Thứ Hai, 7 tháng 6, 2021

Mỹ - Nga - Trung trong định hình trật tự thế giới mới

 Từ lâu nay 3 nước lớn Mỹ, Trung Quốc và Nga luôn tồn tại mối "liên hệ tay ba", nó dựa vào nhau và lợi dụng lẫn nhau nhằm chống hoặc cản trở với nước thứ 3 kia. 

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, được coi là thời kỳ chiến tranh lạnh kéo khá dài, mối quan hệ Nga - Trung Mỹ chủ yếu là liên minh Nga - Trung một bên và Mỹ một bên (thế giới 2 cực). Sau chiến tranh lạnh, thế giới bước vào toàn cầu hóa mối quan hệ tay 3 kia vận hành trong một tế giới đa cực, trong đó Mỹ hoăc Trung hoặc Nga đều có những lợi ích riêng, tính toán riêng, không còn liên kết 2 nước (Nga và Trung) chống lại Mỹ như thời kỳ trước.

Vào lúc này (từ 1972, nhất là từ 1977 khi Trung Quốc ngồi vào ghế Ủy viên thường trực Hội đồng Bao )do sự vươn lên mạnh mẽ của Trung Quốc (chính là do Mỹ "tạo điều kiện" cho quá trình này) nên sự đối đầu giữa 2 cường quốc này ngày càng tăng cao và sâu sắc, trong khi đó Nga yếu thế hơn (về kinh tế nhưng lại có quả đấm quan sự rất mạnh) nên lúc này Trung Quốc tìm cách liên kêt theo một cách mới. Hình thành lên liên minh tạm thời Nga - Trung cản mũi Mỹ. Song mặt khác, do thế mạnh dẫn đầu (nhìn chung) của Mỹ trên nhiều lĩnh vực nên Nga và Mỹ cũng biết cách quan hệ với nhau để giành lợi thế trước Trung Quốc. Tóm lại mối quan hệ tay 3 thời toàn cầu hóa này hết sức đa dạng và phức tạp trong một thế giới chuyển biến hết sức mạnh mẽ. 

Dưới đây là bài viết phân ích khá sâu sắc đăng trên tạp chí đối ngoại The Diplomat số đầu tháng 6/2021 vừa qua. Bản tiếng Việt đăng trên trang mạng Nghiên cứu Quốc tế.

-----     

Mỹ - Nga - Trung trong định hình trật tự thế giới mới

Từ khi Chiến tranh Lạnh nổ ra giữa thế kỷ 20, cục diện giữa ba nước lớn là Mỹ, Trung Quốc, Nga (Liên Xô trước đây) luôn đóng vai trò chi phối trật tự quan hệ quốc tế. Từ những năm Xô – Trung hòa thuận, cho tới thời khắc lịch sử Nixon tới Trung Quốc, quan hệ tay ba ấy luôn là hai nước này đi với nhau để chống nước kia.

Quan hệ ngày càng nồng ấm giữa Moscow và Bắc Kinh lúc này, như một cách ứng phó lại chính sách cạnh tranh chiến lược của Washington, cho thấy xu hướng cũ trong cục diện tay ba đang tiếp tục hiện hữu. Tuy nhiên, những đặc điểm mới ngày càng phức tạp đòi hỏi cần có thêm những đánh giá trước khi có thể đưa ra nhận định về quan hệ Mỹ – Trung – Nga.

Quan hệ Mỹ – Trung dường như đã rơi vào vòng xoáy cạnh tranh chiến lược không thể đảo ngược, “Chiến tranh Lạnh 2.0” đã trở thành khái niệm ngày càng phổ biến khi nhắc tới sự đối đầu giữa hai nước.

Tuy nhiên, trong khi một số đặc điểm của cạnh tranh chiến lược hiện đại khá tương đồng với Chiến tranh Lạnh của thế kỷ 20, kỷ nguyên toàn cầu hóa của thế kỷ 21 đồng nghĩa đối đầu Washington – Bắc Kinh không diễn ra trong trật tự hai cực, mà là trật tự thế giới đa cực. Trong bối cảnh ấy, lợi ích đan xen phức tạp giữa các nước sẽ ảnh hưởng tới gần như mọi khía cạnh của cuộc đối đầu.

Trong trật tự đa cực hiện nay, dù có sự nổi lên của Liên minh châu Âu, Ấn Độ, Nhật Bản hay một số nước khác, quyền lực chủ yếu vẫn tập trung vào bộ ba cũ, trong đó Mỹ và Trung Quốc ở hai cực. Cực còn lại thuộc về Nga.

Dù mô hình nhân khẩu học và sức mạnh kinh tế cho thấy Moscow không còn đủ sức duy trì vị thế siêu cường toàn cầu, kho vũ khí hạt nhân và sức mạnh quân sự của Nga, cùng chính sách ngoại giao quyết liệt và hiện diện ở nhiều điểm nóng toàn cầu vẫn giúp Điện Kremlin ngồi chung mâm với hai cực còn lại của bộ ba.

Liên kết Nga – Trung

Những năm gần đây, khi Mỹ gia tăng áp lực lên các đối thủ chiến lược, Nga và Trung Quốc cũng mở rộng hợp tác song phương giữa hai nước tại các cơ chế đa phương.

Bằng cách phối hợp chặt chẽ, Bắc Kinh và Moscow cùng nhau đối trọng lại ảnh hưởng của Washington tại các diễn đàn đa phương, cản trở một trật tự quốc tế do Mỹ dẫn dắt.

Tuần trước, trong cuộc điện đàm với Chủ nhiệm Văn phòng Ủy  ban Công tác Ủy ban Công tác đối ngoại Trung ương ĐCS Trung Quốc - ông Dương Khiết Trì, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã thốt lên rằng quan hệ song phương hai nước đang ở giai đoạn “tốt đẹp nhất trong lịch sử”.

Xu hướng này dĩ nhiên không bị các học giả cũng như giới hoạch định chính sách bỏ qua, đặc biệt ở Washington. Giới chức Mỹ, bất kể dưới thời Trump trước đây hay thời Biden hiện nay, thường xuyên báo động về mối liên kết ngày càng mật thiết giữa Nga và Trung Quốc.

Mới nhất, trong bản báo cáo có tên “Các xu hướng toàn cầu 2040”, cộng đồng tình báo Mỹ đánh giá Moscow và Bắc Kinh “nhiều khả năng tiếp tục liên kết” trong tương lai. Câu hỏi là liên kết này sẽ được duy trì theo cách nào?

Một mặt, liên kết Nga – Trung không nên bị coi chỉ có tính tạm thời, bất kể hai nước tồn tại những vấn đề chưa thể giải quyết. Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Nga và Trung Quốc dựa trên khuôn khổ hợp tác lâu đời, với một mục tiêu chiến lược rõ ràng đã tồn tại thông qua hai văn kiện có từ 1997 và 2001.

Chừng nào hai nước vẫn tiếp tục mâu thuẫn với Mỹ và phương Tây, họ sẽ vẫn có động lực vượt qua những tồn tại trong quá khứ, phối hợp thúc đẩy một trật tự quốc tế có lợi hơn.

Mặt khác, quan hệ đối tác này vẫn tồn tại những giới hạn. Dù chung mục tiêu chống lại Mỹ và trật tự quốc tế do phương Tây dẫn dắt, Nga và Trung Quốc không chia sẻ những lợi ích tương đồng để duy trì hợp tác tự nhiên, bền vững.

Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, sự khác biệt ngày càng thể hiện rõ giữa một bên là nền kinh tế đơn sơ, phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên của Nga, với bên kia là nền kinh tế đa dạng, hiện đại của Trung Quốc.

Một trong những lợi ích kinh tế song trùng lớn giữa hai nước là năng lượng. Nga cần một thị trường xuất khẩu ổn định để bù đắp thiệt hại vì bị phương Tây cấm vận. Trong khi đó, Bắc Kinh cần đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, tránh rủi ro trong cuộc chiến tranh thương mại với Mỹ.

Công bằng mà nói, dù Nga và Trung Quốc đang duy trì quan hệ bền vững và sâu rộng, độ bền liên kết giữa hai nước vẫn phụ thuộc vào chính sách của Mỹ.

Tờ báo nhà nước Trung Quốc Global Times mới đây thậm chí đánh giá quan hệ gần gũi giữa Nga và Trung Quốc là hệ quả từ hành vi chèn ép từ “Mỹ và các nước đồng minh chủ chốt”.

Vậy điều gì sẽ xảy ra khi “hành vi chèn ép” nói trên biến mất?

Không còn cục diện “hai chọi một”

Điều đáng lưu ý là, dù Nga và Trung Quốc đều có mâu thuẫn với Mỹ, không nước nào sẵn sàng đánh liều với nguy cơ đổ vỡ hoàn toàn quan hệ với nền kinh tế lớn nhất thế giới. Vào những thời điểm quan trọng, hợp tác với Mỹ luôn được ưu tiên.

Bằng chứng là những sự kiện như Mỹ mở đường cho Trung Quốc gia nhập WTO năm 2001, hay khi chính quyền Barack Obama – Dmitry Medvedev thúc đẩy tái khởi động quan hệ giai đoạn 2009-2011, những lúc ấy, quan hệ song phương Moscow – Bắc Kinh dường như trở thành thứ yếu.

Cho đến tận ngày nay, tâm lý bài Hoa, bài Nga, cùng nhận thức về mối đe dọa từ hai nước này nhắm vào vị thế siêu cường của Mỹ, đã dẫn đến chính sách cạnh tranh chiến lược của Washington với cả Moscow và Bắc Kinh.

Nhưng cạnh tranh chiến lược trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay có những khác biệt cơ bản với cuộc đối đầu mang tính một mất một còn trong Chiến tranh Lạnh, nơi các liên kết gần như đồng nghĩa với quan hệ liên minh.

Chính yếu tố này, cùng thực tế Mỹ không đủ nguồn lực cần thiết để xung đột toàn diện với đồng thời cả Nga và Trung Quốc, là lý do Washington không loại bỏ hoàn toàn hợp tác với hai đối thủ.

Tuy nhiên, bởi Trung Quốc ngày càng vươn lên trở thành đối thủ về hệ thống chính trị – xã hội với Mỹ, chính quyền Tổng thống Joe Biden hiện ưu tiên hợp tác với Moscow trong lĩnh vực mà hai bên có lợi ích chung.

Những chính sách cứng rắn với Nga vẫn còn đó, nhưng phần lớn chỉ còn mang tính biểu tượng, chủ yếu để thỏa mãn những lực lượng chống Moscow trong nội bộ Mỹ.

Hai bên đã đạt được những kết quả thực sự trong hợp tác song phương, như việc gia hạn hiệp định kiểm soát vũ khí New START, hay cuộc điện đàm sớm được tổ chức giữa lãnh đạo hai nước sau khi ông Biden nhậm chức, cũng như việc Mỹ không trừng phạt đường ống dẫn khí đốt Nord Stream 2 từ Nga sang châu Âu.

Tất cả những thành tựu ấy cho thấy một mục tiêu bao quát Washington theo đuổi, như Ngoại trưởng Antony Blinken miêu tả, là “mối quan hệ ổn định và dễ đoán hơn” với Nga.

Lúc này, động lực trong quan hệ tay ba đang diễn ra theo chiều hướng rất đáng chú ý. Trong khi cạnh tranh Mỹ – Trung là cục diện dường như không thể thay đổi, cả hai đều tìm cách lôi kéo Nga.

Mỹ tiếp tục tập hợp các đồng minh và đối tác quanh một trật tự thế giới dựa trên luật lệ, với Trung Quốc và Nga đóng vai “phản diện”. Trong cục diện ấy, Bắc Kinh có nhiều lợi thế hơn để lôi kéo Moscow.

Dù vậy, Mỹ vẫn nắm trong tay những con bài có thể sử dụng trong quan hệ với Nga, mà đáng chú ý nhất là ảnh hưởng của Washington ở châu Âu – vũ đài có lẽ là quan trọng nhất trong chính sách đối ngoại của Điện Kremlin.

