Thứ Hai, 15 tháng 4, 2013

Mục Nam Quan tới Mũi Cà Mâu



"Từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mâu"

Chuyến đi Trung Quốc qua đường Lạng Sơn sang Bằng Tường Nam Ninh rồi tạt về phía tây tới Côn Minh Vân Nam. Từ đó vượt lên Đại Lý Lệ Giang trải vài ngàn cây số đường bộ... Phải nói đây là một chuyến đi rất thú vị vì mọi người trong đoàn chúng mình được thưởng lãm khung cảnh núi non hùng vĩ và các danh thắng, lại được người Trung Quốc tôn tạo và khai thác rất có nghiệp vụ phục vụ ngành du lịch hái ra tiền của họ…

Lẽ ra cảm giác nhiều phần vui vẻ đó phải giữ lại được, nhưng khi trở về qua cửa ải Nam Quan (tên xưa) và bây giờ người ta gọi vùng biên giới xuất nhập cảnh giữa hai nước Việt Nam Trung Quốc là cửa khẩu Hữu Nghị Quan thì lại thấy rất nhiều cái thoáng gợn, bực mình… Và có lẽ bực mình nhất, thấy trong lòng nao nao buồn là khi đứng nhìn lại cái cột mốc biên giới quốc gia (mình chụp cái ảnh để ở đầu bài viết này vào lúc hơn 6 giờ chiều ngày 14/4/2013)… 

Vì sao ở trên mình viết là "nhìn lại"? Bởi cũng đã mấy lần mình được nhìn thấy cái cột mốc này ở những chuyến đi trước đây. Và cận kể là trước đó mấy ngày, sáng 8/4 mình cũng bước chân qua đây với cùng một tâm trạng này. Nó gợi lại một ký ức buồn, cảm thấy như mình bị thua thiệt một cái gì đó, như bị ai đó cướp mất cái gì quý giá thiêng liêng... Có đúng không một thực tế là nước người ta cậy khỏe cậy lớn ép nước mình phải chịu thế lép?

Không phải mình mà nhiều người khác qua đây, những người bạn Việt Nam đồng hành với mình trong các chuyến đi khác nhau cũng đều có chung ý nghĩ ấy…

Trở về nhà, có điều kiện mình đọc lại khá nhiều bài viết cùng những tài liệu khác nhau của nhiều tác giả từ trong nước đến ngoài nước viết về “cái cửa ải” được coi là phân chia biên giới Việt – Trung có ý nghĩa tiêu biểu nhất này thì thấy ra được nhiều vấn đề. Hầu như tất cả các bài viết trên mạng interrnet mình sưu tầm được đều nói lên một cái gì đó như sự thua thiệt về đất đai mà ông TQ to xác bắt nạt chúng ta thâu tóm về cho họ? Trong khi đó những tư liệu chính thức chính thống của nhà nước vẫn một lập trường kiên định là công việc cắm mốc biên giới - trong trường hợp cụ thể là đối với cửa khẩu Hữu Nghị Quan - là một thắng lợi ngoại giao, là một thành tựu đầy ý nghĩa về đàm phán biên giới của chúng ta.

Vậy nói gì, nói như thế nào cho hợp lý cho hợp lẽ phải với việc này? 

Rất khó rồi. Nhưng mình vẫn thấy cách tốt hơn cả là hãy qua câu chuyện cột mốc số 0 gần Hữu Nghị Quan này thì nên đưa lại ít tài liệu tư liệu phân tích các khía cạnh lịch sử về cột mốc đó. Cột mốc cây số 0 này được khắc sâu vào lòng dân tộc Việt mình. Mấy dòng viết sau đây:” Nước ta kéo dài từ Mục Nam Quan đến mũi Cà Mâu” chắc chắn là ai chẳng học thuộc lòng khi bé thơ với bài sử khai tâm? Nhưng bây giờ nhìn thấy cây cột mốc (như tấm ảnh đầu bài) bên cạnh Ải Nam Quan - Hữu Nghị Quan nó mốc mác, lở vỡ trong khung cảnh trơ trọi thật là thấy lòng buồn so...

