỏa mù, hay bất ngờ vào phút chót, nhưng xu hướng này khó lòng đảo ngược.  

Một dấu hiệu mới là chỉ vài ngày sau khi kết thúc cuộc gặp Tập Cận Bình và Obama, báo chí nhà nước đã đưa tin Tòa án nhân dân Hà Nội công khai xét xử vụ một nhà báo bị truy tố về tội danh “làm gián điệp” (có liên quan đến cơ quan tình báo Trung Quốc). Tuy còn những dấu hiệu khác, nhưng đó là một dấu hiệu rõ ràng nhất (mà trước đây không thể có).

Đồng sàng dị mộng

Trên thực tế, chuyến thăm Mỹ của ông Tập Cận Bình có ba mục tiêu chính, mục tiêu nào cũng quan trọng, nhưng kết quả có thể khác nhau. Thứ nhất là đến Seattle nơi ông Tập gặp 15 CEO của các công ty công nghệ hàng đầu của Mỹ (Business Summit). Thứ hai là đến Washington DC nơi ông Tập gặp tổng thống Obama (Political Summit). Thứ ba là đến New York nơi ông Tập phát biểu tại Đại Hội đồng LHQ (UN Summit).  

Đáng lưu ý là chương trình tại Seattle do Paulson Institute bố trí. Ông Hank Paulson là cựu chủ tịch Golman Sach trước khi làm bộ trưởng tài chính (thời chính quyền Bush). Ông Paulson và các đồng nghiệp phố Wall đã từng giúp Trung Quốc cải tổ hệ thống ngân hàng (như mua 10% Bank of China và giúp niêm yết trên sàn chứng khoán HK). Có thể nói Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới là nhờ một phần vào sự hợp tác và tiếp tay của giới kinh doanh Mỹ. Nay muốn tháo gỡ khó khăn kinh tế, hai bên tiếp tục phụ thuộc lẫn nhau (dù muốn hay không) như một “cái bẫy” kinh tế (co-dependancy trap).  

 

 Hợp tác Trung-Mỹ là một đám cưới do tiện lợi (marriage of convenience) chứ không phải do tình yêu (vì hai chế độ rất khác biệt), vì vậy nó không thể lâu bền. Người Mỹ hy vọng cứ làm ăn với nhau (theo lộ trình “constructive engagement”) rồi người Trung Quốc sẽ dần thay đổi (như kinh nghiệm với người Nhật). Nhưng đến nay người Mỹ bắt đầu thất vọng, vì không hiểu được người Trung Quốc (lại càng không hiểu được ông Tập Cận Bình là ai).

Chính người Mỹ đã hợp tác đắc lực giúp ông Tập Cận Bình đối phó với các đối thủ chính trị như Bạc Hy Lai và Chu Vĩnh Khang (được Giang Trạch Dân hậu thuẫn), qua vụ Vương Lập Quân chạy vào lãnh sự quán Mỹ tại Thành Đô (7/2/2012), đem theo nhiều bí mật quốc gia. Người Mỹ đã cộng tác với ông Tập không phải chỉ về kinh tế, mà cả an ninh chính trị (trao hết bí mật đó cho ông Tập). Ông Tập không thể thoát hiểm để mạnh tay “đả hổ diệt ruồi” nếu không có người Mỹ hỗ trợ. Thế mà hai bên vẫn không hiểu nhau thì đúng là “đồng sàng dị mộng”.

Người ta ví ông Obama và ông Tập Cận Bình đối thoại với nhau như hai người máy được vận hành bởi hai hệ điều hành khác hẳn nhau. Đến bây giờ người Mỹ mới nhận ra điều này có lẽ là quá muộn và hơi ngây thơ. Ngay từ năm 1995, ông Nixon trước khi qua đời đã thừa nhận một sự thật trần trụi, “Có lẽ chúng ta đã tạo ra một con quái vật Frankenstein”.  