Nói cách khác, động lực quan hệ giữa ba nước lúc này không phải là “hai chọi một”, thế trận dường như thiên về hướng “một chọi một” giữa Mỹ và Trung Quốc, cộng với sự hiện diện của Nga song hành cùng đối đầu ấy.

Không giống như những liên minh bền chặt của Chiến tranh Lạnh, những liên kết trong thời hiện đại cho phép các quốc gia linh hoạt hơn.

Vì thế Nga lúc này có quyền lựa chọn vị trí phù hợp, đồng thời làm việc với cả Mỹ và Trung Quốc, thay vì bị bó buộc đứng hẳn về một phe như Trung Quốc trong Chiến tranh Lạnh.

Hai hằng số, một biến số

Trong xu thế toàn cầu hóa ổn định, cùng chênh lệch sức mạnh ngày càng gia tăng giữa Mỹ – Trung so với Nga, hình hài hiện tại của quan hệ ba bên sẽ tiếp tục tồn tại trong những năm tới.

Mỹ và Trung Quốc, những siêu cường về sức mạnh tổng hợp mắc kẹt trong cuộc cạnh tranh chiến lược dài hạn, sẽ là “hằng số” của trật tự thế giới hiện đại. Trong khi đó, Nga chính là một “biến số”.

Moscow sẽ không tìm cách đối đầu với Washington hay Bắc Kinh. Thay vào đó, Nga sẽ tận dụng tối đa những đòn bẩy mà nước này có, khai thác cuộc đối đầu giữa hai siêu cường để thu được lợi ích cho mình.

Về phần mình, trong khi tập trung các nguồn lực cho cạnh tranh với Trung Quốc, Mỹ sẽ tìm cách ổn định quan hệ với Nga, giữ cho liên kết Moscow – Bắc Kinh ở mức có thể kiểm soát, đảm bảo Điện Kremlin không làm đảo lộn cân bằng quyền lực giữa bộ ba, cũng như tránh thay đổi trật tự thế giới.

Hội nghị thượng đỉnh giữa Tổng thống Biden và người đồng cấp Putin tới đây sẽ là cơ hội để Washington đặt ra những điều kiện rõ ràng cho quan hệ hợp tác với Nga, vừa không khiến các đồng minh châu Âu bối rối, vừa giữ nguyên các thông điệp tổng thể từ trước đến nay của Washington trong quan hệ với Moscow.

Tương tự, Trung Quốc sẽ tiếp tục tập trung vào cạnh tranh với Mỹ, đồng thời làm sâu sắc thêm quan hệ với Nga.

Bắc Kinh có thể thúc đẩy quan hệ gần gũi giữa hai nhà lãnh đạo, biến chúng thành những liên kết lợi ích mới, cũng như những nỗ lực chung chống lại Mỹ tại các diễn đàn đa phương. Thậm chí, Trung Quốc có thể đưa ra những sáng kiến kinh tế hấp dẫn để dần lôi kéo Nga vào quỹ đạo của mình.

Mặt khác, Bắc Kinh sẽ không tìm cách đối đầu trực diện với Washington, thay vào đó là theo đuổi hợp tác trong các vấn đề toàn cầu như biến đổi khí hậu, Covid-19, hay chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt.

Với Nga, điều then chốt là tiếp tục duy trì vị trí của nước này trong thế cục giữa bộ ba, bất chấp ngày càng bị bỏ xa về kinh tế. Điều này đồng nghĩa Moscow phải tận dụng vị thế “biến số” của mình trong tương tác với hai cực còn lại, khiến Bắc Kinh và Washington phải nhượng bộ.

Nhưng, lòng tự hào dân tộc vốn có, cùng sự thiếu vắng lòng tin chiến lược với Trung Quốc và Mỹ, sẽ hạn chế phạm vi hợp tác đặc biệt trong các không gian mà Nga coi là vùng ảnh hưởng truyền thống của nước này như Đông Âu hay Trung Á.

Tác động khu vực và toàn cầu

Về tổng thế, động lực trong cạnh tranh giữa ba cường quốc mang tới cả cơ hội và thách thức cho các quốc gia nhỏ và tầm trung.

Nếu quan hệ bộ ba được kiểm soát phù hợp, phát triển theo hướng dễ đoán định và hạn chế đối đầu, ba cường quốc sẽ tạo ra một môi trường thuận lợi để các nước bên ngoài đồng thời hợp tác với mỗi cực của bộ ba mà không phải luôn lo lắng quan sát thái độ của hai cực còn lại.

Mặt khác, nếu căng thẳng leo thang, đối đầu tiếp diễn, phá vỡ sự cân bằng của quan hệ bộ ba và đẩy cạnh tranh chiến lược thành cuộc chiến ý thức hệ, các quốc gia bên ngoài cuối cùng sẽ buộc phải chọn phe. Toàn cầu hóa nhiều khả năng sẽ không để kết quả này xảy ra, nhưng nguy cơ thì luôn hiện hữu và không thể bị xem nhẹ.

Trong khi châu Âu và Trung Đông sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng nổi bật với cả Trung Quốc, Mỹ và Nga, thì Ấn Độ – Thái Bình Dương đang nổi lên là vũ đài cho cạnh tranh giữa các cường quốc, đặc biệt khi xu thế xoay trục kinh tế và quân sự từ phương Tây sang phương Đông ngày càng rõ nét.

Đa phần các quốc gia trong khu vực đã từng là một phần trong các cuộc xung đột vũ trang giữa các cường quốc, một số nước thậm chí phải chống lại các cường quốc.

Dù mỗi nước có lợi ích riêng biệt, tất cả đều coi duy trì hòa bình là ưu tiên an ninh quốc gia. Vì thế, trong khi các nước hoan nghênh cạnh tranh nước lớn giúp Ấn Độ – Thái Bình Dương phát triển thịnh vượng hơn, không quốc gia nào muốn đánh đổi lại bằng an ninh và ổn định khu vực.

Bởi vậy, các quốc gia đều mong đợi quan hệ bộ ba phù hợp với lợi ích của khu vực. Điều này đồng nghĩa với tôn trọng các cơ chế khu vực như ASEAN, coi các quốc gia trong khu vực là những đối tác thực sự có chung lợi ích, thay vì con tốt địa chính trị, cũng như kiến tạo hơn nữa cho hòa bình, an ninh và thịnh vượng của khu vực.

Nếu bộ ba có thể kiềm chế cạnh tranh, đối đầu nhau trong khi chấp nhận lợi ích hợp pháp của các nước khác, tranh giành ảnh hưởng nhưng tạo điều kiện cho hợp tác vì lợi ích chung, khi đó cạnh tranh giữa các cường quốc sẽ là điều được khu vực đón nhận.

Nguồn: The Diplomat, 04/06/2021 (bài The Modern China-Russia-US Triangle)

Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

"HIỆN TƯỢNG TRUYỀN THÔNG" & GỢI Ý 1 CÁCH TIẾP CẬN MỚI...

 "HIỆN TƯỢNG TRUYỀN THÔNG" & GỢI Ý 1 CÁCH TIẾP CẬN MỚI...

Ai cũng biết trận chiến chống covid đang mạnh mẽ triển khai khắp toàn xã hội thì hiện tượng chờ tin, "hóng" tin từ một người đàn bà doanh nhân tỉnh Bình Dương cũng đang là một cơn sốt ngày càng tăng nhiệt.
Trên đây và dưới đây tôi sẽ không cần nói ra tên tuổi cụ thể của bà doanh nhân cũng như những người khác mà bà "bóc phốt" nhưng vẫn tin chắc thế giới mạng chúng ta đều biết rõ bà là ai, và những người mà bà nói đến là những ai rồi. Không nói ra tên tuổi cụ thể cũng là muốn câu chuyện bà doanh nhân phanh phui cái sai cái xấu, cái biến chất của con người và xã hội ở đây nên được hiểu khái quát, mang tính xu hướng chung, đáng được cộng đồng ủng hộ, hỗ trợ.
Quay lại sự việc. Thực ra sự việc lùm xùm này đã khởi nguồn từ vài ba tháng trước - với việc bà doanh nhân vạch trần sự bịp bợm trong chữa bệnh của một "thần y", đồng thời tố cáo vị lang vườn này lừa lọc gia đình bà doanh nhân này cả trăm tỉ đồng (200 tỉ như lời tố giác) mà bà muốn đòi lại sự đúng đắn và công bằng.
Nhưng phải sang đầu tháng 5 cho tới nay sự việc bà doanh nhân mỗi lần "lên sóng" là gây lên một hiệu ứng truyền thông ngày một mạnh dần lên Khán thính giả chờ đợi và rồi xem-nghe bà doanh nhân nói (bà đều thông báo trước). Rồi hàng chục hàng trăm facebooker, youtuber khắp nơi hưởng ứng, ăn theo nên độ phủ sóng, sức lan tỏa càng rộng rãi hơn lên rất nhiều.
Cần nhắc ở đây là khi sự việc mới đầu xảy ra, báo đài chính thống không nói gì tới việc này cả, coi như một "tranh chấp dân sự" giữa 2 cá nhân với nhau. Thế nhưng gần đây do dự luận dậy sóng, hơn nữa vấn đề trở nên "có tính xã hội", thậm chí động chạm đến các quy định, đến vi phạm pháp luật... thì chính báo chí có giấy phép của nhà nước đã đưa lên khá nhiều tin tức xung quanh vụ việc này.
Sự vụ như càng nóng và hấp dãn hơn lên khi bà doanh nhân đề cập, xới xáo tới những góc khuất, có chuyện động trời xung quanh giới showbiz Việt mà trong đó có nhiều ngôi sao sân khấu, ca sĩ, MC đình đám.
Càng "tưng bừng" hơn nữa khi bà doanh nhân vừa đây nêu lên chuyện tiền bạc huy động của các mạnh thường quân cả chục tỉ đồng để "cứu trợ bão lụt miền Trung" mà 6 tháng đã qua đi vẫn chưa giải ngân - một đề tài mà lâu nay vấn đề cứu trợ, vấn đề lá lành đùm lá rách, vấn đề đạo lý xung quanh chuyện những người nghèo, hộ nghèo bị thiệt hại vì thiên tai mà trong xã hội chúng ta luôn được sự lưu tâm bởi tính hết sức nhạy cảm của nó.
Vì những lẽ đó mà buổi livestream tối 25/5 của "hãng thông tấn" Đại Nam kia được biết có tới 500.000 người xem trực tiếp, có lẽ là một kỷ lục trên mạng xã hội youtube và facebook.
Nên nhớ đây chỉ là "đếm" trên số lượng của các tài khoản mạng xã hội chứ nhiều nơi người ta đâu chỉ "ngồi một mình" xem trên chiếc điện thoại cá lẻ mà đã mở nó trên Ipad với màn hình to, rồi laptop, rồi ti-vi... để cả nhà, cả nhóm cùng nhau xem (như tấm ảnh post kèm dưới đây).
Vì thế tôi cho rằng số liệu người theo dõi trực tiếp buổi livestream kia có thể còn cao hơn con số "nửa triệu" đã nêu.
VẬY LIỆU CÓ THỂ GỌI ĐÂY LÀ MỘT "HIỆN TƯỢNG TRUYỀN THÔNG" Ở TA ĐƯỢC HAY CHƯA?
Ngoài vài dòng tạm nhận định và đánh giá đó, với tư cách là một người từng nhiều năm làm báo, tôi chợt nghĩ về một "gợi ý khác".
Giá như năng lực thu hút quần chúng tới cả nghìn, cả vạn người như thế, lại với tài năng "bóc phốt", "bóc mẽ" đậm chất cá tính quyết liệt của bà doanh nhân kia nếu sau đây không chỉ giới hạn ở giới showbiz và mấy cá nhân bịp bợm hại người kia nữa mà nhà nước ta có cách nào đó gợi ý và "tạo điều kiện" cho bà doanh nhân chuyển qua các đề tài xã hội đáng quan tâm khác thì có tốt hơn không, có nên làm theo hướng mới này không?
Chẳng hạn như để bà doanh nhân tiếp tục đăng đàn như ít lây nay nhưng là hướng sang vạch mặt những thói tham ô, lãng phí, tham nhũng ngoài xã hội. Và rồi đến lượt cộng đồng, xã hội sẽ cùng người nói, người nêu lên đồng lòng "tấn công" vào những tiêu cực và tham nhũng thì chắc chắn sẽ rất hữu ích cho xã hội chúng ta (dĩ nhiên công việc vừa nói tới cần được bà doanh nhân này thuận lòng nhận làm).
Ý kiến các bạn ra sao?