Vệ Nhi

-----

DƯỚI ĐÂY LÀ MỘT SỐ TÀI LIỆU, TƯ LIỆU VÀ NHẤT LÀ TƯ LIỆU ẢNH VỀ MỤC NAM QUAN – HỮU NGHỊ QUAN ĐỂ MỌI NGƯỜI THAM KHẢO    

          

Câu chuyện sử liệu về Ải Nam Quan - Hữu Nghị Quan 

Ngày 25/2/2009 Việt Nam Trung Quốc cử hành lể chào mừng hoàn thành công tác cắm mốc. Theo hiệp đinh ký kết ngày 30/12/1999 giữa TQ và VN chấp nhận đường ranh biên giới tại khu vực Hửu Nghị bắt đầu từ cột Km 0 nằm trên đường nối ngang quốc lộ 1A giữa hai cột mốc 1116 (thay cho cột 18) và cột mốc 1117.

Vị trí cột mốc mới (nguồn Bộ ngoại giao VN) 

Lưu ý : Cột mốc phân chia biên giới (có tính cách pháp lý) khác với cột cây số không (Cột Km 0). Theo Hiệp ước 30/12/1999 giữa TQ và VN, cột Km 0 vì nằm ngang với cột biên giới 1116 và 1117 nên cũng  được xem như cột  ranh giới khởi đầu của Quốc lộ 1A của VN, và Quốc lộ 322 của TQ.

Vị trí các cột mốc

Những ngọn đồi ở phía đông và đông-nam, tây và tây-nam ở vùng ải Nam Quan

Cột mốc 1116 nằm trên khu đất cao, ngang với Cột mốc Km 0

Hình chụp ngày 23/1/2011 thì khoảng cách từ cột biên giới (cột cây số 0) đến Hửu Nghị Quan ước lượng 400 - 500m.

--------

Cột mốc biên giới Km0 qua nhiều biến đổi

 
                                Cột biên giới 18 

Theo Hiệp định Pháp - Trung 26/6/1887 cột biên giới 18 chôn ở chân tường cửa Ái Nam Quan Việt Nam. Người ta còn giữ được hình do quân Nhật chụp tháng 7/1940, trên cột có viết “Trung Việt Quốc Gíới, Trấn Nam Quan ngoại, đệ thập bát hiệu, No 18 Frontiere”
Theo ông Vủ Dủng, hồi đó 2007 là thứ trưởng bộ ngoại giao cho biết cột mốc 18 đã mất vì yếu tố thời gian... Nhưng có những bài viết ở nhiều góc độ chính trị khác nhau cho rằng ông Dũng nói như vậy là chưa đúng vì ông chả lẽ quên sự kiện năm 1979 phía Việt Nam đã từng tố cáo TQ như sau:“…đã ủi nát mốc biên giới số 18 rồi đặt cột Km 0 sâu vào lảnh thổ VN trên 100m, trên đường quốc lộ (1A bây giờ)".
Vậy lịch sử, nhất là lịch sử phân giới cắm mốc để định vị biên giới quốc gia là một việc của các quan chức phụ trách là vô cùng hệ trọng, cần đứng trên quan điểm tất cả vì lợi ích đất nước và tiến hành công việc đó với đầy tính trách nhiệm trước quốc gia và dân tộc.

                                           Năm 2000

                                                   Năm 2005, chử Quan biến mất

                                          Tháng 23 tháng 1 năm 2011, chử Km 0 biến mất

Theo chữ viết bên hông cột mốc Km 0, Đl 6-8-1965, có thể là ngày cột được dựng lên. Cột này nằm ngang với cột mốc 1116 và 1117 ngang qua Quốc Lộ 1A (tham khảo hình 18, 19)
Vùng ranh giới có dấu hiệu thay đổi không ngừng, điều nay cho ta thấy TQ tìm mọi cách để xóa bỏ vết tích của việc lấn đất. 
Qua đây có cảm giác cái cột Km 0 luôn luôn thay đổi, nằm trên lằn ranh giới một cách thờ ơ, miển cưởng. Phiá cửa khẩu Việt Nam từ trụ Km 0 đến trạm biên phòng, toàn cảnh nhìn thấy hiện nay vẫn có tính cách tạm bợ, đơn giản. Trong khi đó quang cảnh phía TQ vừa mỹ quan vừa uy nghi với những tòa nhà phục vụ cho việc hải quan, thông thương qua biên giới. 