Tuy chủ trương “tham dự có tính chất xây dựng” (constructive engagement) vẫn còn đất sống, nhưng nó bị chỉ trích ngày càng nhiều và đang được thay thế bằng chủ trương “xoay trục sang Châu Á” hay “tái cân bằng chiến lược” (strategic rebalancing), với nội hàm là “ngăn chặn Trung Quốc” (containing China). Nhưng vì Mỹ và Trung Quốc bị mắc kẹt trong “cái bẫy” phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, nên quan hệ Trung-Mỹ đầy mâu thuẫn và nan giải. Cuộc hôn nhân vụ lợi có thể dẫn đến kết cục đổ vỡ một cách đau đớn. Điều đáng chú ý là khi hai con voi làm tình hay đánh nhau, những kẻ yếu hơn bên cạnh phải rất thận trọng.   

Xu hướng đang diễn ra ở cả Mỹ và Trung Quốc là người ta chỉ chú ý đến những yếu tố tiêu cực chứ không còn quan tâm đến những yếu tố tích cực trong quan hệ hai nước. Đà suy thoái trong quan hệ đối tác giữa hai nước lớn này rất đáng lo ngại, nhưng những bế tắc không được tháo gỡ trong dịp gặp cấp cao vừa qua. Trong chính quyền cũng như trong quốc hội, người ta đang tìm lý do để trả đũa Trung Quốc, trong vấn đề thâm hụt cán cân thương mại (mỗi ngày một tỷ USD) cũng như vấn đề tấn công mạng (cyber hacking).
Không biết ông Kissinger có tính trước được hệ quả này hay không, nhưng cái bóng dài của ông ta vẫn còn phủ lên chính sách Trung Quốc của Mỹ. Mỗi khi đề cập đến Trung Quốc, không thể thiếu được ông Kissinger (như là “bố già”). Điều này được minh họa bằng tấm hình chụp ngoại trưởng John Kerry phát biểu trong bữa tiệc chiêu đãi ông Tập Cận Bình, trong đó “bố già” Kissinger ngồi hàng ghế đầu như một cây đại thụ. 

 Mỹ-Trung, Trung-Mỹ, chính hai ông lớn này đang ở hồi "gay gắt" nhất trong phân chia ảnh hưởng cả vùng biển Đông Nam Á (Biển Đông) và vùng biển Hoa Đông. (Hải quân Trung Quốc, ảnh trên; và ảnh dưới Hải quân Hoa Kỳ).

 Kết quả của “business summit” tại Seattle phản ánh hai sự thật khác nhau về quan hệ Trung-Mỹ. Một là, hai bên vẫn cần nhau (vì cái bẫy kinh tế). Hai là, hai bên không thể nói chuyện được với nhau (vì hai hệ điều hành khác hẳn nhau). Hai bên đã có một cơ hội tuyệt vời để đối thoại một cách cởi mở và xây dựng (do sự dàn xếp khéo léo của ông Hank Paulson). Nhưng ông Tập đã không tận dụng được cơ hội này. Trong khi 15 CEO Mỹ (đại diện cho $2.5 trillion tài sản) đến dự và tưởng sẽ được đối thoại cởi mở, thì ông Tập chỉ bắt tay, chụp ảnh kỷ niệm, đọc một bài diễn văn 10 phút, rồi…phắn! Chắc ông Hank Paulson rất buồn.

Cuộc gặp “thượng đỉnh” giữa tổng thống Barack Obama và chủ tịch Tập Cận Bình (đại diện hai cường quốc mạnh nhất hành tinh) mà hai bên trông đợi và chuẩn bị rất công phu, cũng không giải quyết được bế tắc nào. Nó giống như một màn kịch được dàn dựng công phu nhưng kết thúc bằng “anti-climax” (không bên nào “lên đỉnh”).    