Vinh Nguyen Van
(https://www.facebook.com/vinh.nguyenvan.165)

Thứ Tư, 12 tháng 5, 2021

Bỏ bảo hộ quyền sáng chế vaccine...?

Bỏ bảo hộ quyền sáng chế vaccine...?

 


NẾU SỰ BẢO HỘ SÁNG CHẾ VACCINE KHÔNG ÁP DỤNG NỮA?..., thì đó sẽ là niềm hy vọng cho nhiều quốc gia đang phòng chống dịch covid-19...

Bài viết dưới đây đăng trên trang điện tử Soha ngày hôm nay, 11/5/2021, đã nêu một vấn đề khá thú vị về quan hệ giữa sự từ bỏ "độc quyền" của Mỹ trong sáng chế, sản xuất vaccine, một điều có thể thắp lên tia hy vọng cho rất nhiều quốc gia. Họ đang chịu đựng bùng phát dịch mà không có, hoặc chưa có, có nghĩa là chưa có sức (tiền bạc, kỹ thuật) để tiếp cận được với nguồn vaccine ngừa covid-19. Đây sẽ là cơ hội cho họ có thể được tiêm vaccine...
Vinh Nguyen Van g-th
------
Bỏ bảo hộ quyền sáng chế vaccine, Mỹ sẽ giúp thế giới thoát khỏi đại dịch Covid-19?
Việc chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden ủng hộ từ bỏ bảo hộ quyền sáng chế đối với vaccine ngừa Covid-19 đã thắp lên hy vọng giúp các nước nghèo có thêm vaccine và đẩy nhanh quá trình chấm dứt đại dịch toàn cầu.
Ý kiến trái chiều về bảo hộ quyền sáng chế vaccine Covid-19


Khi chính quyền ông Biden vào tuần trước thông báo sẽ ủng hộ từ bỏ bảo hộ quyền sáng chế vaccine Covid-19 nhằm chống lại sự lây lan của dịch bệnh trên toàn cầu, Tổ chức chăm sóc sức khỏe toàn cầu (Global Health Advocates) ca ngợi động thái này có thể cứu sống nhiều người.
Tuy nhiên, cho đến nay, thông báo của Tổng thống Biden vẫn mới chỉ là một tuyên bố.
Các nhà lãnh đạo của một số quốc gia giàu có ở châu Âu đã phản đối việc nới lỏng bảo hộ quyền sáng chế vaccine Covid-19. Các chuyên gia y tế toàn cầu nói rằng, ngay cả khi từ bỏ bảo hộ quyền sáng chế vaccine, vẫn cần một lượng lớn viện trợ quốc tế để phân phối vaccine một cách hiệu quả.
Trước những cam kết mà ông Biden đưa ra với vai trò là một nhà lãnh đạo, chính quyền Mỹ hiện nay đang đối mặt với một thực tế u ám: Đó là không ai an toàn cho tới khi virus được kiểm soát ở mọi nơi. Vì thế, khi việc tiếp cận vaccine chủ yếu tập trung ở những nước giàu nhất, một giải pháp toàn cầu cho việc này vẫn còn xa vời.
“Chúng ta cần có một giải pháp toàn diện để đưa vaccine đến với một bộ phận dân số lớn trên toàn cầu”, Saad Omer, Giám đốc Viện Y tế Toàn cầu Yale cho biết.
Các nhà dịch tễ học đồng ý rằng, cho đến khi dịch Covid-19 được kiểm soát trên thế giới, các biến thể nguy hiểm sẽ tiếp tục phát triển ở nhiều khu vực. Điều này sẽ đe dọa người dân ở tất cả các quốc gia, kể cả những quốc gia mà người dân đã được tiêm chủng rộng rãi.
“Có một lý do nhân đạo để giúp đỡ thế giới, nhưng cũng có một lý do vị kỷ, vì chúng ta, đặc biệt là khi chúng ta biết có những biến thể sẽ xuất hiện. Đây là một loại virus không phân biệt biên giới”, Leana Wen, bác sĩ cấp cứu và giáo sư sức khỏe cộng đồng tại Đại học George Washington nói.
Katherine Tai, đại diện thương mại Mỹ, thông báo hôm 5/5 rằng, ông Biden sẽ ủng hộ việc từ bỏ bảo hộ quyền sáng chế các vaccine ngừa Covid-19.
“Đây là một cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu, điều kiện vô cùng bất thường của đại dịch Covid-19 cần phải có những biện pháp đặc biệt. Chính quyền tin tưởng mạnh mẽ vào các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nhưng để chấm dứt đại dịch này, chúng tôi ủng hộ việc từ bỏ các biện pháp bảo hộ đó đối với vaccine Covid-19”, bà Katherine Tai cho biết trong một tuyên bố ngày 5/5.
Một số nhà lãnh đạo châu Âu như Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và Thủ tướng Đức Angela Merkel đã phản đối động thái này, nói rằng các công ty dược phẩm của Mỹ phải xuất khẩu vaccine ra các nước trên thế giới với số lượng lớn, nhưng không nên từ bỏ bảo hộ quyền sáng chế vaccine. Đây là sự đồng thuận trước lập luận của các nhà sản xuất vaccine cho rằng, việc từ bỏ bản quyền vaccine sẽ đe dọa lợi nhuận của họ và giảm khuyến khích nghiên cứu trong tương lai.
Irwin Redlener, Giám đốc Sáng kiến ​​Nguồn lực và Ứng phó Đại dịch tại Viện Trái đất Đại học Columbia nói rằng, lập luận trên không có cơ sở, vì năm 2020 Mỹ đã đầu tư rất nhiều tiền vào việc nghiên cứu và phát triển vaccine Covid-19. Ông cũng chỉ ra thực tế vaccine đã mang lại hàng trăm triệu USD lợi nhuận cho các công ty Mỹ.
“Những nhà sản xuất này đã thành công và phần lớn chi phí phát triển do chính phủ Mỹ chi trả”, Tiến sĩ Irwin Redlener nói.
Bỏ bảo hộ quyền sáng chế vaccine có thực sự giúp chấm dứt đại dịch?
Tổng thống Biden luôn quy định rằng, ông sẽ đặt việc phân phối vaccine trong nước lên hàng đầu, chỉ giúp đỡ các quốc gia khác khi tất cả người Mỹ có cơ hội được tiêm chủng. Nhưng hiện tại, khi nhu cầu tiêm vaccine ở Mỹ giảm mạnh và một số bang thậm chí từ chối đề nghị của Nhà Trắng về việc cung cấp nhiều vaccine hơn.
Mỹ và một số quốc gia giàu có khác đã cung cấp hàng triệu liều vaccine cho các quốc gia có nhu cầu. Tuy nhiên, chỉ khoảng 1% lượng vaccine trên toàn thế giới đã đến tay người dân ở các nước nghèo và hầu hết dân số thế giới vẫn chưa được tiếp cận với vaccine Covid-19.



Ngày 5/5, một số người tụ tập ở Washington DC kêu gọi chính phủ Mỹ từ bỏ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với vaccine Covid-19. Ảnh: AFP

Ông Biden đã cam kết đầu tư 4 tỷ USD vào chương trình COVAX, một chiến dịch tiêm chủng toàn cầu do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) sáng lập. Đồng thời, Mỹ hỗ trợ sản xuất vaccine ở Ấn Độ, nơi đang đối mặt với cuộc khủng hoảng Covid-19 nghiêm trọng.
Ngày 5/5, một số người tụ tập ở Washington DC kêu gọi chính phủ Mỹ từ bỏ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với vaccine Covid-19. Ảnh: AFP
WHO tuần trước đã phê duyệt vaccine Sinopharm do Trung Quốc sản xuất để sử dụng trong chương trình COVAX. Tuy nhiên, động thái này sẽ không mang lại nhiều hiệu quả vì Trung Quốc, với khoảng 1,4 tỷ dân, vẫn chưa thể đáp ứng nhu cầu vaccine trong nước của họ so với Mỹ.
“Tăng cường sản xuất vaccine không chỉ bằng việc từ bỏ bảo hộ quyền sáng chế vaccine. Sẽ cần một nỗ lực phối hợp để chuyển giao công nghệ cho những nước còn lại trên thế giới”, Richard Besser, người từng là quyền giám đốc của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh dưới thời Tổng thống Barack Obama nói.
Tiến sĩ Besser cũng tán thành việc gửi vaccine sản xuất tại Mỹ ra nước ngoài với số lượng lớn. “Chúng tôi nhận thấy lượng vaccine các bang sử dụng đang giảm, điều đó khiến tôi nghĩ rằng có thể cung cấp vaccine Pfizer, Moderna hoặc Johnson & Johnson cho những nơi khác”, ông Besser nói.
Việc sản xuất đủ vaccine chỉ là một phần của những điều cần thiết để ngăn chặn dịch Covid-19. CARE, một tổ chức phi lợi nhuận quốc tế, ước tính rằng chi phí trung bình để phân phối hiệu quả vaccine cao gấp 5 lần so với việc sản xuất vaccine. Ngay cả ở những quốc gia đã nhận được số lượng vaccine lớn, nhiều liều vaccine vẫn chưa được sử dụng vì thiếu cơ sở hạ tầng phân phối và thiếu các chuyên gia y tế để tiêm chủng cho người dân.
Tại Ấn Độ, quốc gia đông dân thứ hai trên thế giới, các vấn đề sản xuất đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc tiếp cận vaccine. Cho đến nay, chưa đến 3% dân số Ấn Độ được tiêm chủng đầy đủ.
"Dụ dỗ" dân đi tiêm vaccine COVID-19 kiểu Mỹ: Tặng bia, tặng tiền, đưa bạn đến tiêm cũng có thưởng!
Tiến sĩ Leana Wen nói rằng, việc nới lỏng các hạn chế về bản quyền vaccine sẽ không giải quyết được vấn đề cốt lõi của nguyên liệu thô, cụ thể là nhu cầu sản xuất nhiều tác nhân hóa học được sử dụng để sản xuất vaccine. “Dựa trên hiểu biết của tôi, hạn chế chính là nguyên liệu thô và khả năng sản xuất, vì vậy tôi không hiểu việc nới lỏng các hạn chế về bản quyền vaccine sẽ khắc phục những vấn đề này như thế nào. Những điểm bế tắc chính chúng ta đang thấy hiện tại không phải là về bảo hộ quyền sáng chế đối với vaccine Covid-19”, bà Wen nói.
Nhiều chuyên gia lập luận rằng, khoản đầu tư 4 tỷ USD của chính quyền ông Biden vào chương trình COVAX, bao gồm 2 tỷ USD cam kết chi trong năm nay và 2 tỷ USD cam kết chi cho năm 2022, cũng đóng vai trò quan trọng như việc ủng hộ từ bỏ bảo hộ quyền sáng chế vaccine.
Tiến sĩ Saad Omer nói rằng, chính quyền ông Biden nên sử dụng cam kết của mình để gây áp lực buộc các nước giàu khác tham gia ở mức tương xứng, với mục tiêu đầu tư khoảng 20 tỷ USD vào nỗ lực phân phối vaccine trên toàn cầu.
“Đối với một chương trình tiếp cận vaccine toàn cầu nhắm mục tiêu vào 50-70% người dân trên thế giới, sẽ cần khoảng 20 tỷ USD”, ông Omer nói.
Theo Tiến sĩ Omer, cộng đồng y tế toàn cầu đang chạy đua với thời gian. “Thời điểm để tham gia cuộc chiến với dịch bệnh một cách nghiêm túc ở cường độ cao là vào tháng 6/2020. Chúng ta đã chậm trễ. Chúng ta cần phải có chiến lược”, ông Omer nói.
(MAI TRANG, Biên dịch từ báo nước ngoài).
----

Thứ Bảy, 1 tháng 5, 2021

Đối sách với Trung Quốc: Để các nước Asean không thiệt hại

 ĐỐI SÁCH VỚI TRUNG QUỐC: ĐỂ CÁC NƯỚC ASEAN KHÔNG THIỆT HAI 

Chúng ta buộc phải công nhân một thực tế không vui là nhìn lại nhiều thập kỷ qua, Trung Quốc đã và đang thu được những lợi ích to lớn từ ASEAN. Còn với ASEAN yếu thế hơn, lợi ít thiệt nhiều… 

Thực trạng trên đặt ra là các nước ASEAN cần phải tìm biện pháp cân bằng được cán cân thương mại với Trung Quốc trên tinh thần tìm ra lợi ích chung trong sự tôn trọng và bình đẳng. 