       Quang cảnh cửa khẩu Trung Quốc (trái)        Quang cảnh cửa khẩu Việt Nam (phải)

Biên bản cấm mốc thời Pháp - Thanh, 1894
                   Đại Nam Nhẩt thống Chí -1882

Tài liệu vong lục của Bộ Ngoại giao VN công bố 15-3-79
Quang cảnh cửa khẩu Hửu Nghị từ cột Km 0 đến cổng Cảnh sát Biên phòng

Một vị quan trấn Ải thời nhà Nguyển
------- 



Tóm lược lịch sử khu vực Ải Nam Quan
Một đặc điểm chung của Trung Quốc khi xua quân tràn vào Việt Nam họ đều phải đi qua ngõ Ải Nam Quan tiến vào Lạng Sơn, điều này chứng tỏ đây là một vị trí chiến lược quan trọng cho tới ngày nay. Trong suốt các thời đại, Ải Nam Quan đã chứng kiến bao nhiêu chiến tích lịch sử gắn liến với vận mệnh của dân tộc và lảnh thổ Việt Nam.
1.      Tháng 10-979 Đinh Tiên Hoàng và con Đinh Liển bị sát hại. Vệ vương Đinh Toàn mới 6 tuổi lên ngôi vua. Lê Hoàn trở thành Nhiếp chính đại thần. Triều thần nổi dậy chống Lê Hoàn, Lê Hoàn dẹp loạn. Nhà Tống thấy loạn diện cớ sai Hầu Nhân Bảo tấn công Đại Cồ Việt qua đường Lạng Sơn, đi qua ải Nam Quan. Trước tình hình khẩn trương, ông lên ngôi xưng là Đại Hành Hoàng Đế, lấy niên hiệu là Thiên Phúc (980-988). Năm 981, quân Tống bị đánh bại,tướng nhà Tống, Hầu Nhân Bảo bị bắt và bị chém tại  Ải Chi Lăng (1)
2.      Thoát Hoan theo lịnh vua nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt (Kubilai) dùng kế xin VN qua cửa Ải để phạt Chiêm Thành, thực sự đem quân tấn công Đại Việt bằng đường bộ qua Ải Nam Quan Lạng Sơn, tháng chạp năm Giáp Thân (1284) Thượng Hoàng (vua Thánh Tông) cho triệu các bô lão tới điện Diên Hồng để trưng cầu dân ý cùng hỏi mưu chước. Các bô lão đều đồng thanh xin đánh. Thế là qua hai hội nghị (Diên Hồng và Bình Than), toàn quốc đã nhất trí kháng địch. Quân bản bộ của Thoát Hoan đến cửa Nam Quan thì ngừng lại. Thoát Hoan phái Bá Tổng A Lý mang thư qua nói: “Bản súy chỉ nhờ đường Nam quốc qua đánh Chiêm Thành, chứ không có bụng gì đâu mà ngại. Nên mở cửa cho bản súy đi và đến đâu chỉ nhờ giúp ít nhiều lương thảo, khi phá xong Chiêm Thành sẽ có trọng tạ. Nhược bằng kháng cự thiên binh, bản súy sẽ không dong tình, bờ cõi sẽ tan hoang, lúc đó có hối cũng đã muộn” (2)
3.      Năm 1285, Thoát Hoan thua trận phải chui vào ống đồng trốn vế Tàu cũng qua ngả Nam Quan. (3)
4.      Năm 1308 Trạng Mạc Đĩnh Chi đi sứ nhà Nguyên, đến cửa khẩu sai hẹn, quan Tàu giử cửa đang chờ, biết nếu trể thì cửa phải đóng, trạng phải ngủ lại trạm dịch, quan vui miệng ra câu đối  “Tới cửa ải trễ, cửa quan đóng, mời khách qua đường cứ qua”   (4)
5.      Dưới thời vua Hồng Vủ nhà Minh 1368-1398 Chiêu Đức đài. (Zhaozhong flatform) được xây dựng  tại Nam Quan (hình 1, ( 5))