Tại LHQ, ông Tập Cận Bình đã diễn xuất một cách khá ấn tượng bằng những lời hoa mỹ trong một bài diễn văn rất mỵ dân, và bằng một kiểu ngoại giao “ký séc” (checkbook diplomacy) mà trước đây người Nhật đã nổi tiếng. Ông Tập đã cam kết đóng góp 1 tỷ USD cho quỹ phát triển TQ-LHQ (China-US Development Fund), 100 triệu USD cho African Union để ứng phó với các trường hợp khẩn cấp, và 8000 quân cho lực lượng gìn giữ hòa bình LHQ…

Chính sách ngoại giao dùng tiền để mua chuộc lòng người và xây dựng uy tín quốc tế vẫn còn tác dụng trong một thế giới đang khủng hoảng kinh tế. Nhưng về lâu dài, dùng tiền và sức mạnh để mua chuộc lòng người (charm offensive) không hiệu quả. Hiện nay, Trung Quốc có rất nhiều tiền và sức mạnh cứng, nhưng lại thiếu sức mạnh mềm. Tại sao 64% người Trung Quốc có tài sản trên 1,6 triệu USD đã hoặc đang định di cư khỏi Trung Quốc? (Elizabeth Economy). Xu hướng này là “gót chân Asin” của Trung Quốc.

Khi mặt trời mọc lại

Có hai sự kiện sẽ đi vào lịch sử như bước ngoặt làm thay đổi cục diện địa chính trị tại khu vực Đông Bắc Á và Đông Nam Á. Thứ nhất là Trung Quốc biến tranh chấp quần đảo Điếu Ngư (Senkaku islands) thành khủng hoảng quan hệ Trung-Nhật, áp đặt “khu vực nhận diện phòng không” (ADIZ) tại biển Hoa Đông (23/11/2013). Thứ hai là Trung Quốc đặt dàn khoan HD-981 tại vùng lãnh hải của Việt Nam tại Biển Đông (1/5/2014), xây đảo nhân tạo và hạ tầng quân sự,  gây ra khủng hoảng quan hệ Trung-Việt và xung đột lợi ích Trung-Mỹ.  

Hệ quả của các hành động vũ đoán này của Trung Quốc dường như không thể tính trước được (unintended consequence). Có lẽ Trung Quốc không hề muốn thúc đẩy Nhật Bản sửa đổi hiến pháp (điều 9) để tái vũ trang, và cũng không định xô đẩy Việt Nam trở thành đồng minh của Mỹ. Trước đây, nhắc đến Nhật Bản tái vũ trang và quân sự hóa là một điều cấm kỵ, không những đối với các nước láng giềng, mà còn đối với cử tri Nhật. Không một chính khách Nhật nào dám cả gan và dại dột như vậy, vì điều đó đồng nghĩa với tự sát chính trị.

Nhưng nay chính điều đó đang diễn ra, biến điều không thể thành có thể, biến điều cấm kỵ thành chính đáng và được hoan nghênh. Tuy còn nhiều người phản đối, nhưng thủ tướng Abe sẽ đi vào lịch sử là thủ tướng đầu tiên của Nhật từ sau Đại chiến II đã làm được một điều phi thường là sửa đổi (điều 9) Hiến pháp để mở đường cho Nhật trở thành cường quốc quân sự ở Đông Á. Tuy đây là một ác mộng đối với Trung Quốc, nhưng chính sự đe dọa của Trung Quốc mới làm được điều này. Có lẽ người Nhật phải cám ơn người Trung Quốc đã tháo xích cho nước Nhật.  



Nhưng có một lý do nữa đã thúc đẩy người Nhật ủng hộ ông Abe trong quá trình sửa đổi hiến pháp, đó chính là “tiếng kèn ngập ngừng” của người Mỹ. Mặc dù chính quyền Obama nhận thức được sự trỗi dậy đầy thách thức của Trung Quốc đang đe dọa lợi ích của Mỹ và đồng minh ở Đông Á, và đang triển khai chính sách “xoay trục sang Châu Á” để cân bằng chiến lược và ngăn chặn Trung Quốc, nhưng hành động của Mỹ lại ngập ngừng, thiếu nhất quán, làm đồng minh lo ngại. Đã đến lúc người Nhật phải tự lo cho mình và khu vực.