Mặt khác ASEAN phải xây dựng được các mối quan hệ đối tác mới với các nước khác trên thế giới để cân bằng, đối trọng với sức mạnh của Trung Quốc trong khu vực. 

Tuy nhiên nghịch lý là ở chỗ chính phủ Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ mọi hành động thương mại để mang lại nhiều lợi ích nhất cho chính mình, chứ không phải cho ASEAN. Dù các nước ASEAN được hưởng lợi từ thị trường khổng lồ của Trung Quốc nhưng họ lại không có đủ năng lực và sản phẩm để thâm nhập sâu vào thị trường Trung Quốc. 

Còn một điều đáng lo lắng khác nữa là một khi Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) mới được ký kết có hiệu lực, ASEAN sẽ phụ thuộc hơn vào Trung Quốc về kinh tế, thương mại.

Hiện nay Mỹ, EU, Ấn Độ, Nhật Bản và Australia đang thách thức ảnh hưởng và các hành vi ép buộc của Trung Quốc ở biển Đông. Nhưng điều lạ lùng (có lẽ do góc nhìn lợi ích riêng của từng nước) là các nước ASEAN lại không nhận ra rằng thực chất Trung Quốc đang phụ thuộc rất nhiều vào khối này.

Dẫn chứng:

(kể từ năm 2020) + ASEAN đã trở thành thị trường lớn nhất của Trung Quốc;

 + Đầu tư của ASEAN vào Trung Quốc lớn hơn so với đầu tư của Trung Quốc vào ASEAN;

+ Số lượng khách du lịch ASEAN đến thăm Trung Quốc nhiều hơn số du khách Trung Quốc đến thăm ASEAN…

Với những tương quan này đặt ra vấn đề, là những hành động trong thực tế hoạt động phát triển kinh tế, đầu tư và thương mại của các nước ASEAN lúc này cần có quyết sách đúng đắn, phối hợp với nhau chặt chẽ. Mọi điều chưa phải là quá muộn.

 Vinh Nguyen Van

-----

Tham khảo bài đang trên Đài RFA, Hoa Kỳ

ASEAN đối phó thế nào với Trung Quốc?

Mối đe doạ mang tên Trung Quốc

Với sức mạnh kinh tế và quân sự ngày càng tăng, Trung Quốc đã trở thành kẻ bắt nạt hoặc bá chủ trong khu vực, đặc biệt ở khu vực Biển Đông. Trung Quốc tự ý tuyên bố chủ quyền đối với hơn 90% diện tích biển Đông và một phần nhỏ biển Bắc Natuna của Indonesia dựa trên bản đồ “đường 9 đoạn” gây tranh cãi. Điều này đi ngược lại luật biển quốc tế, bao gồm cả Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982.

Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei là các bên liên quan trực tiếp đến tranh chấp biển Đông với Trung Quốc. Indonesia không phải là quốc gia có tuyên bố chủ quyền ở khu vực này, song Trung Quốc lại tuyên bố chủ quyền đối với một phần vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Indonesia tại biển Bắc Natuna.

Đã có những thời điểm đen tối trong lịch sử quan hệ giữa Trung Quốc và Đông Nam Á. Nhiều quốc gia Đông Nam Á không hoàn toàn tin tưởng vào Trung Quốc. Bắc Kinh đã can thiệp vào các cuộc chiến tranh Đông Dương và giúp đỡ các phong trào cộng sản ở Đông Nam Á trong những năm 1960-1970.

Do đó, Indonesia đã cắt đứt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc trong giai đoạn 1967-1990. Philippines chỉ thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc vào năm 1975. Trước đó, Manila coi Bắc Kinh là mối đe dọa an ninh. Tương tự, Malaysia và Thái Lan cũng lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc vào năm 1974 và 1975. Brunei chỉ thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc vào năm 1991, do có các vấn đề liên quan đến chủ nghĩa cộng sản và người gốc Hoa.

Trung Quốc là nước đầu tiên sử dụng vũ lực đối với Việt Nam nhằm chiếm quần đảo Hoàng Sa và một số thực thể thuộc quần đảo Trường Sa. Năm 2012, Trung Quốc cũng chiếm đóng trái phép bãi cạn Scarborough mà Philippines tuyên bố thuộc quyền chủ quyền của họ. Các tàu chấp pháp của Trung Quốc thường xuyên quấy rối ngư dân Việt Nam, Philippines, Malaysia và Indonesia. Bắc Kinh cũng đe dọa và ngăn cản các hoạt động thăm dò năng lượng và đánh bắt cá bên trong vùng đặc quyền kinh tế của của Việt Nam, Philippines và Malaysia.


Gần đây, Trung Quốc đã tiến hành cải tạo đất ở biển Đông, xây dựng trái phép một số đảo nhân tạo ở vùng biển này và biến một vài đảo trong số đó thành các cơ sở quân sự. Các hoạt động bất hợp pháp của Bắc Kinh đang gây ra mối đe dọa lớn đối với tự do hàng hải và hàng không quốc tế tại biển Đông. Với các hành vi cưỡng ép và bắt nạt của mình ở vùng biển này, Trung Quốc đã trở thành mối đe dọa lớn đối với hòa bình, sự ổn định và đoàn kết của ASEAN. Cho đến nay, Trung Quốc không khác gì “cáo già đội lốt thỏ non”.


Lợi dụng và chèn ép ASEAN

Với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đạt 3.110 tỷ USD và dân số 673 triệu người, khu vực ASEAN đang phát triển nhanh chóng và là thị trường béo bở đối với Trung Quốc. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã và đang sử dụng ảnh hưởng kinh tế của mình dưới hình thức thương mại, đầu tư, viện trợ, cho vay và nguồn khách du lịch để tác động đến các nước như Campuchia, Lào và Myanmar. Trung Quốc vẫn đang tìm cách chia rẽ ASEAN thông qua ba quốc gia này trong một số trường hợp. Song câu hỏi thực sự là ASEAN phụ thuộc vào Trung Quốc hay Trung Quốc phụ thuộc vào ASEAN?


Trung Quốc là quốc gia duy nhất đã khai thác tất cả các điểm yếu của ASEAN kể từ khi bắt đầu thiết lập quan hệ với khối này vào năm 1991 trong vai trò đối tác đối thoại. Trung Quốc thường xuyên ca ngợi quan hệ đối tác chiến lược của mình với ASEAN, song mục tiêu thực sự của họ là sử dụng sức mạnh kinh tế của mình để cưỡng ép một số nước thành viên của khối.


Năm 2021, Trung Quốc và ASEAN sẽ kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ hữu nghị và hợp tác. Trong một bài phát biểu năm 2020, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhấn mạnh: “Mối quan hệ Trung Quốc-ASEAN đã phát triển thành mô hình hợp tác thành công và sôi động nhất ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương và là hình mẫu trong nỗ lực xây dựng cộng đồng nhân loại chung vận mệnh”.


Trong một thời gian ngắn, Trung Quốc đã nổi lên thành một nước đóng vai trò quan trọng trong khu vực ASEAN, từ đối tác đối thoại toàn diện vào năm 1996 đến đối tác chiến lược của ASEAN vào năm 2008. Trung Quốc và ASEAN đã ký thỏa thuận thương mại tự do vào năm 2002 để thành lập Khu vực thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) có hiệu lực vào năm 2010. Trong 12 năm qua, Trung Quốc đã không ngừng phát triển và trở thành đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN. Thương mại, đầu tư và giao lưu nhân dân với ASEAN đã có những bước phát triển vượt bậc.

Vai trò của ASEAN đang nổi lên

Sau 30 năm duy trì quan hệ với Trung Quốc, ASEAN đã trở thành thị trường và đối tác thương mại lớn nhất của nước này. Đồng thời, ASEAN cũng đã có ảnh hưởng kinh tế đối với Trung Quốc. Điều này diễn ra vào một thời điểm khó khăn. Một mặt, cả thế giới chịu ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 vào năm 2020, dẫn đến cuộc khủng hoảng kép về y tế và kinh tế trên toàn cầu. Mặt khác, Trung Quốc chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc chiến thương mại do Mỹ – thị trường lớn nhất của Trung Quốc – phát động. Liên minh châu Âu (EU) cũng đã trở thành đối tác khó nhằn đối với Trung Quốc.

Trung Quốc đã tìm thấy ở ASEAN một thị trường quan trọng và có tính chiến lược để thay thế thị trường Mỹ và EU. Bắc Kinh đã có những nỗ lực phi thường để thâm nhập thị trường ASEAN và đã có được thành công. Kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đã tăng từ 641,46 tỷ USD vào năm 2019 lên mức kỷ lục 731 tỷ USD vào năm 2020 – tương đương mức tăng ấn tượng là 7%.

Với GDP 14.120 tỷ USD và dân số 1,44 tỷ người, Trung Quốc có thể được xem là thị trường hấp dẫn đối với tất cả các nước khác, bao gồm cả các nước thành viên ASEAN. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy ASEAN không thể hưởng lợi nhiều từ Trung Quốc trong các lĩnh vực thương mại, đầu tư, cho vay hoặc nguồn khách du lịch.

Chính phủ Trung Quốc đã kiểm soát chặt chẽ mọi thứ để mang lại nhiều lợi ích nhất cho chính mình, chứ không phải cho ASEAN. Các nước ASEAN được hưởng lợi từ thị trường khổng lồ của Trung Quốc nhưng lại không có đủ năng lực và sản phẩm để thâm nhập sâu vào thị trường Trung Quốc.

Trong những năm qua, Trung Quốc đã được hưởng thặng dư thương mại khổng lồ với một số nước ASEAN. Từ năm 2010, hàng hóa giá rẻ của Trung Quốc đã tràn ngập thị trường ASEAN nhờ ACFTA. Cũng từ năm đó, hầu như tất cả các nước ASEAN đều phải chịu thâm hụt thương mại với Trung Quốc. Ví dụ, năm 2019, Trung Quốc đã đạt thặng dư thương mại 77,58 tỷ USD với ASEAN.

Điều đáng ngạc nhiên là ASEAN là nhà đầu tư lớn nhất vào Trung Quốc nếu xét về tổng vốn đầu tư trực tiếp (FDI). Ví dụ, năm 2019, tổng vốn FDI của các nước ASEAN đổ vào Trung Quốc đạt 124,61 tỷ USD, lớn hơn nhiều so với mức đầu tư 112,3 tỷ USD của Trung Quốc đổ vào ASEAN trong cùng năm. Do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, tổng vốn FDI vào ASEAN đã sụt giảm 31% xuống còn 107 tỷ USD vào năm 2020.