6.      Tháng 9, mùa Thu 1401, đời nhà Hồ (1401-1407). Nhà Minh sai đại tướng quân Chu Năng, phó tướng quân là bọn Trương Phụ, Mộc Thạnh đem quân sang đánh Hồ Hán Thương (con của Hồ Quý Ly) .Khi tiến quân đến Long châu, Chu Năng chết, Trương Phụ được bổ lên thay. Phụ bèn theo đường Bằng Tường thuộc Quảng Tây tiến quân đến quan ải Pha Lũy (ải Nam Quan), kéo thẳng đến sông Phú Lương… (7)
7.      Tháng 6 Đinh Hợi 1406 Nguyền Trải tiển cha Nguyển Phi Khanh bị vua nhà Minh bắt sang tàu cùng cha con Hồ Quý Ly ở Aỉ Nam Quan.(6)
Năm 1406, tháng 9, nhà Minh sai Chinh Di hữu phó tướng quân đeo ấn Chinh di phó tướng quân Tân Thành hầu Trương Phụ, Tham tướng Huỳnh Dương Bá Trần Húc, đem 40 vạn quân đánh vào cửa ải Pha Lũy (ải Nam Quan) cứ một toán mai phục, một toán hành quân, thay nhau phiên nhau cứu ứng lẫn nhau. (8)
8.   Tháng 6. Mùa hạ 1427, tháng 6, ngày mồng 10, thời vua Lê Lợi,  trấn thủ Quảng Tây Chinh man tướng quân Trấn Viễn Hầu Cố Hưng Tổ của Nhà Minh đem 5 vạn quân, 5 nghìn cổ ngựa, từ Quảng Tây sang cứu viện các thành. Đến cửa ải Pha Lũy (Nam Quan) bị tướng giữ ải Lê Lựu, Lê Bôi đón đánh ngay tại cửa ải, phá tan quân giặc, chém hơn 3.000 thủ cấp, bắt được 500 ngựa. Hưng Tổ thua to chạy về. (9)
9.      Tháng 8 nam 1427 Liểu Thăng bị quân Lê Lợi chém chết tại Ải Chi Lăng, tàn quân Minh trốn về nước qua Ải Nam Quan (7)
10.  Khi họ Trịnh (Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng) đã vào được Thăng Long, Mạc Đăng Dung thấy tình thế bất lợi, cho người nhà Mạc sang kêu với vua Minh rằng họ Trịnh nổi lên tranh ngôi chớ không phải con cháu nhà Lê. Một phái đoàn của Minh triều được cử sang Nam Quan khám xét.
Tháng 3 năm Bính Thân (1596) các quan nhà Lê là Hộ Bộ thượng thư Đỗ Uông, Đô Ngự Sử Nguyễn Văn Giai (sau lại có hai hoàng thân Lê Cánh, Lê Lựu cùng Công Bộ Tả Thị Lang Phùng Khắc Khoan) đem 10 người kỳ mục, 100 cân vàng 1.000 cân bạc, và cái ấn An Nam Đô Thống Sứ của nhà Mạc và cái ấn An Nam Quốc Vương của vua Lê ngày trước lên trình các quan nhà Minh ở Nam Quan..
11.  Các quan nhà Minh đòi vua Lê Thế Tông phải lên gặp họ. Trịnh Tùng đành cử Hoàng Đình Ái, Nguyễn Hữu Liêu đem một vạn quân đi hộ giá. Nhà Minh đòi phải nộp người vàng và ấn vàng như cũ, rồi không chịu đến hội. Chờ không lâu được vua Thế Tông lại trở về.
12.  Tháng tư năm sau, nhà Minh lại mở cuộc họp thứ hai cũng vẫn tại Nam Quan. Lần này 5 vạn quân đi hộ vệ nhà vua cũng do Hoàng Đình Ái chỉ huy, chừng e quan nhà Minh trở mặt bắt vua Lê chăng. Cuộc đàm phán thành tựu vì phái đoàn của nhà Lê chịu nhận chức Đô Thống Sứ và cử phái đoàn sang nộp cống tại Yên Kinh, sau này Phùng Khắc Khoan còn dâng sớ cố nài nhà Minh phong vương cho vua Lê. Từ đó hai nước có sự thông sứ như trước còn nhà Mạc thì được nhà Minh can thiệp nên nhà Lê phải để cao bằng thuộc gia quyến nhà Mạc (10)
13.  Đinh Hợi, năm thứ 5 (1647) thời Lê chân Tông, nhà Minh sai bọn Phan Kỳ đệ tờ sắc cáo, cùng đi với bọn Nhân Chính do Trấn Nam Quan sang nước ta, sắc phong thái thượng hoàng làm An Nam quốc vương. (8b)