Trong khi một số nước trong khu vực sợ cái gậy (hay cần củ cà rốt) của Trung Quốc, nên phải có thái độ hai mặt, thì một số nước khác đẩy mạnh tái vũ trang và thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ để làm đối trọng với Trung Quốc. Vì ASEAN yếu và chia rẽ trước sự thao túng của Trung Quốc, nên cần một cơ chế an ninh tập thể mới ở Đông Á, trong đó Nhật Bản là nước có vai trò đầu tàu. Nói cách khác, vì Trung Quốc thì đe dọa và Mỹ thì ngập ngừng, làm Nhật lo ngại và bức xúc, nên mặt trời Nhật đang mọc lại ở Đông Á.

Trong bối cảnh đó, tam giác Mỹ-Trung-Việt càng trở nên quan trọng, không những ở Biển Đông mà còn ở cả khu vực Đông Á. Muốn Tam giác Mỹ-Trung-Việt chuyển đổi theo hướng tích cực (Mỹ-Việt gần nhau hơn) để duy trì an ninh khu vực, thì cần sự hỗ trợ của một cơ chế an ninh tập thể mới ở Đông Á hiệu quả hơn ASEAN. Cơ chế này có thể bao gồm 5 nước thành viên nòng cốt (Japan, Korea, Vietnam, the Philippines, Indonesia) và 3 đối tác chiến lược (America, Australia, India) để hình thành một cơ chế mở: “5+3 security partnerships”.

Hãy cùng xoay trục

Muốn “xoay trục” để thoát Trung và tái cân bằng quan hệ với các nước lớn, Việt Nam phải dựa vào một liên minh mới do Mỹ-Nhật đứng đầu tại Đông Á, để làm đối trọng với Trung Quốc. Vai trò của Nhật tại Đông Á sẽ ngày càng quan trọng, không những về hợp tác kinh tế, mà còn về hợp tác an ninh khu vực. Quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ-Nhật sẽ dựa trên khuân khổ TPP cũng như cơ chế an ninh tập thể Đông Á. Đáng mừng là TPP đã đạt được thỏa thuận đúng lúc như một phao cứu hộ cho chiến lược “Asian Pivot” đang bị chững lại (tuy TPP chưa chắc đã phải là cứu cánh cho kinh tế Mỹ hay Việt Nam trong ngắn hạn).  

Đã đến lúc Việt Nam phải xem xét lại chính sách ngoại giao “3 không”, vì không thể làm vừa lòng tất cả các bên (nhất là Trung Quốc). Một trong những vấn đề nổi cộm là vai trò của quân cảng Cam Ranh. Đối với Philippines, thì quân cảng Subic trở thành một điểm tựa quan trọng trong chiến lược xoay trục sang châu Á và tái cân bằng lợi ích an ninh của Mỹ. Đối với Việt nam, thì quân cảng Cam Ranh cũng có ý nghĩa tương tự như vậy.


 Một điều kiện tiên quyết để trở thành đối tác chiến lược với Mỹ và tham gia sân chơi TPP là cải thiện hồ sơ nhân quyền. Đây vừa là thỏa hiệp trước mắt theo “luật chơi” (the rule of engagement) vừa là mục tiêu phát triển lâu dài của một quốc gia tiến bộ. Nếu trì hoãn việc cải thiện vấn đề nhân quyền và pháp quyền (the rule of law) Việt Nam có thể tự cản trở quá trình hợp tác chiến lược với Mỹ và dẫn đến hậu quả đáng tiếc nếu xung đột Trung-Việt xảy ra ngoài ý muốn. Các chuyên gia quân sự cảnh báo “giai đoạn cuối 2016 và đầu 2017 là thời cơ tốt nhất để Trung Quốc chiếm toàn bộ phần còn lại của Trường Sa” (Joshure Kurlantzick).
Trong cuộc họp báo chung với ông Tập Cận bình tại Nhà Trắng (25/9/2015) tổng thống Obama đã bày tỏ “lo ngại lớn về việc lấn biển, xây dựng và quân sự hóa khu vực tranh chấp” và nhấn mạnh là Hoa Kỳ sẽ “tiếp tục dùng tàu thủy và máy bay đi qua và hoạt động ở bất cứ nơi nào mà công pháp quốc tế cho phép.” Nhưng nếu ông Obama không biến tuyên bố thành hành động, thì sẽ mất uy tín với đồng minh, và bị lãnh đạo Trung Quốc qua mặt. 
 