 Giao lưu nhân dân giữa Trung Quốc và các nước ASEAN, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch, đang phát triển nhanh chóng. Năm 2019, 169 triệu người Trung Quốc đã đi du lịch nước ngoài, trong khi lượng khách quốc tế đến thăm Trung Quốc cũng lên đến 145,31 triệu người. Điều thú vị là lượng khách du lịch ASEAN tới thăm Trung Quốc cao hơn lượng khách du lịch Trung Quốc đến thăm các nước ASEAN. Ví dụ, năm 2019, 32,28 triệu khách du lịch Trung Quốc đã đến thăm các nước ASEAN, trong khi lượng khách du lịch ASEAN đến thăm Trung Quốc là 32,72 triệu người. Đây là điều bất lợi đối với ASEAN trong bối cảnh khối này phải đối phó với Trung Quốc trong các vấn đề phi kinh tế.

ASEAN cần phải làm gì?

Các quốc gia ASEAN luôn e ngại sức mạnh từ Trung Quốc, chính vì thế Trung Quốc đã luôn hành xử theo cách “khoe cơ bắp” đối với các quốc gia khu vực này. Năm 2010, Ngoại trưởng Trung Quốc lúc đó là Dương Khiết Trì đã “ngạo nghễ” tuyên bố “Trung Quốc là một nước lớn, lớn hơn tất cả các nước Đông Nam Á cộng lại, và đó là một thực tế”.

Trong tình hình hiện nay, Mỹ, EU, Ấn Độ, Nhật Bản và Australia đang thách thức ảnh hưởng và các hành vi ép buộc của Trung Quốc ở biển Đông. Điều không may là các nước ASEAN lại không nhận ra rằng thực chất Trung Quốc đang phụ thuộc rất nhiều vào khối này. Kể từ năm 2020, ASEAN đã trở thành thị trường lớn nhất của Trung Quốc. Đầu tư của ASEAN vào Trung Quốc lớn hơn nhiều so với đầu tư của Trung Quốc vào ASEAN. Số khách du lịch ASEAN đến thăm Trung Quốc nhiều hơn số du khách Trung Quốc đến thăm ASEAN. Đã đến lúc ASEAN cần sử dụng đòn bẩy kinh tế mới này để chế ngự một Trung Quốc đang tỏ ra hung hăng. ASEAN không được để Trung Quốc ra lệnh cho mình.

Cho đến nay, Trung Quốc đã và đang thu được những lợi ích to lớn từ ASEAN. Vì vậy, các nước ASEAN cần phải suy nghĩ về cách thức cân bằng thương mại với Trung Quốc và cùng nhau tìm kiếm các lợi ích chung trên cơ sở bình đẳng. ASEAN phải tạo dựng quan hệ đối tác mới với các nước khác trên toàn cầu nhằm cân bằng sức mạnh của Trung Quốc trong khu vực. Một khi Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) mới được ký kết có hiệu lực, ASEAN sẽ trở thành “thái ấp” của Trung Quốc. RCEP dự kiến sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Trung Quốc hơn là cho ASEAN. Hy vọng rằng mọi hành động của ASEAN lúc này chưa phải là quá muộn.

Tác giả: Ngô Nguyễn Tường Duyên
   (Nguồn: Đài  RFA)

 

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021

 Dự báo chính sách đối ngoại của chính quyền Biden (P3)

Tác giả: Nguyễn Quang Dy

2 phần tiếp theo (phần 3 và phần 4)

Xem lại 2 phần 1 và 2 tại đường Link sau đây: 

http://vinhnv43.blogspot.com/2021/01/du-bao-chinh-sach-oi-ngoai-cua-chinh.html

-----   

Phần 3

Đánh giá các thách thức đến từ Trung Quốc

Thời kỳ chiến tranh lạnh, để đối phó với Liên Xô, George Kennan đã viết “Nguồn gốc Hành vi của Liên Xô”, sau đó đã trở thành kinh điển. Nay để đối phó với Trung Quốc, một số tác giả bắt chước Kennan lý giải hiện tượng Trung Quốc trỗi dậy và đề xuất cách đối phó. Giáo sư Odd Arne Westad (Đại học Yale) viết The Sources of Chinese Conduct (Nguồn gốc hành vi của Trung Quốc).

Tháng 11/2020, Vụ Hoạch định Chính sách Bộ Ngoại giao Mỹ đã báo cáo về “Các khía cạnh của thách thức từ Trung Quốc” cho rằng Trung Quốc muốn thay đổi trật tự thế giới để phục vụ mục tiêu độc đoán và tham vọng bá quyền của họ. Theo Odd Arne Westad, để đối phó với Trung Quốc, Mỹ không thể hành động một mình.

Tuy báo cáo của Bộ Ngoại giao chuẩn bị cho “nhiệm kỳ hai của Trump”, nhưng nó liên quan đến các vấn đề của chính quyền Biden. Có lẽ chỗ yếu nhất của báo cáo là ý tưởng “dùng giải pháp của thế kỷ 20 để giải quyết vấn đề của thế kỷ 21”. Dù nhận định của báo cáo gần đúng với sự thật, nhưng giải pháp mà nó đề xuất có thể thất bại vì Bộ Ngoại giao đã hiểu sai về Bắc Kinh. Vì vậy, cần xem xét các mục tiêu cơ bản của Bắc Kinh là gì?

Một là, Trung Quốc tiếp tục trỗi dậy để kinh tế mạnh hơn và củng cố sự lãnh đạo lâu dài của đảng ở trong nước. Hai là, Trung Quốc tiếp tục triển khai sức mạnh vượt trội tại Châu Á gồm phía Tây Thái Bình Dương, khu vực Trung Á và Đông Nga, vùng Himalaya và Ấn Độ Dương. Các mục tiêu này khá thuận lợi vì Nga và Nhật đều ốm yếu, còn Mỹ thì thất thường. Nhưng thái độ của Trung Quốc còn bị tác động bởi các yếu tố trong nước. Vì vậy, nếu báo cáo chỉ đổ lỗi cho sai lầm của Mỹ thì không chỉ chủ quan và sai lầm mà còn nguy hiểm.

Cách tốt nhất để Mỹ triển khai chiến lược là lợi dụng mâu thuẫn giữa hai mục tiêu cơ bản của Trung Quốc là vừa tăng trưởng kinh tế, vừa bành trướng ra ngoài. Mỹ cần tăng sức ép để buộc Trung Quốc phải chọn giữa hai mục tiêu đó. Chính quyền Biden cần nỗ lực hơn chính quyền Obama và Trump để giúp các nước Châu Á chống lại sức ép của Trung Quốc, như tăng cường sức mạnh quân sự của Mỹ tại Indo-Pacific và thúc đẩy thương mại, đầu tư, công nghệ, khuyến khích Trung Quốc tuân thủ hiệp định và trừng phạt nếu họ vi phạm.

Báo cáo đề xuất rằng lợi ích của Mỹ là phải hủy bỏ và xây dựng lại có chọn lọc các thể chế quốc tế hiện hành. Với so sánh lực lượng hiện nay, đó là một ý tưởng điên rồ. Việc chính quyền Trump không thiết tha ủng hộ các tổ chức khu vực như EU và ASEAN nhằm tăng cường hợp tác đa phương, cũng là một sai lầm. Mỹ chỉ dựa vào sức mình là quá sức do thực tế hiện nay không giống thời Chiến tranh Lạnh bắt đầu. Lúc đó, Mỹ chiếm gần 50% GDP toàn cầu, nhưng Mỹ vẫn cần sự hỗ trợ của các nước đồng minh để giành thắng lợi.

Hiện nay, Mỹ chỉ chiếm một tỷ trọng GDP bằng một nửa thời trước. Nếu kinh tế Mỹ không đổi mới thì nó sẽ tiếp tục đà suy thoái. Hơn nữa, hệ thống chính trị gồm hai đảng của Mỹ không ổn định, và Washington không đủ năng lực để đối phó với đại dịch Covid-19, làm bộc lộ những điểm yếu của Mỹ. Hiện nay, đối với các nước trên thế giới, các chính sách và thể chế của Mỹ không còn là hình mẫu để họ noi theo. Việc báo cáo đề cao các chính sách của Mỹ nhằm “đem lại tự do” đã hoàn toàn bỏ qua một thực tế cơ bản hiện nay là Mỹ chỉ có thể cạnh tranh hiệu quả với Trung Quốc nếu họ chịu cải cách thể chế trong nước.

Theo Joseph Nye (cựu thứ trưởng quốc phòng), nhiều đồng minh tự hỏi điều gì đang xảy ra với nền dân chủ Mỹ. Nếu Mỹ đã sinh ra một lãnh đạo như Donald Trump năm 2016 thì liệu có thể lặp lại vào năm 2024 hay 2028? Phải chăng nền dân chủ suy thoái, làm cho Mỹ không còn đáng tin. Nhưng bất chấp dự đoán của cánh tả về sự suy sụp và của cánh hữu về sự gian lận, nền dân chủ Mỹ đã chứng tỏ sức sống bền bỉ. Nếu Trump kiểm soát được đảng Cộng hòa và nếu Cộng hòa vẫn nắm đa số tại Thượng viện thì Biden sẽ rất khó khăn. Điều đó lý giải tại sao tranh cử tại bang Georgia lại quan trọng như vậy.

Để đánh giá về nguồn gốc sức mạnh của Trung Quốc, James Homes (Đại học Hải chiến) đã nhận định: “Bắc Kinh muốn thắng mà không cần phải đánh”. Bắc Kinh tin tưởng có thể thắng dù Trung Quốc yếu hơn Mỹ về tổng thể, vì Quân đội Trung Quốc (PLA) có thể đảo ngược so sánh lực lượng tại chiến trường để áp đảo đối phương tại nơi và lúc quyết định. Trung Quốc có thể tồn tại lâu hơn Mỹ bằng “chiến tranh nhân dân trên biển”, một học thuyết được Bắc Kinh vận dụng để đối phó với liên minh gồm Mỹ, Nhật, Úc, Ấn Độ…

PLA ngày nay có nhiều sự lựa chọn hơn Hồng quân trước kia. Thay vì chiến tranh nhân đân thuần túy kiểu Mao, PLA sẽ vận dụng tổng hợp các đơn vị lớn/nhỏ gồm tuần duyên, hải giám, và “dân quân biển” để đối phó với liên mình do Mỹ cầm đầu. Chiến sự có thể xảy ra khi “ngoại giao bằng cái gậy bé” (small-stick diplomacy) được Trung Quốc vận dụng để kiểm soát vùng biển họ đòi chủ quyền. Một khi điều đó trở thành “bình thường mới” hay “chuyện đã rồi” (fait accompli) thì nó sẽ có chính danh.

Theo báo chí, các nước phương Tây trước đây thường tránh làm mất lòng Bắc Kinh, nay đang xích lại gần hơn lập trường cứng rắn của Mỹ đối với Trung Quốc. Nếu trước đây, lãnh đạo EU coi Trung Quốc là “cơ hội” thì nay họ coi Trung Quốc là “đối thủ”. Năm ngoái, một báo cáo về chính sách của EU đã không coi Trung Quốc là đối tác (partner) hay đối tượng cạnh tranh (competitor) mà là “đối thủ hệ thống” (system rival). Khi một nhà ngoại giao Trung Quốc hỏi có thật EU coi Trung Quốc là đối thủ không, Tổng thống Pháp Macron đã nói thẳng “đúng thế” (You are a rival).