14.  Quý Hợi, năm thứ 4 (1683). (Thanh, năm Khang Hy thứ 22).
Tháng 6 năm trước, vua nhà Thanh hạ lệnh cho quan chức Quảng Tây giao trả tù binh gồm những người nhà Mạc là bọn Kính Liêu. Tích Dục tuần phủ Quảng Tây, báo tin ấy cho nước ta biết Triều đình sai phó đô ngự sử Vũ Duy Đoán và trấn thủ Lạng Sơn là hoạn quan Thân Đức Tài cùng nhau đến cửa ải nơi biên giới tiếp nhận tù binh (12)
15.  Năm 1725 Án sát tỉnh Quảng Tây Cam Nhữ Lai vào thời Gia Tĩnh (Yongzheng) nhà Thanh 1722-1735 tu bổ cửa Nam Quan, gồm có một tầng và một cửa đôi để qua lại, năm 1728 cho treo phía trong tường biển đề Trấn Nam Quan, (Zhennan Pass), phía ngoài “Nam cương trọng trấn”. Đời vua Càn Long nhà Thanh, lại cho treo tấm biển “Trung Ngoại Nhất Gia”. Cửa có khóa, chỉ mở khi nào có sứ bộ đi qua (hình 2, ( 13))
16.  Năm 1774. Ðốc trấn Lạng Sơn là Nguyễn Trọng Ðang cho tu sửa, xây lại Ải Nam Quan bằng gạch. Về việc sửa sang đài Ngưỡng Ðức, văn bia của Nguyễn Trọng Ðang ghi khắc có đoạn như sau:
“… Ðài “Ngưỡng-Ðức” không biết dựng từ năm nào; hình như mới có từ khoảng niên hiệu Gia-Tĩnh nhà Minh, ngang với niên-hiệu Nguyên-Hòa, đời vua Lê Trang Tông ở nước ta. Ðài không có quán, hai bên tả hữu lợp bằng cỏ; sửa chữa qua loa, vẫn theo như cũ. Nhà Lê ta trung hưng, đời thứ 14, vua ta kỷ-nguyên thứ 41, là năm Canh tý, ngang với năm thứ 44 niên hiệu Càn-Long nhà Thanh; Ðang tôi làm chức Ðốc-trấn (Lạng-Sơn), trải qua 5 năm là năm Giáp-thìn, sửa chữa lại, xây dựng bằng gạch ngói, đài mới có vẻ hoành tráng…”.(hình 2, (13,14))
17.  Năm 1788, tháng 10,theo lời cầu viện của Lê Chiêu Thống, vua nhà Thanh Càn Long (1736-1795) cử Tổng đốc lưỡng Quảng, Tôn Sĩ Nghị cầm đại quân sang Đại Việt, đi bằng ba ngả: Cao Bằng do Sầm Nghi Đống; Tuyên Quang do Đề tổng Vân Nam và Quý Châu, họ, Ô; còn Tôn Sĩ Nghị cùng Hứa Thế Hanh qua Trấn Nam Quan tràn vào Đại Việt (15).
Tôn Sỉ Nghị phỏng đoán từ đài Chiêu-đức (Trấn Nam Quan) đến đô thành nước họ (La thành, Hà Nội), quân đi chẳng qua chỉ mất có 6 ngày (16)
18.  Năm 1804, tháng giêng, vua Gia Long trú tất ở Hành cung Thăng Long. Có sứ Tàu là Tề Bố Sâm đến cưả Nam Quan để đem cáo sắc và Quốc Ấn sang tuyên phong. Ngài nghe tin, cho Trương Tấn Bửu, Đặng Trần Thường sung chức quan thượng hầu mạng sứ, lại sai đình thần lựa người đẹp tiếp sứ. (17)
19.  Trong chiến Tranh Trung Pháp, ngày 25 Tháng 2 Năm 1885, Tướng Pháp De Negrier đặt chất nổ san bằng Trấn Nam Quan (Porte de Chine à Nam Quan) (35). Trong cuôc đàm phán về Công Uớc giữa 8 thang 4 đến 4 tháng 5 năm 1885. Pháp và TQ đồng ý biên gìới VN là địa điểm cách Trấn Nam Quan và gần con suối. Suối này cách cổng 150m có lẻ là suối Phi Khanh (tên phong cho con suối nơi Nguyền Trải khóc tiển cha-Nguyển phi Khanh-quan nhà Hồ (1401-1407)- bị bắt giải về Tàu) (hình 28a).