Theo Foreign Policy (2/10/2015) Bộ Quốc phòng Mỹ đã thúc giục Nhà Trắng bật đèn xanh cho chiến dịch “tuần tra vì quyền tự do lưu thông trên biển”, nhưng chưa được chấp thuận. Một lý do khiến ông Obama dè dặt là không muốn gây căng thẳng trước chuyến thăm của ông Tập, trong khi hai nước đang có bất đồng nghiêm trọng. Nhưng sau chuyến thăm của ông Tập, chính quyền Obama tỏ ra thất vọng và đang xúc tiến các biện pháp cứng rắn hơn đối với Trung Quốc.

Theo ABC Australia (6/10/2015), Đô đốc Scott Swift (Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương) đã khẳng định tại Sydney (Pacific 2015 Expo), “hơn bao giờ hết, Hoa Kỳ kiên quyết duy trì cam kết sẽ bảo vệ quyền tự do hàng hải” và “Tự do hàng hải phải được duy trì bất chấp những tranh chấp chủ quyền biển đảo, bất chấp những vụ tranh chấp này kéo dài bao lâu và bất chấp các đảo này là do thiên nhiên tạo ra hay bàn tay con người tạo ra.”

Theo Financial Times (8/10/2015) Mỹ sắp cho tàu chiến đến gần các hòn đảo nhân tạo của Trung quốc ở Biển Đông. Một quan chức Mỹ nói rằng các tàu chiến này sẽ đi vào bên trong khu vực 12 hải lý mà Trung Quốc nói là lãnh hải của họ quanh những hòn đảo nhân tạo mà họ đã xây dựng ở Quần đảo Trường Sa, và việc này sẽ bắt đầu trong vòng hai tuần nữa…


Căn cứ vào Công ước LHQ về Luật Biển, thì 4 bãi ngầm Ga Ven (Gaven), Tư Nghĩa (Hughes), Vành Khăn (Mischief), Xu Bi (Subi) trước lúc tôn tạo, thuộc diện “bãi cạn lúc chìm lúc nổi” (Low-tide elevations), nên chỉ được quyền có hải phận 50 mét bao quanh. Ba bãi còn lại là Đá Châu Viên (Cuarteron), Chữ Thập (Fiery Cross) và Gạc Ma (Johnson) được coi là “đảo đá” (rocks), có lãnh hải 12 hải lý, nhưng không có vùng đặc quyền kinh tế.

Theo báo Diplomat (4/10/2015), có thể Mỹ sẽ chọn phương án cho tàu chiến tiến sâu vào bên trong vùng 12 hải lý quanh các thực thể như Xu Bi và Vành Khăn (là bãi cạn lúc chìm lúc nổi trước lúc được bồi đắp), nên chỉ được phép tối đa có 50 mét bao quanh. Hãy chờ xem Mỹ triển khai “xoay trục” tại Biển Đông như thế nào để đối phó với Trung Quốc (trước khi quá muộn), và xem Trung Quốc sẽ phản ứng ra sao (như một phép thử). 

Không biết diễn biến trên Biển Đông có ảnh hưởng đến kế hoạch thăm Việt Nam vào cuối năm nay của ông Tập Cận Bình và ông Barack Obama hay không. Dù kế hoạch thăm Việt Nam của họ có thay đổi vì lý do gì đi nữa, thì cũng không làm thay đổi đáng kể xu hướng đang diễn ra trong tam giác Mỹ-Trung-Việt, cũng như trong bức tranh chính trị Việt Nam. Bởi vì thỏa thuận TPP đang làm thay đổi cuộc chơi (a game changer), tình hình sẽ sáng sủa hơn (nếu Mỹ và Việt Nam cùng xoay trục). Theo quy luật, cái gì đã xấu hết mức rồi sẽ phải tốt dần lên.   

NQD. 16/10/2015