Theo một khảo sát của Pew Research (10/2020) mức độ bất tín nhiệm (distrust) đối với Tập Cận Bình lên rất cao ở hầu hết các nước được khảo sát. Tâm trạng này ở Châu Âu ngày càng lan rộng. Đại sứ EU ở Bắc Kinh nói năm ngoái sự ủng hộ Trung Quốc tại Châu Âu và các nơi khác đã giảm sút mạnh. Theo Wess Mitchell (cựu trợ lý ngoại trưởng Mỹ về Châu Âu) “đồng minh tốt nhất của chúng ta để coi Trung Quốc là đối thủ, chính là thái độ của họ”. Trong khi Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói họ coi Châu Âu là “đối tác chiến lược” (strategic partner) chứ không phải “đối thủ” (rival), thì Bắc Kinh luôn đe dọa trừng phạt các nước mỗi khi có bất đồng. Đại sứ Trung Quốc tại Thụy Điển có lần nói với báo chí: “đối với kẻ thù, chúng tôi có súng săn” (for our enemies, we got shotguns).

Tuy Úc phụ thuộc vào Trung Quốc về kinh tế, nhưng là nước đầu tiên cấm công nghệ Huawei và kêu gọi thế giới điều tra Trung Quốc xử lý coronavirus. Tuy Ấn Độ là một trụ cột của phong trào không liên kết trên thế giới nhưng đang mở rộng hợp tác quân sự với Mỹ và đồng minh trong khi có chiến sự với Trung Quốc tại biên giới hai nước. Trong khi Đức vẫn thận trọng thì cuộc tranh luận về sự phụ thuộc của Châu Âu vào Trung Quốc ngày càng bức xúc. Đức có hơn 5.200 công ty kinh doanh tại Trung Quốc, nhưng đang chịu nhiều sức ép phải lên tiếng vì lợi ích của Châu Âu.

Nhiều người ảo tưởng Tập Cận Bình sẽ đưa Trung Quốc đi theo trật tự thế giới của Mỹ, nhưng đó là “một trong những tính toán chiến lược sai lầm lớn nhất thời hậu chiến tranh lạnh”. Tám năm qua, Tập theo đuổi tầm nhìn về tương lai Trung Quốc theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan, bộc lộ tham vọng kiểm soát và thao túng chính trị làm ngạc nhiên giới tinh hoa Mỹ và Trung Quốc. Nay nhìn lại, người ta ngạc nhiên là Tập tìm cách khôi phục Mao để củng cố chính danh cho mình và cho Đảng, trước những cảnh báo về sự bất ổn trong 5 năm tới và lên án Tập đã biến Đảng thành “hình nhân chính trị”.

Triển vọng quan hệ Mỹ-Trung và khu vực

Cách đây mấy thập niên, Samuel Huntington đã viết trên Foreign Affairs rằng Mỹ có khả năng tự chỉnh sửa, và những người thuộc “trường phái suy thoái” (declinists) đóng vai trò không thể thiếu “trong việc ngăn chặn những gì mà họ dự báo”. Đối với Mỹ, suy thoái là do chính trị nên đó là một sự lựa chọn, vì vậy suy thoái là sự lựa chọn chứ không phải điều hiển nhiên. Suy thoái diễn ra trong hệ thống chính trị phân cực, với tổng thống Dân chủ sắp nhậm chức, trước một Thượng viện vẫn do Cộng hòa nắm đa số. Nhà báo Noah Smith (Bloomberg) cho rằng nếu đối nội Mỹ không thay đổi thì chỉ vài thập niên nữa “Mỹ sẽ giống như một nước đang phát triển”.

Theo Kurt Campbell (cựu trợ lý ngoại trưởng), chính sách Trung Quốc là tâm điểm của sự lựa chọn này. Trung Quốc càng quyết đoán thì Quốc hội và người dân càng đoàn kết xung quanh lo ngại về ý đồ lâu dài của Bắc Kinh và tác động của chủ nghĩa trọng thương (mercantilism). Đề ra chương trình nước Mỹ không dựa trên đối nội mà như là một phần của nỗ lực duy trì khả năng cạnh tranh của Mỹ đối với Trung Quốc có thể được lưỡng đảng ủng hộ.

Gần đây, giáo sư David Shambaugh (Đại học George Washington) đã xuất bản cuốn Where Great Powers Meet: America and China in Southeast Asia (Oxford University Press, 2020). Trong cuốn sách đó, Shambaugh đã nhấn mạnh vị trí sống còn của Biển Đông trong bàn cờ địa chiến lược Mỹ – Trung. Hàng năm, khoảng 50.000 tàu thuyền qua lại trên Biển Đông, chiếm 40% thương mại và 25% vận tải dầu khí trên thế giới. Đặc biệt, Trung Quốc đã thay đổi thực địa, bồi đắp các đảo họ chiếm đóng trái phép thành “chuyện đã rồi”, và quân sự hóa các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa thành các căn cứ quân sự.

Các nước ASEAN tự hào về phong cách riêng của mình (ASEAN Way), như nguyên tắc đồng thuận, không can thiệp vào nội bộ của nhau, và hợp tác tự nguyện. Tuy điều đó giúp các nước ASEAN gắn kết nhưng cũng bộc lộ các điểm yếu cơ bản, làm vô hiệu hóa khả năng của ASEAN đối phó với các vấn đề nhạy cảm như tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông và ngăn chặn Trung Quốc quân sự hóa các đảo họ chiếm đóng. Giới quan sát cho rằng các diễn đàn ASEAN chỉ là nơi “tranh cãi” (talk shops) mà không thực sự hiệu quả về mặt hành động.

Một số nước ASEAN bị mắc kẹt trong thế đối đầu Mỹ-Trung đã ngả theo Bắc Kinh (như Campuchia và Philippines). Tuy xu hướng này đáng lo ngại, nhưng không nên quá lo lắng và phóng đại, vì xu hướng đó có thể đảo chiều trong thời gian tới. Một là Bắc Kinh có thể đi quá xa và ra tay quá đà, như đòi hỏi quá nhiều và bóc lột quá đáng. Hai là các nhà ngoại giao Trung Quốc quen với lối tuyên truyền một chiều, dễ vô cảm với tâm trạng của khu vực. Ba là nhiều nước Đông Nam Á bị ảnh hưởng nặng nề bởi tâm lý “hậu thực dân”, nên rất dễ phản ứng trước thái độ ngạo mạn và quan hệ bất đối xứng.

Tổng giá trị thương mại giữa Mỹ và ASEAN là 350 tỷ đô la Mỹ (2018) trong khi tổng giá trị thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN là 587,8 tỷ đô la Mỹ (2018). Tuy con số của Trung Quốc với ASEAN lớn hơn con số của Mỹ với ASEAN nhưng không quá xa, và ASEAN vẫn là bạn hàng lớn thứ tư của Mỹ. Trong khi đó, tổng giá trị đầu tư trực tiếp của Mỹ tại các nước ASEAN là $329 tỷ đô la Mỹ (bằng cả Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc cộng lại).

Khi Trung Quốc bành trướng ở khu vực thì giới quan sát cho rằng quyền lực Mỹ bị suy yếu. Đó là một ngộ nhận vì ảnh hưởng kinh tế, văn hóa, an ninh của Mỹ ở khu vực còn rất lớn, xét trên nhiều mặt lớn hơn Trung Quốc. Trên thực tế, Trung Quốc được đánh giá quá cao, còn Mỹ bị đánh giá quá thấp. Tuy Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ nhưng chưa thống trị được khu vực.

Chính quyền Biden sẽ hàn gắn quan hệ với các nước đồng minh, nên vai trò của Nhật, Ấn Độ, Úc, và Hàn Quốc tại khu vực càng quan trọng. Đặc biệt, vai trò của Nhật ngày càng quan trọng đối với kinh tế và an ninh khu vực. Trong khi chính phủ Narendra Modi triển khai chính sách “Hành động Hướng Đông” (Act East) của Ấn Độ, thì Tổng thống Moon Jae-in thúc đẩy chính sách “Hướng Nam” (Southward Policy) của Hàn Quốc. Vì quan hệ Úc-Trung căng thẳng, nên Thủ tướng Morrison cũng đang điều chỉnh chính sách của Úc đối với khu vực.

Tuy vai trò của Mỹ với các nước đồng minh là then chốt, nhưng chính thái độ của Trung Quốc cũng là một lợi thế so sánh cho Mỹ ở khu vực. Bắc Kinh càng hung hăng bắt nạt các nước khu vực bằng “ngoại giao chiến lang”, tuyên truyền thô thiển, vô cảm với tâm trạng của khu vực, và không biết lắng nghe ý kiến phê phán, thì càng góp phần làm suy yếu quyền lực và ảnh hưởng của Trung Quốc. Vì vậy, nếu chính quyền Biden biết lựa chọn ưu tiên, làm việc với khu vực một cách nhất quán như họ mong đợi, thì Mỹ có thể đối phó được với Trung Quốc.

Theo Kurt Campbell và Jake Sullivan (hai cố vấn đối ngoại chủ chốt của Joe Biden), mục tiêu của Washington là kiến tạo điều kiện thuận lợi để cùng tồn tại với Bắc Kinh trên bốn lĩnh vực cạnh tranh chính là quân sự, kinh tế, chính trị, và quản trị toàn cầu. Sai lầm cơ bản trước đây khi Mỹ hợp tác với Trung Quốc là cho rằng nó sẽ làm thay đổi cơ bản hệ thống chính trị, kinh tế, và chính sách đối ngoại của Trung Quốc. Nay Mỹ có thể mắc lại sai lầm tương tự khi cho rằng cạnh tranh có thể làm Trung Quốc thay đổi, phải đầu hàng hay sụp đổ, điều mà hợp tác trước đây đã thất bại.

Trung Quốc ngày nay là một đối thủ khác hẳn với Liên Xô trước đây: đáng gờm hơn về kinh tế; tinh tế hơn về ngoại giao; linh hoạt hơn về hệ tư tưởng. Trung Quốc đã hội nhập sâu hơn với thế giới và nền kinh tế Mỹ. Chiến lược ngăn chặn của Mỹ được dựa trên dự báo là Liên Xô sẽ đến lúc sụp đổ vì nó mang theo “hạt giống suy tàn” như George Kennan đã tự tin vạch ra chiến lược ngăn chặn. Nhưng ngày nay không thể dự báo Trung Quốc như vậy vì thiếu cơ sở cho một chính sách ngăn chặn mới trên tiền đề là Trung Quốc cuối cùng sẽ sụp đổ. Mặc dù Trung Quốc đứng trước nhiều thách thức về dân số, kinh tế, và môi trường, nhưng đảng cộng sản đã chứng tỏ năng lực đáng kể có thể thích nghi với hoàn cảnh khó khăn.

Mỹ và Trung Quốc đối đầu tại Indo-Pacific, nơi có bốn điểm nóng là Biển Đông, Biển Hoa Đông, eo biển Đài Loan, và bán đảo Triều Tiên. Washington lo Trung Quốc đẩy Mỹ ra khỏi Tây Thái Bình Dương còn Bắc Kinh lo Mỹ dồn Trung Quốc vào bẫy. Đài Loan không chỉ là một điểm nóng, mà còn là một bài học thành công lớn trong lịch sử bang giao Mỹ – Trung, trong khi Biển Đông là tâm điểm của đối đầu Mỹ-Trung. Để hai siêu cường có thể chung sống hòa bình, Washington cần tăng cường răn đe và quản trị khủng hoảng, không để Bắc Kinh tự do đe dọa sử dụng vũ lực để tranh chấp chủ quyền và làm “chuyện đã rồi”. Elbridge Colby lập luận “có thể răn đe mà không cần sức mạnh để đương đầu với đối thủ đáng gờm”.

Để đảm bảo răn đe tại Indo-Pacific, Mỹ cần giảm đầu tư vào các hệ thống vũ khí đắt tiền nhưng dễ tồn thương như tàu sân bay, mà nên tăng đầu tư vào các hệ thống vũ khí bất đối xứng, được tạo ra để hạn chế sự phiêu lưu của Trung Quốc mà không quá tốn kém. Washington cần đa dạng hóa sự có mặt của quân đội Mỹ ở Đông Nam Á và vùng Biển Ấn Độ Dương mà không cần phải lập căn cứ quân sự cố định. Vì vậy, Mỹ cần xây dựng một mặt trận thống nhất gồm các đồng minh và đối tác có cùng chí hướng.