20.  26 tháng 6 năm 1887, Công Ước Về Hoạch Ðịnh Biên Giới Giữa Việt Nam và Trung Quốc ký giữa Pháp và Nhà Thanh. Ngày 21 tháng 04 năm 1891 tiến hành cắm cột mốc tại vùng biên giới gần ải Nam quan. Trong Công Ước có nói rỏ Biên giới Tonkin tại cột mốc 25 (sau là 18) nằm 100m  cách Trấn Nam Quan (porte de Chine à Nam Quan) (hình 28a và 28b)
21.  Sau thỏa uớc Pháp Thanh 1887, Tô Nguyên Xuân (Su Yuanchun) nhà Thanh cho xây lại Trấn Nam Quan với hai tầng lầu và cho xây miếu Quan Đế và đền Chiêu Trung (Zhaozhong hall) phía sau Trấn Nam Quan (18). Cửa Ải của Việt Nam có lẻ cũng được Pháp xây lại cùng thời.
22.  Năm Quang Tự (Guangsu) nhà Thanh 1896, Trấn Nam Quan được trùng tu, dở bỏ miếu Quan Đế và đền Chiêu Trung để xây Pháp Quốc Lầu (18)
23.  Năm 1907Tôn Trung Sơn và Hoàng Hưng phát động cuộc khởi nghĩa Trấn Nam Quanchống Thanh, nhưng thất bại. (19)
24.  Vùng Trấn Nam Quan bị liên tiếp phá hủy bởi chiến tranh Trung Nhật 1937-45 và chiến tranh quốc cộng 1949 , ngày 20-12-1939 quân Nhật bôi xóa chử Trấn Nam quan và đốt  lầu Trấn Nam Quan (19)
25.  Sau 1949 Mao Trạch Đông trùng tu Trấn Nam Quan cho xây thêm tầng các, nóc lợp ngói lưu li (20)
26.  Năm 1957 Chính phủ Quảng Tây trùng tu Mục Nam Quan với kiến trúc ba tầng như hiện nay (18)
27.  Năm 1965 Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh đồng ý đổi Mục nam Quan thành Hửu Nghị Quan, phía Việt Nam gọi là cửa khẩu Hửu Nghị cho tới nay 2011.  (22)
28.  Từ ngày 17 tháng 2 năm 1979, trong Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tung trên 200.000 quân tấn công Việt Nam ở sáu tỉnh biên giới: Lai Châu,Lào CaiHà GiangCao BằngLạng Sơn và Quảng Ninh, và đã chiếm được các thị xã Lào CaiCao BằngLạng Sơn. Bộ binh Trung Hoa vào thị xã Lào Cai bằng thung lũng sông Hồng, vào thị xã Cao Bằng theo thung lũng sông Bằng (Bằng Giang), và vào thị xã Lạng Sơn qua Ải Nam Quan. Có một vài thông tin chưa được kiểm chứng cho rằng sau khi rút quân ngày 5 tháng 3 năm 1979, quân Trung Quôc vẫn chiếm giữ vùng đất phía nam ải Nam Quan, và trạm hải quan (quan thuế) của Việt Nam phải dời xuống phía nam ải nầy, sâu trong lãnh thổ Việt Nam. (36)
29.  Năm 1999, ngày 30 tháng 12, tại Hà nội, hai ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm của Việt Nam vàĐường Gia Triền của Trung quốc chính thức ký ‘Hiệp ước biên giới trên đất liền’, theo đó Ải Nam Quan thuộc về Trung quốc. Bản hiệp ước này được quốc hội Trung quốc thông qua ngày 29 tháng 4 năm 2000, và quốc hội Việt Nam thông qua ngày 9 tháng 6 cùng năm, và việc cắm mốc biên giới bắt đầu từ năm 01 đến cuối năm 2008 là xong.
30. Ngày 25 tháng 2 2009 Viet Nam Trung Quốc cử hành lễ chào mừng hoàn thành công tác cắm mốc. VN chấp nhận phía Nam cột 1116 là cột Km 0 là biên giới VN, là khởi đầu của quốc lộ 1A từ Cửa khẩu Hữu Nghị đến Cà Mau.