 

Dự báo chính sách đối ngoại của chính quyền Biden (P4)

Tác giả: Nguyễn Quang Dy

 

Phần 4

Triển vọng quan hệ Mỹ-Việt và Biển Đông

Theo Lê Hồng Hiệp (ISEAS – Yusof Ishak Institute), Mỹ và Việt Nam có lợi ích chiến lược song trùng tại Biển Đông. Trung Quốc càng hiếu chiến thì càng thúc đẩy hợp tác chiến lược Mỹ-Việt, giúp nâng cao năng lực hàng hải cho Việt Nam, phù hợp với cơ chế an ninh khu vực và theo tầm nhìn Indo-Pacific, trong khuôn khổ “Bộ tứ mở rộng”. Dù Chính quyền Biden có bỏ qua khoản thặng dư thương mại ($58 tỷ) hay không thì Biden, với quan điểm thân thiện với Việt Nam, chắc sẽ có cách đề cập hợp lý hơn.

Theo Carl Thayer, lợi ích cơ bản của Mỹ sẽ không thay đổi sau khi Joe Biden tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Mỹ thứ 46 (20/1/2021). Các thỏa thuận Hà Nội ký với Robert O’Brien là nhằm tăng cường hợp tác hàng hải và mua thiết bị quân sự để đối phó với Trung Quốc đang gây sức ép tại Biển Đông. Quan điểm chính thống của Mỹ thời Biden là coi trọng chủ nghĩa đa phương, như một điểm khác biệt cơ bản so với Trump vốn coi nhẹ đồng minh. Biden sẽ tăng cường ủng hộ Bộ Tứ (Quad) và ý tưởng “Bộ Tứ Mở rộng” (Quad Plus), để phối hợp tập trận không chỉ với Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, mà còn với các nước khác như Việt Nam.

Derek Grossman (RAND) tin rằng Việt Nam có thể đóng góp tốt cho “Bộ tứ Mở rộng” để đối phó với Trung Quốc. Nếu Bộ Tứ mở rộng có một nước khu vực như Việt Nam tham gia sẽ làm suy yếu lập luận của Bắc Kinh cho rằng “Bộ Tứ” chỉ là một nhóm các nước bên ngoài khu vực muốn “ngăn chặn sự trỗi dậy của Trung Quốc”. Theo Kent Calder (giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đông Á tại Đại học Johns Hopskins), chính quyền Joe Biden sẽ thắt chặt quan hệ với Việt Nam. Sự ủng hộ rộng rãi của các nước Bộ Tứ, trong đó có các nước trong Indo-Pacific, sẽ mở rộng thêm các thỏa thuận thương mại đa phương.

Gần đây, Bộ Chỉ huy Chiến dịch Đặc biệt ở Thái Bình Dương (SOCPAC) đề cập khả năng hợp tác giữa lực lượng đặc biệt của Mỹ với đặc công của Việt Nam. Bộ Chỉ huy Tiếp vận Lục quân Mỹ (USAMC) cũng muốn xây dựng một hệ thống kho tiếp liệu và dự trữ quân nhu tại Việt Nam để Mỹ có thể triển khai nhanh các hoạt động nhân đạo nhằm giúp Việt Nam đối phó với thiên tai. Nhưng hợp tác quốc phòng Mỹ-Việt còn hạn chế chừng nào Viêt Nam vẫn duy trì nguyên tắc “ba không”. Trong một báo cáo gần đây của RAND về đối đầu Mỹ-Trung ở khu vực Indo-Pacific, Derek Grossman có năm nhận xét:

Một là, tuy Mỹ duy trì ưu thế về an ninh, nhưng lại đứng sau Trung Quốc về các chỉ số kinh tế và xấp xỉ nhau về chính trị và ngoại giao, vì vậy không thuận cho Việt Nam “chọn Mỹ”. Thực ra, Viêt Nam chọn cân bằng quan hệ với Mỹ và Trung Quốc. Do đó, Washington nên để cho quan hệ với Việt Nam diễn ra một cách tự nhiên (organically), tức là để cho lãnh đạo Việt Nam tự đi đến kết luận về thái độ của Trung Quốc và sự cần thiết phải chơi với Mỹ. Nếu thúc Hà Nội phải chọn bên khi đối đầu Mỹ-Trung căng lên có thể phản tác dụng.

Hai là, giống nhiều nước khác ở khu vực, Việt Nam nghi ngờ chiến lược Indo-Pacific của Mỹ có bền vững với thời gian và có thể răn đe hiệu quả các hành động quyết đoán của Trung Quốc tại Biển Đông hay không. Mỹ nên cân nhắc làm sâu sắc thêm và thường xuyên trao đổi với các đối tác Việt Nam, ưu tiên về chất lượng hơn là số lượng, để tránh những thách thức không đồng bộ. Làm như vậy sẽ giúp thuyết phục Hà Nội rằng Washington là một cường quốc Thái Bình Dương trong tương lai có thể giúp ích Việt Nam đối phó với Trung Quốc.

Ba là, ngoài vấn đề Biển Đông, Việt Nam muốn Mỹ tập trung xem tác động của chương trình Vành đai và Con đường (BRI) của Trung Quốc ở các nước láng giềng Đông Dương tác động trực tiếp đến Việt Nam thế nào. Việt Nam lo ngại rằng Campuchia và Lào đang gắn chặt với Trung Quốc, và trên thực tế làm xói mòn quan hệ đặc biệt của Việt Nam với các nước này. Mỹ nên cam kết cạnh tranh với BRI để giúp Việt Nam tránh bị bao vây bởi các nước thân Trung Quốc. Ngoài ra, Mỹ cần cam kết sâu hơn để chống tác động tiêu cực của BRI tới môi trường các nước này, nhất là các đập thủy điện của Trung Quốc trên sông Mekong.

Bốn là, Mỹ nên tiếp tục hợp tác với các đồng minh và đối tác để tìm kiếm sự bổ sung cho các mục tiếu cơ bản nhằm tránh chồng chéo các nỗ lực ở Việt Nam. Ví dụ, Nhật, Ấn Độ, và Hàn Quốc ủng hộ các mục tiêu an ninh hàng hải của Việt Nam. Úc làm rất tốt và Canberra sẵn sàng giúp lực lượng gìn giữ hòa bình (PKO) huấn luyện quân sự chuyên nghiệp (PME) và thậm chí lực lượng đặc biệt của Việt Nam. Nhật cũng tích cực trong công tác cứu hộ (SAR) và tăng cường luật biển trong và ngoài Indo-Pacific. Úc, New Zealand, Anh có thể hỗ trợ đào tạo tiếng Anh, công tác gìn giữ hòa hòa bình, và huấn luyện quân sự chuyên nghiệp.

Năm là, trong các chuyến thăm cấp cao của Bộ Quốc phòng, không quân Mỹ (USAF) đề xuất hợp tác binh chủng trở thành thường xuyên hơn để làm giảm thiểu khả năng gián đoạn trong tương lai. USAF nên tìm kiếm cơ hội để xây dựng năng lực tổ chức của VAD-AF, nhất là chức năng hỗ trợ, bao gồm bảo dưỡng, duy tu và an toàn, có nhiều khả năng đem lại kết quả lâu bền. Vì tính chất nhạy cảm của VAD-AF tại căn cứ quân sự do “chính sách quốc phòng ba không”, nên USAF có thể đề xuất hợp tác tại các địa điểm dân sự.

Tuy Biden không chỉ trích Trung Quốc nặng nề như Mike Pompeo nhưng sẽ giữ nguyên thuế quan và trừng phạt, coi Trung Quốc như đối thủ chính của Mỹ. Biden sẽ ủng hộ Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, ASEAN, và Bộ tứ (Quad), hàn gắn quan hệ kinh tế song phương với khu vực. Trong một hay hai năm đầu, Biden sẽ khó tham gia CPTPP và RCEP vì phải được Thượng viện chấp thuận, và trong nhiệm kỳ đầu rất ít khả năng Mỹ thông qua Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS). Nhưng Biden chắc có chính sách khác hẳn Trump về WHO và WTO, sẵn sàng hợp tác với Trung Quốc về các vấn đề toàn cầu như COVID-19, biến đổi khí hậu, phục hồi tăng tưởng kinh tế thế giới, và phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên.

Dưới thời Biden, Mỹ không đối đầu với Trung Quốc như thời Trump, nên Việt Nam không bị Mỹ ép phải chọn bên. Tuy quan hệ Mỹ-Trung còn căng thẳng, nhưng hai bên sẽ tìm cách hợp tác, tạo cơ hội hơn là thách thức. Việt Nam có thể hợp tác với cả Trung Quốc và Mỹ, nhất là về kinh tế và thương mại. Trung Quốc không muốn Việt Nam đi theo quỹ đạo của Mỹ nên Việt Nam có cơ hội tranh thủ kịch bản này. Chính quyền Biden sẽ coi Việt Nam như “đối tác chiến lược” và ủng hộ vai trò Việt Nam lãnh đạo ASEAN. Khả năng quan hệ thân thiện giữa Mỹ và Trung Quốc (G2) rất khó hình thành để Mỹ phải hy sinh Việt Nam hay khu vực.

Trong bốn năm tới, quan hệ Mỹ-Trung chắc sẽ “không quá ấm” cũng “không quá lạnh”. Biden sẽ không quá cứng rắn với Trung Quốc như Mike Pence và Mike Pompeo, nên có thể hợp tác về các vấn đề toàn cầu để chống dịch (WHO), phục hồi kinh tế toàn cầu (WTO), chống biến đổi khí hậu, và phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên. Chính quyền Biden sẽ tiếp tục chống Trung Quốc đe dọa và bắt nạt ở Biển Đông trong khi tăng cường đối tác chiến lược với ASEAN về các vấn đề khu vực. Vì vậy, ASEAN sẽ có vai trò quan trọng để gìn giữ hòa bình, ổn định, tăng cường hợp tác khu vực trước những khó khăn mới.

Chính quyền Biden cần ít nhất nửa năm để ổn định, phụ thuộc nhiều vào kết quả bầu cử bổ sung hai ghế Thượng viện ở tiểu bang Georgia. Nếu đảng Cộng hòa nắm đa số Thượng viện, họ có thể phủ quyết đề cử nhân sự như Ngoại trưởng, Bộ trưởng Quốc phòng, Giám đốc Tình báo Quốc gia. Ưu tiên số một của Biden là kiểm soát đại dịch và phục hồi kinh tế. Theo luật Mỹ, Chính quyền Biden phải trình Quốc hội Chiến lược An ninh Quốc gia (NSS) trong vòng 150 ngày. Nếu được phê chuẩn thì Bộ Quốc phòng đề xuất Chiến lược Quốc phòng (NDS) và chiến lược Indo-Pacific. Trước khi có NDS, chính sách đối ngoại của Mỹ thường dựa trên cơ sở lâm thời (ad hoc basis). Dự kiến lưỡng đảng sẽ đồng thuận một chính sách cứng rắn với Trung Quốc liên quan đến thặng dư thương mại và can thiệp vào nội bộ Mỹ.

Theo Carl Thayer, nếu đại dịch Covid-19 được kiểm soát tốt năm 2021 thì ASEAN và Trung Quốc có thể tiếp tục đàm phán về DOC và COC ở Biển Đông. Tuy quan hệ Việt – Trung về kinh tế và thương mại tương đối ổn, nhưng vẫn thường xuyên xảy ra căng thẳng trên Biển Đông. Nếu Việt Nam tiếp tục thăm dò hay khai thác dầu khí tại mỏ Lan Đỏ (lô 06-01) gần Bãi Tư Chính thì Trung Quốc chắc chắn sẽ gây căng thẳng, có thể lặp lại tình huống đối đầu như năm 2019. Năm 2020, các tàu tuần duyên Trung Quốc vẫn tiếp tục quấy rối tại khu vực này, để cảnh báo Việt Nam không được khai thác.

Hiện nay PetroVietnam đang hợp tác với Idemitsu và Teikoku (của Nhật) để khai thác hai mỏ Đại Nguyệt và Sao Vàng (lô 05-01). Các công ty Nhật mạnh hơn Repsol và Rosneft vì (1) Họ có thể thuê tàu khảo sát và tàu khoan của Nhật; (2) Trung Quốc và Nhật đã có quan hệ làm ăn tốt trong mấy năm qua nên chắc Trung Quốc không muốn làm mất lòng Nhật; (3) Chính quyền Biden sẽ mau chóng phối hợp chính sách với Nhật ở khu vực; (4) Nhật có thể điều tàu tuần duyên hay hải quân phối hợp với tàu hải cảnh của Việt Nam để bảo vệ lô 05-01; (5) Trung Quốc phải tính đến yếu tố Nhật Bản có hiệp ước an ninh với Mỹ.

Trong khi đó, Việt Nam là khâu yếu nhất, như vụ Respol và Rosneft đã chứng minh khi lãnh đạo Việt Nam phải xuống thang trước sức ép của Trung Quốc, phải bỏ hợp tác với Repsol (Tây Ban Nha). Hiện nay các công ty dầu khí của Nhật đã bỏ vốn và kế hoạch khai thác của họ đã được chính phủ Việt Nam phê duyệt. Trong khi ExxonMobil (của Mỹ) có thể rút khỏi dự án Cá Voi Xanh trước một số khó khăn mới, tập đoàn này muốn xây dựng nhà máy điện khí hóa lỏng có vốn đầu tư hơn 5 tỷ đô la Mỹ tại Hải Phòng.

Hợp tác Mỹ-Việt về năng lượng, bao gồm các dự án nhà máy điện chạy bằng khí hóa lỏng (LNG) nhập khẩu từ Mỹ là một di sản của chính quyền Trump mà chính quyền Biden chắc sẽ đẩy mạnh. Đây là lĩnh vực hợp tác đang được hai nước ưu tiên thúc đẩy vì “ý nghĩa chiến lược đúp”, vừa giúp giảm thiểu sức ép về thặng dư thương mại, vừa hỗ trợ Việt Nam về an ninh năng lượng và bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông.

Rủi ro trong thương mại Mỹ – Việt

Gần đây, Chính quyền Trump đã “gắn mác” Việt Nam “thao túng tiền tệ” (16/12) sau khi Bộ Tài chính Mỹ công bố kết luận Việt Nam (và Thuỵ Sỹ) đã vượt cả ba ngưỡng về thao túng tiền tệ bao gồm (1) các tiêu chí về can thiệp vào thị trường ngoại hối, (2) thặng dư tài khoản vãng lai và (3) thặng dư thương mại. Trước khi rời nhiệm sở (20/1), Trump dọa đánh thuế hàng may mặc và giày dép, đồ gỗ, điện tử và gia dụng của Việt Nam. Mỹ nhập khoảng $65 tỷ hàng hóa từ Việt Nam (trong 10 tháng đầu năm 2020) so với $ 66,6 tỷ (cả năm 2019).

Theo chỉ đạo của Trump, Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) đã tiến hành điều tra (từ tháng 10/2020) việc định giá tiền tệ của Việt Nam (theo điều khoản 301) và sẽ điều trần công khai (ngày 29/12) trước khi công bố kết quả (ngày 7/1/2021). Động thái này của Trump không chỉ làm khó cho Chính quyền Biden với một di sản bất lợi, mà còn làm hại cho quan hệ Mỹ-Việt vì Việt Nam là đối tác quan trọng nhất của Mỹ trong ASEAN, theo tầm nhìn Indo-Pacific và trước diễn biến ở Biển Đông.

Nhưng Mỹ có trừng phạt Việt Nam hay không còn phụ thuộc vào chính quyền mới, khi Bộ trưởng Tài chính Janet Yellen sẽ xem xét lại (tháng 4/2021). Tuy quan điểm của Yellen đối với các nước dùng đòn bẩy vĩ mô trong chính sách tiền tệ và tài khóa khá linh hoạt, nhưng Blinken nói (tháng 9/2020) sẽ “kiên quyết thực hiện luật lệ thương mại của Mỹ mỗi khi gian lận nước ngoài đe dọa việc làm của Mỹ”. Dù quyết định của Mỹ là “tượng trưng”, nó có thể làm lãnh đạo Hà Nội phải suy nghĩ lại xem có thể tin vào Mỹ như một đối tác chiến lược hay không và tác động đến sắp xếp nhân sự và quyết sách của Hà Nội cho 5 năm tới.

Giám đốc Amcham tại Viet Nam Adam Sitkoff nói “thao túng tiền tệ không phải là một vấn đề đối với các thành viên của chúng tôi, và bất cứ hành động tiềm ẩn nào trong những ngày cuối của chính quyền này làm tổn hại cho kinh tế Việt Nam qua trừng phạt bằng thuế quan sẽ làm tổn hại cho quan hệ đối tác gần gũi mà hai nước đã đạt được”.

Theo Nikkei, thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ đã tăng từ 32 tỷ đô la (2016) lên 38,3 tỷ (2017), 39,4 tỷ (2018), 55,7 tỷ (2019) và 58 tỷ đô la (2020), còn lớn hơn cả Nhật (57 tỷ, 2020). Việt Nam xếp thứ tư trong số các đối tác thương mại của Mỹ (2019), nay đã vượt qua Nhật để xếp thứ ba, chỉ sau Trung Quốc và Mexico (2020) về thặng dư thương mại song phương. Đáng chú ý là tuy Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam nhưng Việt Nam chỉ chiếm 2,7% nhập khẩu của Mỹ. Chưa biết Việt Nam có thoát các biện pháp “trừng phạt” của Mỹ hay không nhưng cuộc điện đàm giữa Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Tổng thống Donald Trump (ngày 22/12) có thể coi là một nỗ lực của Việt Nam để thoát khỏi viễn cảnh này.

Thực ra trong mấy năm qua (2018 và 2019), chính quyền Trump đã gây sức ép với Việt Nam, và đánh thuế nhập khẩu 456 % lên thép của Việt Nam, và gọi Việt Nam là “kẻ lạm dụng tồi tệ nhất” (single worst abuser of everybody). Do hệ quả của chiến tranh thương mại, nhiều công ty nước ngoài đã rời Trung Quốc để chuyển sang Việt Nam, nhưng “Việt Nam đã lợi dụng chúng ta còn tồi tệ hơn cả Trung Quốc”.

Để triển khai chiến lược “Trung Quốc cộng một”, nhiều công ty nước ngoài đã rời Trung Quốc. Việt Nam đã thu hút được hơn 38 tỷ đô la đầu tư FDI năm 2019, tăng 7,2% so với năm 2018. Samsung Electronics đã chuyển dây chuyền sản xuất điện thoại thông minh sang Việt Nam và xuất khẩu của họ chiếm 1/4 giá trị xuất khẩu của Việt Nam (năm 2019). Ngoài Samsung, còn nhiều công ty khác có nhà máy ở Việt Nam như Canon, Toyota, Honda, Panasonic, LG Electronics, Hyundai, TCL Technology, Foxconn Technology, v.v…

Chiến tranh thương mại Mỹ – Trung và đại dịch Covid-19 đã gây khủng hoảng chuỗi cung ứng toàn cầu. Chủ chương tách Mỹ khỏi Trung Quốc về kinh tế và công nghệ là một cách đối phó bị động của Chính quyền Trump làm nhiều doanh nghiệp phải rời Trung Quốc và chuyển đến các nước Châu Á khác như Việt Nam, Indonesia, Ấn Độ, v.v… Tuy Việt Nam được hưởng lợi từ dòng chuyển dịch này nhưng dễ tiếp tục sa vào “bẫy gia công” nếu không cơ cấu lại doanh nghiệp và đổi mới thể chế để tăng cường nội lực. Theo các chuyên gia, thay vì trừng phạt Việt Nam “thao túng tiền tệ”, Mỹ có thể ép Việt Nam nhập thêm hàng hóa của Mỹ và ngăn chặn hàng hóa Trung Quốc tuồn qua Việt Nam để xuất sang Mỹ.

Lời kết

Theo thông báo chính thức, Đại hội Đảng lần thứ 13 sẽ họp từ ngày 25/1 đến 2/2/2021 để chuyển giao lãnh đạo và xác định đường lối cho 5 năm tới. Năm 2020, Việt Nam đã đạt được thành tích ấn tượng trên ba mặt chính. Một là kiểm soát được đại dịch Covid-19 (đến nay chỉ có 1.454 người nhiễm bệnh và 35 người chết). Hai là tiếp tục chống tham nhũng và “tự diễn biến”; Ba là kinh tế vẫn tăng trưởng dương (2,9%) trong khi đại dịch làm kinh tế toàn cầu suy thoái. Năm 2021 (dưới thời Biden) có hai vấn đề nổi cộm mà Việt Nam phải tháo gỡ là nhân quyền và vấn đề thao túng tiền tệ.

Năm 2020 Việt Nam làm chủ tịch ASEAN và tổ chức thành công các Hội nghị Cấp cao ASEAN 37, Hội nghị Cấp cao Đông Á 15 (trực tuyến), và sau đó tổ chức lễ ký trực tuyến hiệp định thương mại RCEP (15/11/2020). Nhưng các sự kiện quan trọng nói trên vẫn chưa đem lại đổi mới thể chế như dư luận mong đợi. Ngoài nguyên nhân nội tại, Viêt Nam vẫn mắc kẹt trong thế đối đầu Mỹ – Trung ở khu vực nên vẫn phải tiếp tục giữ thế cân bằng như tại “ngã ba đường” với trò chơi “hedging” (phòng bị nước đôi) với hai nước lớn. Tiếp theo chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, đại dịch Covid-19 đã đẩy Việt Nam và thế giới vào nguy cơ khủng hoảng kinh tế, đặc biệt là khủng hoảng chuỗi cung ứng toàn cầu. Sự kiện bầu cử Tổng thống Mỹ đầy kịch tính cuối năm 2020 đã trùm lên nước Mỹ và thế giới đám mây đen khủng hoảng chính trị và khủng hoảng truyền thông.

Còn quá sớm để nhận định về chính sách đối ngoại của chính quyền mới khi chính sách đó còn đang hình thành và khi Joe Biden chưa chính thức tuyên thệ nhậm chức. Nhưng sẽ quá muộn nếu để đến lúc đó mới bắt đầu tìm hiểu và trao đổi về chính sách đối ngoại mới, vì tầm quan trọng của nó đối với Việt Nam và ASEAN cũng như toàn cầu. Tuy nhiên, do chính sách mới còn đang hình thành, chúng ta cần tiếp tục cập nhật thông tin và đổi mới tư duy cùng hệ quy chiếu để phân tích các sự kiện.

Thích hay không, nước Mỹ và thế giới phải chuẩn bị tinh thần cho bốn năm hay tám năm của Chính quyền Joe Biden. Trong khi chính quyền mới ưu tiên tập trung giải quyết các vấn đề nội bộ cấp bách như đại dịch Covid-19, phục hồi kinh tế và hàn gắn đất nước, chính sách đối ngoại của chính quyền mới liên quan đến Trung Quốc và khu vực Indo-Pacific nhiều khả năng sẽ không thay đổi mấy về thực chất, ngoài cố gắng hàn gắn các quan hệ đồng minh và cam kết quốc tế của Mỹ.

NQD. 3/1/2021

Mỹ - Nga - Trung trong định hình trật tự thế giới mới

 Từ lâu nay 3 nước lớn Mỹ, Trung Quốc và Nga luôn tồn tại mối "liên hệ tay ba", nó dựa vào nhau và lợi dụng lẫn nhau nhằm chống ho...