Phụ lục
Tài liệu đề cập đặc biệt về Ải Nam Quan
1490-Tâm Quang-Langlet trong bài “La perception des frontières dans l’Ancien Vietnam à travers quelques cartes vietnamiennes et occidentales” (tạm dịch: Quan niệm biên giới ở Việt Nam thời trước qua vài bàn đồ Việt Nam và Tây Phương) trong quyển “Les frontières du Vietnam, Histoire des frontières de la péninsule indochinoise” (Các biên giới của Việt Nam, Lịch sử các biên giới trên bán đảo Ðông Dương), nhà xuất bản L’Harmattan, 1989, cho biết rằng trên bản đồ Hồng Ðức (được thiết lập vào năm 1490) có vẽ hình một cái đồn để tượng trưng cho ải Nam Quan và có ghi chú là Ải Nam Quan nằm ở huyện Văn Uyên (thuộc trấn Lạng Sơn, tức là thuộc về Việt Nam) và tại đấy có hai đài, đài Chiêu Ðức (thuộc về Trung quốc) và đài Ngưỡng Ðức (thuộc về Việt Nam).
1774-Năm 1774, Ðốc trấn Lạng-Sơn là Nguyễn Trọng Ðang cho tu sửa, xây lại Ải Nam Quan bằng gạch. Về việc sửa sang đài Ngưỡng Ðức, văn bia của Nguyễn Trọng Ðang ghi khắc có đoạn như sau:
“… Ðài “Ngưỡng-Ðức” không biết dựng từ năm nào; hình như mới có từ khoảng niên hiệu Gia-Tĩnh nhà Minh, ngang với niên-hiệu Nguyên-Hòa, đời vua Lê Trang Tông ở nước ta. Ðài không có quán, hai bên tả hữu lợp bằng cỏ, sửa chữa qua loa, vẫn theo như cũ. Nhà Lê ta Trung hưng, đời thứ 14, vua ta kỷ-nguyên thứ 41, là năm Canh tý, ngang với năm thứ 44 niên hiệu Càn-Long nhà Thanh; Ðang tôi làm chức Ðốc-trấn (Lạng-Sơn), trải qua 5 năm là năm Giáp-thìn; sửa chữa lại, xây dựng bằng gạch ngói, đài mới có vẻ hoành tráng…”.
1882-Theo Ðại Nam Nhất Thống Chí (1882) đoạn nói về Ải Nam Quan:
Trấn Nam Quan thuộc nội-địa nước Tàu, dựng dưới đời vua Gia-Tĩnh [1522-1566] nhà Minh. Năm 1726, dưới đời nhà Thanh, niên-hiệu Ung-Chính thứ-ba, quan Án-sát tỉnh Quảng-Tây là Cam Nhũ-Lai có cho tu-bổ lại cửa quan này.
Cửa này dài 110 trượng [khoảng 50m], có đề ba chữ Trấn-Nam Quan — nghĩa là cửa quan
để phòng giữ [trấn] ở phương Nam [hay người phương Nam]. Bên trong cửa này — vẫn
thuộc nội-địa Trung-quốc — có đài Chiêu-Đức và đình Tham-Đường là nơi đón tiếp sứ-bộ
nước ta mỗi khi sang Tàu công-cán và cũng là nơi sứ-bộ Trung-quốc nghỉ-ngơi trước khi
qua cửa quan này để sang nước ta (31). Đối-diện với Trấn-Nam Quan, thuộc xã Đồng-Đăng
và xã Bảo-Lâm thuộc châu Văn-Uyên, trấn Lạng-Sơn có đài Ngưỡng-Đức của nước ta, là
nơi đón tiếp sứ-bộ Trung-quốc qua ta công-cán. Ngưỡng-Đức Đài này trước lợp bằng cỏ;
năm 1774, Đốc-trấn Lạng-Sơn là Nguyễn Trọng-Đang cho tu-sửa, xây lại bằng gạch. Về
việc sửa sang đài Ngưỡng-Đức, văn bia của Nguyễn Trọng Đang ghi khắc có đoạn như sau
: .. ..Đài [Ngưỡng-Đức] không biết dựng tự năm nào; hình như mới có từ khoảng niên-hiệu
Gia-Tĩnh nhà Minh, ngang với niên-hiệu Nguyên-Hoà, đời vua Lê Trang-Tông ở nước ta.
Đài không có quán, hai bên tả hữu lợp bằng cỏ; sửa chữa qua-loa, vẫn theo như cũ. Nhà Lê
ta trung-hưng, đời thứ 14, vua ta kỷ-nguyên thứ 41, là năm Canh-tý, ngang với năm thứ 44
niên-hiệu Càn-Long nhà Thanh; Đang tôi [Nguyễn trọng-Đang] làm chức Đốc-trấn [Lạng-
Sơn], trải qua 5 năm là năm Giáp-thìn; sửa chữa lại, xây dựng bằng gạch ngói, đài mới có
vẻ hoằnh-tráng. ..
Bộ Đại Nam Nhất Thống Chí Quyển 14 viết về Ải Nam quan.
“Ải Nam Quan cách tỉnh thành (Lạng Sơn) 31 dặm về phía bắc, thuộc châu Văn Uyên, phía bắc giáp châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây nước Thanh, tức là chỗ mà người Thanh gọi Trấn Nam Quan. Cửa nầy dựng từ năm Gia Tĩnh nhà Minh, đến năm Ung Chính thứ 3 (1725) nhà Thanh, án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại có tên nữa là “Ðại Nam Quan”, phía đông là một dải núi đất, phía tây là một dải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường, gồm 119 trượng, cửa quan đặt ở quãng giữa có biển đề “Trấn Nam Quan”, dựng từ năm Ung Chính thứ 6 (1728) triều Thanh, có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở. Bên trên cửa có trùng đài, biển đề 4 chữ “Trung ngoại nhất gia”, dựng từ năm Tân Sửu [1781] đời Càn Long nhà Thanh. Phía bắc cửa có “Chiêu đức đài”, đằng sau đài có “Ðình tham đường” (nhà giữ ngựa) của nước Thanh; phía nam có “Ngưỡng đức đài” của nước ta, bên tả bên hữu, có hai dãy hành lang, mỗi khi sứ bộ đến cửa quan thì dùng chỗ nầy làm nơi tạm nghỉ.” (36)
1926-Theo “Ðịa-dư Các Tỉnh Bắc-Kỳ” của Ngô Vi-Liễn, Phạm Văn-Thư và Ðỗ Ðình-Nghiêm (Nhà in Lê Văn-Tân xuất-bản, Hà-Nội, 1926):
“Cửa Nam-Quan ở ngay biên-giới Trung-quốc và Việt-Nam. Kể từ Hà-Nội lên đến tỉnh-lỵ Lạng-Sơn là 150 km; đến cây-số 152 là chợ Kỳ-Lừa; đến cây-số 158 là Tam-Lung; đến cây-số 162 là Ðồng-Ðăng; đến cây-số 167 là cửa Nam-Quan đi sang Long-Châu bên Tàu. Như vậy từ Ðồng-Ðăng lên cửa Nam-Quan có 5 km; từ Kỳ-Lừa lên Nam-Quan mất 15 km [về phía tây-nam chợ Kỳ-Lừa có động Tam-Thanh, trước động Tam-Thanh có núi Vọng Phu hay tượng nàng Tô-Thị là những danh thắng của tỉnh Lạng-Sơn] và từ tỉnh-lỵ Lạng-Sơn lên Nam-Quan là 17 km.”
1960 -Quyển “Phương Ðình Dư địa chí” của Nguyễn Văn Siêu đời Minh Mạng (bản dịch của Ngô Mạnh-Nghinh, Tự Do xuất-bản, Saigon, 1960) thì ghi:
Về cửa hay ải Nam-Quan đời Hậu-Lê trở về trước gọi là cửa Pha-Lũy [hay Pha-Dữ], ở về phía bắc châu Văn-Uyên (1), trấn Lạng-Sơn. Từ châu Bằng-Tường [tỉnh Quảng-Tây] bên Trung-quốc muốn vào nước An-Nam [tức nước ta] phải qua cửa quan này. Theo Cương-mục, cửa Pha-Lũy chính là cửa Nam-Quan ở xã Đồng-Đăng thuộc huyện Văn-Uyên [xưa là Văn-Châu hay Châu Văn], tỉnh Lạng-Sơn. Từ đời Lê trunghưng, người Tàu gọi cửa Pha-Lũy là Trấn-Nam Quan; còn ta thì quen gọi là của hay ải Nam-Quan.
Theo,“Ải Nam Quan trong lịch sử” -sử gia Trần Gia Phụng, Thư viện Tiếu Lùn, 2006-12-25 :
Mặc dù từ thời Gia Long, thủ đô đã được dời vào Phú Xuân (Huế), tầm quan trọng của Hà Nội không còn như trước kia, nhưng nhà Nguyễn cũng hết sức coi trọng hệ thống cửa ải của Lạng Sơn, đặc biệt là hai cửa ải Nam Quan và Du Thôn. Theo Đại Nam thực lục, “phàm có sứ bộ qua lại thì do ải Nam Quan đưa đi, người phạm tội và dân bị bão xiêu dạt thì do ải Du Thôn”. Vào thời Lê có đặt hai hiệu để giữ hai ải, mỗi ải có hai chức quan là chánh và phó thủ hiệu, được cấp một chiếc ấn khắc chữ “Văn Uyên châu quảng úy sứ ty chi ấn” để mỗi khi tiếp lãnh công văn của nhà Thanh thì đóng ấn ấy làm tin. Đến đời Gia Long, nhà vua tiếp tục sử dụng hai quan thủ ải cũ là Nguyễn Đình Minh và Nguyễn Đình Giáp, cho Đình Minh làm Thủ hiệu giữ ải Nam Quan, Đình Giáp làm phó thủ hiệu giữ ải Du Thôn, và cấp cho ấn đồng khắc chữ triện “Văn Uyên châu thủ hiệu chi chương

NV sưu tầm 

Không có nhận xét nào: