Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Xuất hành lấy may tới Myanmar




“Xuất hành” đầu xuân tới Myanmar

Đầu xuân xuất hành lấy may tới Myanmar.

Năm qua 2011 nếu nói về một sự thay đổi chính trị ngoạn mục nhất phải kể tới trường hợp Myanmar. Đó là sự đổi thay, biến chuyển đất nước này theo hướng dân chủ hóa đời sống xã hội.

Suốt liền mấy tháng cuối năm ngoái báo chí toàn thế giới tập trung đưa tin về quốc gia Đông Nam Á này. Tại đây chính phủ dân sự đã liên tiếp cho tiến hành nhiều cải cách chính trị. Một luồng gió mới cho sự hy vọng vào tiến trình dân chủ hóa tại quốc gia vốn đóng cửa đã lâu với thế giới bên ngoài đã nhen nhóm...

Có lẽ trong thời gian dài mấy thập niên vừa qua, đất nước này có được đôi chút cởi mở với bên ngoài là chỉ được thực hiện với nhóm nước trong hiệp hội khu vực là Asean. Còn Mỹ và phương Tây thì hầu như cấm vận hoàn toàn với Myanmar, hệt như trường hợp họ áp dụng lâu nay với Cu Ba và Bắc Triều Tiên.

Thế mà nay đã xảy ra những việc “tày đình” như nhiều lần thả tù nhân chính trị, điều không thể nào tưởng tượng nổi khi còn chế độ quân phiệt độc tài. Giới cầm quyền đã cho nối lại đối thoại với lãnh đạo phong trào dân chủ Aung San Suu Kyi, người phụ nữ nổi tiếng với giải hòa bình Nobel nhưng liên tục bị chính quyền quân sự trước đây bắt giam hoặc quản thúc tại gia. Myanmar cũng cho mời các nhà đối lập khác đang lưu vong hồi hương để đóng góp cho đời sống chính trị trong nước…

Tất cả những điều đó đã tạo được sức thuyết phục đối với thế giới phương Tây cũng như các nhà quan sát chính trị bi quan nhất về một xu hướng mới, một khả năng cải cách đổi mới tại Myanmar trong thời gian sắp tới.

Đầu năm chúng ta cùng “xuất hành” sang đất nước Phật giáo nổi tiếng này như một “lá phiếu” ủng hộ tiến trình dân chủ hóa đất nước mà chính quyền dân sự của tổng thống đương nhiệm - ông Thein Sein - đang tiến hành.  

Vệ Nhi  

--------

Mời đọc "tham khảo" bài phỏng vấn đăng trên trang tin của đài quốc tế RFI Pháp:

Miến Điện mở ra trang sử hy vọng về dân chủ





Từ mười tuần lễ nay, chính phủ dân sự Miến Điện tiến hành một loạt cải cách chính trị tạo ra một luồng gió và hy vọng từng bước dân chủ hóa tại quốc gia Đông Nam Á này. Việc thả tù nhân chính trị, nối lại đối thoại với lãnh đạo phong trào dân chủ Aung San Suu Kyi, mời gọi các nhà đối lập lưu vong hồi hương cuối cùng đã tạo được sức thuyết phục đối với những nhà quan sát bi quan nhất về khả năng đổi mới tại Miến Điện.


Thông tín viên Arnaud Dubus tại Bangkok, sau hơn 10 ngày quan sát nhất là tại Rangoon và thủ đô hành chính Naypyidaw, phân tích thêm trong phần phỏng vấn sau đây:
RFI: Nhân chuyến công du của ngoại trưởng Pháp Alain Juppé tại Miến Điện , đồng nghiệp đã có dịp xuôi ngược từ Rangoon đến Naypyidaw , quan sát tận mắt, tiếp xúc với nhiều thành phần dân chúng xứ «ngàn ngôi chùa» này. Anh có cảm giác như thế nào?
Arnaud Dubus: Tại Rangoon, so với tình hình cách nay ba năm, chúng tôi nhận thấy ngay là đang có nhiều biến đổi. Một vài chi tiết thôi cũng đã phản ảnh được sự thay đổi này: thành phố sạch sẽ hơn, người dân vui vẻ thoải mái hơn, tươi cười nhiều hơn. Trong không khí có điều gì chứng tỏ niềm tin hy vọng trong dân chúng.
Bên cạnh đó còn có những dấu hiệu hiển nhiên. Có thêm nhiều tờ báo mới góp mặt, tăng gấp đôi so với tình trạng ba bốn năm về trước, và tràn ngập hình ảnh của giải Nobel Hòa bình Aung San Suu Kyi, cũng như chân dung các nhà dân chủ có tiếng tăm khác như nghệ sĩ sân khấu Zargana hay cựu lãnh đạo phong trào sinh viên Min Ko Naing, những chuyện mà cho tới gần đây không ai có thể tưởng tượng.
Một sự kiện ngoạn mục khác là khách sạn tại Rangoon đầy ắp du khách và doanh nhân đến nỗi khó tìm ra một phòng trống. Xe hơi lưu thông nhiều hơn và bắt đầu xảy ra hiện tượng kẹt xe hàng ngày.
Tuy nhiên có một vấn đề làm dân chúng than phiền là vật giá quá cao, đồng lương không tăng. Đơn vị tiền tệ quốc gia kyat rất mạnh so với đôla Mỹ.
Hai mẹ con một công nhân ủng hộ viên Liên đoàn Quốc gia Vì dân chủ.
Ảnh chụp ngày 15/01/2012. REUTERS/Stringer
RFI: Đồng nghiệp nhận định như thế nào về những cải cách của Tổng thống Thein Sein?

Arnaud Dubus: Một trong những câu hỏi mà chúng tôi thường nghe là “tại sao?”. Tại sao chính phủ Miến Điện cảm thấy có nhu cầu tiến hành cải cách chính trị trong khi mà chế độ này dường như sắp tiếp tục con đường của tập đoàn quân phiệt vạch ra sau cuộc bầu cử chẳng có gì là tự do và công bằng? Chắc chắn là phải có sự phối hợp của nhiều yếu tố và nguyên nhân phức tạp.

Một yếu tố quan trọng là chính phủ Miến Điện có mối ưu tư là làm sao phải cải thiện quan hệ với các nước Tây phương. Điều làm họ lo sợ nhất là bàn tay Trung Quốc thao túng kinh tế các tỉnh phía bắc.

Bên cạnh yếu tố chính trị này còn có một nguyên nhân nữa bắt nguồn từ nhân cách của Tổng thống Thein Sein. Ông tướng này được cựu lãnh đạo tập đoàn tướng lãnh Thein Swe đặt vào chức vụ tổng thống.

Ông Thein Sein là một cựu tướng lãnh ít có tiếng tăm và nhiều người cho rằng ông là người được tướng Than Swe ủy nhiệm cầm quyền. Nhưng bây giờ người ta có thể nói rằng Thein Sein đã suy nghĩ rất nhiều về các vấn đề khó khăn mà đất nước của ông đã vấp phải trong nhiều năm dài trước tuyển cử tháng 11/2010, nhất là trong giai đoạn ông làm thủ tướng.

Ông đã thấy rõ những gì ông cần phải làm, nhưng ông không có thực quyền để thi hành. Cho đến khi lên làm tổng thống và cảm thấy vị thế đủ vững chắc, thì Thein Sein nắm lấy cơ hội để thực hiện mong ước của mình.

Còn một yếu tố nữa đó là phong trào đối lập. Khi được trả tự do vào năm 2010, bà Aung San Suu Kyi (ảnh trái) rất chống chế độ này. Ngay khi được Tổng thống Thein Sein mời hội kiến, bà đã tỏ ra do dự rất nhiều trước lời mời gặp nhau tại thủ đô hành chánh Naypyidaw vào tháng 8 năm 2011 vừa qua. Bà cho rằng nhân vật này thuộc phe cứng rắn trong quân đội.

Cuối cùng bà nhận lời và nẩy sinh một sự cảm thông giữa hai người. Mối quan hệ này đã góp phần làm giảm căng thẳng giữa hai phe và giúp cho chính sách cải cách chính trị trở thành hiện thực.

RFI: Theo kế hoạch gọi là “dân chủ hóa” mà tập đoàn quân sự đưa ra cách nay ba năm sau cuộc nổi dậy của phong trào cách mạng “áo cà sa”, thì hiện nay Miến Điện đang ở giai đoạn nào?

Arnaud Dubus: Đây mới chỉ là giai đoạn đầu. Bước đầu tiên trả tự do cho tất cả tù nhân chính trị đã hoàn tất mặc dù hãy còn một số trường hợp tranh cãi, do có sự bất đồng về định nghĩa tù nhân chính trị.

Bước thứ hai là bầu cử bổ sung ngày 01/04/2012 chọn 48 đại biểu hai viện Quốc hội. Thử thách của cuộc bầu cử này là có trong sạch, có gian lận hay không?

Bà Aung San Suu Kyi rất có thể sẽ đắc cử vào Quốc hội. Sự hiện diện của đối lập tranh đấu tại quốc hội sẽ thúc đẩy các sáng kiến hợp lòng dân trong khi chờ đợi nhiệm kỳ mới vào năm 2015. Nếu mọi việc tốt đẹp thì cuộc bầu cử 2015 sẽ “đăng quang” tiến trình dân chủ hóa tại Miến Điện.

Lý do là không thể loại trừ nguy cơ tình thế đảo ngược. Chính sách cải cách chính trị không làm hài lòng những tướng lãnh thuộc xu hướng cứng rắn cũng như những người thân Bắc Kinh.
Dường như đã có một âm mưu đảo chính bị lộ hồi đầu tháng Giêng. Guồng máy chỉ huy quân đội lập tức được cải cách cách sâu rộng vào giữa tháng Giêng. Con đường dân chủ do vậy còn dài và có nhiều chướng ngại.
Đã thế, người ta còn biết rằng trọng trách này đặt trên vai của Tổng thống Thein Sein, một người có sức khỏe kém, mang trên người một máy trợ tim.

RFI: Liên Hiệp Châu Âu bắt đầu giảm nhẹ cấm vận, cho phép giới lãnh đạo Miến Điện và gia đình quyền du lịch tự do trong khi chờ đợi những bước tiến bộ mới . Nếu tiến trình dân chủ hóa được củng cố thì tác động của nó sẽ như thế nào đối với Đông Nam Á?

Arnaud Dubus: Trong một thời gian rất dài, Miến Điện là một nhược điểm của hiệp hội ASEAN.
 Với những bước tự do hóa chính trị hiện nay, Miến Điện sẽ được Tây phương hỗ trợ trong giai đoạn chuyển tiếp. Tây phương sẽ trợ giúp trực tiếp bằng tài chính, bằng viện trợ nhân đạo cũng như qua trung gian của hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, nhất là ASEAN có vai trò đối trọng với Trung Quốc.
Sự kiện vào năm 2014, Miến Điện lên làm chủ tịch ASEAN càng làm cho Tây phương quan tâm đến quyền lợi của họ Đông Nam Á nhiều hơn.

Một khi các biện pháp trừng phạt được cởi bỏ, doanh nhân Âu Mỹ sẽ đổ vốn đầu tư vào Miến Điện, tạo thêm nhiều vận hội mới cho doanh nghiệp ASEAN dù cho mức độ cạnh tranh cũng sẽ gay gắt hơn trước.
Tác động chính trị cũng không phải là ít. Cải cách chính trị tại Miến Điện sẽ làm công luận quan tâm hơn và theo dõi xem những chế độ toàn trị cuối cùng trong ASEAN sẽ biến chuyển ra sao như là tại Việt Nam và Lào, với cơ chế chính trị độc đảng và không chấp nhận đối lập chính trị.



Tú Anh




Thứ Năm, 26 tháng 1, 2012

"Xông nhà" chuyện Biển Đông



“Xông nhà” chuyện Biển Đông








Nghỉ tết dài, 3 ngày hôm nay chẳng có entry mới nào. Thì hôm nay chọn ngày đẹp ta mở cửa hàng bờ-lốc cho một năm mới. Xông nhà bài vở chuyện gì cho hạp? Bằng chuyện Nước nhé. Nói chữ là “thủy”.

Chọn thủy là bởi theo quan hệ tương sinh trong Dịch thì người mệnh mộc như mình hợp với mệnh thủy nhất, vì thủy dưỡng mộc. Cái chuyện nước chuyện thủy này chắc còn bám riết chúng ta năm 2012 như trang trannhuong.com ông bạn già tôi vừa nhắc tới trong một mẩu chuyện ngày hôm qua, câu chuyện Đất-Nước:
http://trannhuong.com/news_detail/12646/ĐẤT-NƯỚC


Nước là quá đúng đi chứ. Bởi Biển Đông dậy sóng trong năm qua khiến cả khu vực, các nước lớn và toàn thế giới chú ý tới. Năm nay cũng khó có thể lắng xuống - dù chúng ta có mong muốn như thế đi nữa. Rồi các bạn nghiệm mà xem. Sao vậy chứ? Vì cái chuyện Biển Đông nó phức tạp, khôn lường lắm, động chạm trực tiếp nhất đến quyền lợi kinh tế và chủ quyền quốc gia của nước ta đã đành, Biển Đông còn là vấn đề lớn của khu vực Đông Nam Á và suy ra khắp cả thế giới này vì những hệ lụy kinh tế giao thương và an ninh có tính chiến lược lâu dài... 

Về chuyện Biển Đông, suốt năm qua chủ blog tôi đã nhiều lần đề cập đến, nhất là các khía cạnh quốc tế của vấn đề phức tạp này. Bữa nay rất muốn giới thiệu một cuộc trao đổi về đề tài Biển Đông của hai khuôn mặt không hề chuyên về vấn đề này nhưng có những tiếp cận và kiến giải khá là độc đáo và sâu sắc về biển và chiến lược biển của Việt Nam - một chủ đề do tờ báo Đại Đoàn Kết nêu ra với các ông: nhà sử học Dương Trung Quốc và nhà kiến trúc Hoàng Đạo Kính.

Với đề tài lớn kể trên, chủ blog tôi mong còn có dịp Hầu chuyện tiếp các bạn suốt năm nay...   


Vệ Nhi g-th 


----- 

Biển và chiến lược biển Việt Nam           




Lời tòa soạn: Như là sự sắp đặt trước, không hẹn mà gặp, Nhà sử học Dương Trung Quốc, Giáo sư – kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính và Nhà báo Đinh Đức Lập – Tổng biên tập báo Đại đoàn kết đã có một chuyến đi làm việc và thăm quần đảo Trường Sa hồi đầu tháng 6 năm nay. Biển của người Việt Nam mênh mông, kì vĩ, “có ra Trường Sa thì mới thấy chí cả của cha ông ta từ nhiều thế kỷ trước đã vượt sóng dữ để vun vén cho giang sơn.” Nhưng, vì sao Việt Nam chưa bao giờ trở thành cường quốc biển? Có phải người Việt sợ biển, xa lạ với biển? Hay gần gũi, giao hòa, đằm mình với biển để chinh phục biển? Câu chuyện về biển từ thuở hồng hoang đến nay và chiến lược biển cứ lật đi lật lại suốt chuyến đi với những thao thức, trăn trở riêng tư, ai cũng muốn bảo vệ chính kiến của mình về biển Việt Nam .

Một vấn đề chiến lược rất quan trọng, rất hay và sinh động. Báo Đại đoàn kết nguyệt san (bộ mới) thấy cần thiết thực hiện lại cuộc đối thoại này dưới dạng Bàn tròn tại tòa soạn cùng với sự tham gia của Nhà văn quân đội Sương Nguyệt Minh. Ban biên tập xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.








Người Việt có sợ biển?



Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Thưa các anh! Tôi luôn luôn có nỗi buồn nản dằn vặt rằng: Hình như người Việt nồng hậu thân thuộc, am hiểu đồng bằng, mê rừng núi, rất có ý thức khai thác, tận dụng rừng; nhưng lại sợ biển, ngập ngừng, do dự đứng trước biển và “mặn rừng, nhạt biển”? Từ thời hồng hoang dựng nước, người Việt nhỏ bé, công cụ sản xuất là đồ đồng thô giản, quen săn bắt hái lượm ở rừng, đứng trước một lực lượng thiên nhiên – đại dương quá bí ẩn, mênh mông, rợn ngợp thì càng… sợ biển?

Biển còn quá xa lạ với người Việt Nam ? Đứng trước biển thì bị ngợp vội vàng quay lưng lại với biển. Quanh năm suốt đời chỉ canh tác thâm canh ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long, cuộc di cư từ thượng ngàn đi đến cửa sông thì dừng lại. Có phải người Việt không dám nhìn ra biển, không dám đi ra biển?

Bờ biển Việt Nam dài hơn 3260km, vùng biển có diện tích hơn 1 triệu km2, hơn 3000 hòn đảo lớn nhỏ…, nhưng chưa bao giờ Việt Nam được gọi là cường quốc biển. Tiềm năng thiên nhiên quá lớn, nhưng chúng ta đã và đang để hoài phí. Chúng ta chưa giàu từ biển.

Nhà báo Đinh Đức Lập: Tôi nghĩ: Nhà văn Sương Nguyệt Minh có cái nhìn và tình cảm khá bi quan về tư duy biển của ông cha. Tôi nhớ lại câu chuyện về sự hình thành đại dân tộc Việt Nam vừa huyền thoại và nhuốm màu sự thật khát vọng, nói về sự phân rã bầy đàn tiến lên trình độ sản xuất cao hơn: 50 người con theo Mẹ Âu Cơ lên rừng, 50 người con theo cha Lạc Long Quân xuống biển lập nghiệp. Ngoài ý nghĩa cội nguồn, đồng bào, đoàn kết dân tộc thì truyền thuyết đã mang thêm tầng ý nghĩa: thuở hồng hoang tổ tiên ta không chỉ săn bắt hái lượm mà đã có ý thức chinh phục biển, làm chủ biển.

Nhà sử học Dương Trung Quốc: Tôi thêm một ý nữa đồng quan điểm với anh Đinh Đức Lập là câu chuyện Mai An Tiêm và quả dưa hấu ở đảo hoang chứng tỏ ý thức người Việt không chỉ hướng nội, khai phá đất liền mà còn cả ở ngoài khơi, nơi vừa mang lại sự giàu có vừa gắn kết với đất liền.


Nhìn ra biển bạn…, ngẫm đến ta

Giáo sư Hoàng Đạo Kính: Anh Đinh Đức Lập ơi! Đó là truyền thuyết, là khát vọng của dân tộc thôi. Tôi rất đồng ý với cách đặt vấn đề của Nhà văn Sương Nguyệt Minh. Trong một bài viết về sự cần thiết phải thiết lập các đô thị ven biển, duyên hải, tôi cũng đặt câu hỏi: Vì sao chúng ta hướng về đồng bằng, hướng về núi, thâm canh châu thổ; chúng ta đứng trên biển, là quốc gia có biển rộng mà lại tư duy lục địa thay vì phải tư duy đại dương?

Nhìn về lịch sử thì hầu hết các quốc gia, các dân tộc phát triển đều đứng trên biển cả.

Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Vâng! Các nước Mỹ, Anh, Pháp… đều là các cường quốc biển. Rồi Liên bang Nga tầm hoạt động của hải quân là không giới hạn.

Giáo sư Hoàng Đạo Kính: Tôi bắt đầu từ xưa hơn, xa hơn là: Hy Lạp, La Mã, Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp…vv. Địa Trung Hải là cái ao vĩ đại của châu Âu mà các nền văn minh cổ đều tập trung ở đó. Sau đó, đến thời kỳ tiền công nghiệp không có quốc gia nào hướng nội, quay lưng ra biển mà phát triển được. Ví dụ như Bu Tan, Tây Tạng, Lào, các nước cộng hòa vùng Trung Á thuộc Liên Xô ngày trước đều là các nước không có biển, tư duy lục địa, nhìn đâu cũng thấy cát, thấy núi nên rất lạc hậu.

Không phải tình cờ mà thế kỷ 18, Pie đệ nhất muốn nước Nga hiện đại hóa, phải học phương Tây, xây thành Pê téc pua trên nền đất sình lầy của vịnh Phần Lan. Ý tưởng đưa đô thị ra cửa biển, thứ nhất để đi đến phương Tây bằng con đường ngắn nhất, dễ dàng nhất; thứ hai mới là chống giặc giã phía Bắc. Pie đệ nhất được “mặt trời thi ca Nga” Puskin gọi là “người lấy rìu đục bức tường mở cửa sổ nhìn vào châu Âu”. Pie đệ nhất xây dưng hạm đội, thương thuyền trên vịnh Phần Lan, mời kiến trúc sư châu Âu xây dựng thành Pê téc pua, không có người Nga tham gia. Pie đại đế cải cách nước Nga cổ hủ, cũ kĩ bắt đầu từ biển…

Thời trung đại nước Đại Việt chủ yếu là thâm canh châu thổ sông Hồng, cùng lắm là mon men lên trung du. Các vùng cao Tây Nguyên, Tây bắc, Việt Bắc vẫn còn bí ẩn, xa lạ. Nhưng, Vương Quốc Chiêm thành thời Chế Bồng Nga thì chiến thuyền đã rất mạnh. Trong lịch sử, ít nhất 3 lần Chiêm Thành đi đường bộ và đường biển ra đốt thành Thăng Long.

Tôi không phủ nhận hết. Vì có một chút mầm mống đô thị biển Việt Nam là Vân Đồn, nhưng nó chưa bao giờ là thương cảng, phố cảng, mà chỉ là cái bến có tên Bến Cái làng. Phố Hiến chỉ là… cảng sông, phố bên sông, từ Phố Hiến ra biển còn xa lắc. Sau này có thêm Hội An cũng không phải là cảng biển, mà là cảng sông, là phố bên sông Hoài.

Việt Nam không có đô thị biển, không hướng ra biển, không có thương thuyền, không có hạm đội. Đó là câu chuyện lịch sử.

Trước đây, là do chiến tranh không có điều kiện khai thác biển, làm giàu từ biển, nhưng từ khi đất nước thống nhất, chúng ta lại không hướng ra biển. Tôi chưa thấy định hướng phát triển chùm đô thị hay hệ thống đô thị ven biển?

Cảng Nha Trang – Khánh Hòa, vừa cảng biển, vừa nghỉ mát, vừa khu công nghiệp… chồng chéo vào nhau. Vân Phong là một cảng kỳ diệu nhất ở miền Trung, nhưng chúng ta bỏ quên quá lâu. Tập đoàn công nghiệp đóng tầu biển (Vinashin) thì đang nợ chồng chất 90 ngàn tỉ đồng…


Người Việt đã và đang chinh phục… biển




Nhà sử học Dương Trung Quốc: Tôi lại có cái nhìn sáng sủa hơn các anh. Sử liệu cho chúng ta thấy ý thức về biển đảo đã ăn sâu vào tiềm thức dân tộc. Trong điều kiện đương thời, các nhà Tiền Lê, Lý đã xây dựng được hải quân với hàng trăm binh thuyền để trông coi vùng biển. Năm 1172, Lý Anh Tông đích thân đi tuần tra các đảo và vẽ bản đồ trên biển.

Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Vâng! Tôi đọc lịch sử mới biết danh tướng Trần Khánh Dư chỉ huy trận Vân Đồn năm 1288 trên dòng sông Mang (Quan Lạn) đánh tan đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, góp phần quan trọng vào chiến thắng chung của trận Bạch Đằng năm 1288. Trước đó từ năm 1149 nhà Lý đã thành lập Trang Vân đồn rồi, “thuyền buôn các nước Trảo Oa, Lộ Lạc và Xiêm… trong khu vực Đông Nam Á đã xin dừng ở Vân Đồn để “mua hàng quý và dâng tiến sản vật địa phương” (Đại Việt sử ký toàn thư). Nhưng, thương cảng Vân đồn như cái chấm sáng nhỏ nhoi trên biển được vài trăm năm và sau đó là hiu hắt, tắt ngúm.

Nhà sử học Dương Trung Quốc: Lúc hưng lúc thịnh đó là thực tế trong lịch sử nước ta, không có triều đại phong kiến nào hưng thịnh tồn tại mãi huống hồ là thương cảng Vân Đồn. Nhưng, chúng ta vẫn phải ghi nhận ông cha ta đã có ý thức về lãnh thổ trên biển cả rất sớm. Sau này, từ thế kỷ 17, Chúa Nguyễn cũng đã xác lập chủ quyền người Việt trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Năng lực đóng tầu biển thời Chúa Nguyễn được đánh giá rất cao. Lịch sử ghi nhận các hạm thuyền của người Hà Lan đã phải chịu thua trận trước thủy quân Chúa Nguyễn.

Giáo sư Hoàng Đạo Kính: Tôi vẫn nghĩ, các triều đại phong kiến đi ra biển với ý chí bảo vệ lãnh thổ hơn là kinh tế.

Nhà sử học Dương Trung Quốc: Không phải thế đâu, anh Kính ơi! “Đại Nam thực lục tiền biên” đã viết đại ý là: Hàng năm vào tháng cuối mùa đông, Nhà Nguyễn cử khoảng 18-20 chiếc thuyền đến Hoàng Sa, Trường Sa lấy hóa vật, phần nhiều là vàng bạc, tiền đồng, súng đạn, kiếm, ngà voi, đồ sứ…ở các tầubuôn nước ngoài bị đắm. Sau cùng là kiếm lượm mai đồi mồi, mai hải ba, hải sâm, vỏ ốc hoa…

Nhân đây cũng xin nói với các anh: Thời Pháp thuộc, đường giao thông Bắc – Nam chuyên chở người và hàng hóa chủ yếu là đường biển. Vì đến năm 1936 mới có đường xe hỏa. Một ví dụ nữa về tinh thần người Việt chinh phục biển là: Từ năm 1919, nhà tư sản dân tộc Bạch Thái Bưởi đã là vua sông nước Bắc bộ và có chí hướng đóng con tầu Bình Chuẩn chạy từ Hải Phòng vào Sài Gòn…

Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Thưa TBT Đinh Đức Lập, anh là người vùng biển, xin hỏi thật: người vùng biển các anh có sợ biển?

Nhà báo Đinh Đức Lập: Không! Biển đối với dân chúng tôi như cái ao lớn. Biển có gì mà sợ. Tôi nghĩ: Người Việt không có tư duy, lối sống, tập quán, thói quen… sợ biển, như các anh quả quyết.
Tôi cùng với các anh Hoàng Đạo Kính, Dương Trung Quốc mới đi Trường Sa về, đúng là ai cũng thấy choáng ngợp giữa biển cả mênh mông, thăm thẳm, nhưng nếu không có bản lĩnh, lòng can đảm và ý chí chinh phục biển mà nhát hèn thì không thể trụ vững ở những hòn đảo nhỏ nhoi giữa trùng khơi đầy bão tố như thế. Tôi vô cùng khâm phục ngư dân Việt Nam chỉ bẳng con thuyền nhỏ mấy chục mã lực, nhìn xa mong manh như cái lá tre, vượt hàng trăm cây số, ra tận vùng biển Trường Sa. Chỉ với phương tiện thô sơ cứ vượt sóng trùng khơi đánh bắt xa bờ, mà vẫn không sợ đắm chìm. Hàng ngàn năm nay vẫn thế.

Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Lòng can đảm hay là… liều?

Nhà báo Đinh Đức Lập: Không phải liều! Đó là ý chí chinh phục biển rất kiên cường, mãnh liệt. Chắc chắn họ phải có kinh nghiệm, trình độ đi biển và dĩ nhiên phải có tình yêu biển đến độ đam mê, không sợ hãi biển.
Có một bằng chứng hết sức hùng hồn rằng: đất nước ta dài 3260km bờ biển, khoảng 3000 hòn đảo, từ hàng trăm năm trước đã có ngàn làng chài lênh đênh trên biển, có hàng triệu người sống ở vùng duyên hải, gắn bó suốt đời với biển, lấy biển làm nguồn sống là một sự thật hiển nhiên.
Tôi cho rằng những ca khúc hay nhất là viết về biển, và chiếm số lượng nhiều nhất, nhiều hơn số ca khúc viết về rừng. Rõ ràng không phải tính cách, tâm lý dân tộc ta sợ biển. Không phải không có những khát khao chinh phục biển.

Giáo sư Hoàng Đạo Kính: Tôi lại không nghĩ như anh Đinh Đức Lập.
Cái điều anh vừa nói người dân bám biển mà sống cũng chỉ là tư duy đánh bắt ven bờ. Biển như anh Lập nói là cá, là cua, là tôm… là hải sản, chứ không phải là kỹ thuật hàng hải. Việt Nam chưa bao giờ có hàng hải, không có hàng hải có nghĩa là không có cảng biển, mà chúng ta chỉ có bến sông. Hàng hải phải là Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan…Bây giờ là Hàn Quốc, Nhật Bản…

Nhà báo Đinh Đức Lập: Anh Hoàng Đạo Kính nói Việt Nam chưa có đô thị biển là không đúng. Có một bài hát rất hay…

Giáo sự Hoàng Đạo Kính: Anh Lập ơi! Tôi không nói chuyện bài hát ở đây…

Nhà báo Đinh Đức Lập: … “những thành phố bên bờ biển cả, đã mọc lên chưa kịp soi gương. Những thành phố, những nàng tiên…” Ông cha ta và người Việt hiện đại đang vươn ra biển.

Giáo sư Hoàng Đạo Kính: Vươn ở đâu? Vươn bao giờ?

Nhà báo Đinh Đức Lập: Nếu không vươn ra thì làm sao chúng ta lấy được hiện vật gốm sứ, tên sắt, tiền đồng,… ở Hoàng Sa, Trường Sa từ thời Nguyễn.


Nguyên cớ gì… nhạt biển?

Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Chúng ta đối thoại và đã vỡ vạc ra nhiều điều chưa biết trong quá khứ ông cha. Nhưng tôi vẫn kiên trì niềm tin rằng: Việt Nam là quốc gia có biển, song chúng ta chưa đánh giá hết tiềm năng và chưa làm giàu từ biển, chúng ta đã để hoài phí sức mạnh vật chất vô cùng to lớn mà thiên nhiên ban tặng. Hàng thiên niên kỉ chúng ta cứ loanh quanh thâm canh ở đồng bằng, cứ đến cửa sông, cứ chạm đến biển, mom men đến biển thì quay lại, không dám nhìn ra biển, không dám đi ra biển. Chúng ta không có những nhà thám hiểm phiêu lưu, can đảm như Magienlăng hay Côlôngbô của Bồ đào nha, hoặc ít ra như Mã Hoan, Trịnh Hòa của Trung Quốc.

Có phải do yếu tố nhân chủng, do tâm lý tính cách dân tộc, do trình độ sản xuất tiểu nông manh mún, nhỏ bé… nên đứng trước cái kì vĩ, mênh mang của đại dương thì sợ hãi, không dám chinh phục biển? Hay còn những lý do gì nữa chằng néo, kìm hãm?




Giáo sư Hoàng Đạo Kính: Tôi cho rằng: Thứ nhất, chúng ta chưa có tư duy chiến lược biển.
Thứ hai, Việt Nam chưa có những bước đột phá cải cách kinh tế như Minh Trị nước Nhật. Có nghĩa là chưa có tư duy quốc gia. Nước ta chưa bao giờ là quốc gia biển, chứ nói gì đến cường quốc biển.

Nhà báo Đinh Đức Lập: Là do tư duy người lãnh đạo đất nước từ xưa đến nay ít chú ý, và chưa thấy tầm quan trọng của biển. Có nghĩa là các triều đại cũ chưa có tư duy chiến lược về biển. Tôi nghĩ: Nếu Quang Trung Nguyễn Huệ không chết sớm thì Việt Nam sẽ có những thương thuyền vượt đại dương và chúng ta sẽ bắt đầu một thế kỉ đại dương từ thời Nguyễn Huệ.

Giáo sư Hoàng Đạo Kính: Trong lịch sử, Nguyễn Huệ tư duy đường bộ chứ không phải tư duy đường thủy như Nguyễn Ánh. Cũng trong lịch sử, ông vua Lê Thánh Tông có tầm nhìn xa, đất nước phát triển toàn diện rực rỡ nhất thời phong kiến, có luật Hồng Đức và ông vua Minh Mạng có công thống nhất đất nước, chia địa lý hành chính các tỉnh rất phù hợp với văn hóa vùng miền, nhưng cả hai ông ấy cũng không có tư duy chiến lược về biển.

Về tinh thần dân tộc, chúng ta không nghi ngờ lòng yêu nước của người Việt Nam , yêu nước đã thành chủ nghĩa đến đỉnh cao, nhưng tư duy kinh tế biển thì còn non, thiếu cái vĩ – cái to lớn.

Nhà sử học Dương Trung Quốc: Xin nói thêm cho anh Hoàng Đạo Kính rõ để không nên bi quan đến thế: Nhiều chuyên gia nước ngoài cho rằng Việt Nam là quốc gia đã đóng góp to lớn về hàng hải xa xưa. Có giả thuyết đặt vấn đề: Bè mảng Thanh Hóa chính là phương tiện nối liền Đông Nam Á với nhiều vùng đảo Thái Bình Dương, hay ghe bầu xứ Quảng có năng lực vận tải rất lớn… Anh Hoàng Đạo Kính, anh Đinh Đức Lập và tôi mới ra Trường Sa về, tôi đã phải viết rằng: Có ra Trường Sa mới biết “biển mênh mông nhường nào”. Có ra Trường Sa mới thấy chí cả của cha ông ta từ nhiều thế kỷ trước đã vượt sóng dữ để vun vén cho giang sơn.

Nhàbáo Đinh Đức Lập: Anh Hoàng Đạo Kính nói chuyện chiến lược biển xứ người đông tây, kim cổ, nhưng trước sau chúng ta cũng phải quay trở về thời hiện tại. Anh cho rằng Việt Nam không có tư duy quốc gia là không đúng. Mấy chục năm gần, chúng ta đã có tư duy chiến lược biển đông rồi.

Giáo sư Hoàng Đạo Kính: Ở đâu? Bao giờ? Xin anh Lập cho biết nào?


Nhìn ra biển, đi ra biển

Nhà báo Đinh Đức Lập: Nếu tôi nhớ không nhầm thì ngày 22/9/1997, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 20-CT/TW về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đến Hội nghị lần thứ tư ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) lại thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”. Nghị quyết nhấn mạnh "Thế kỷ XXI được thế giới xem là thế kỷ của đại dương” và xác định các quan điểm chỉ đạo về định hướng chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; phấn đấu kinh tế trên biển và ven biển sẽ đạt từ 53-55% GDP và 55-60% kim ngạch xuất khẩu. Góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống ngư dân và người dân ven biển.

Trước đó nhiều năm, Việt Nam đã ký‎ Công ước Biển 1982. Từ năm 1986 đến nay, Việt Nam đã hoạch định và thực hiện chính sách quốc gia về biển, đó là chiến lược: phát triển mạnh và vững bền ra hướng biển; kết hợp phát triển kinh tế biển với bảo vệ quốc phòng – an ninh trên biển.
Chứng tỏ anh Hoàng Đạo Kính rất quan liêu và không cập nhật thông tin kịp thời.

Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Nghe anh Đinh Đức Lập nói thì có vẻ rất lạc quan.

Nhà báo Đinh Đức Lập: Tôi không phải lạc quan, mà tôi nói trên nền tảng thực tế chúng ta đã làm được trên biển và thu lợi từ biển. Chúng ta vừa đi Trường Sa, anh thấy đó: Rất nhiều dàn khoan dầu khí sừng sững giữa đại dương và nguồn thu tài chính từ đó rất lớn. Nếu không nằm trong định hướng chiến lược phát triển kinh tế biển từ lâu thì sao lại có sự hiện diện của nó sinh động, hoành tráng thế. Tôi có cảm giác anh Hoàng Đạo Kính chỉ nhìn về quá khứ thấy thành tựu chinh phục biển nhỏ bé mà chưa nhận ra những nỗ lực chinh phục biển của chúng ta suốt mấy chục năm gần đây là không công bằng. Những nỗ lực ấy đã tạo nên những kết quả cực kì to lớn.

Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Tôi công nhận những điều anh Đinh Đức Lập nói. Nhưng, điều tôi muốn nói xa hơn, rộng hơn là vì sao chúng ta không trở thành cường quốc biển như Hà Lan, không có những hạm đội hoạt động không giới hạn như Liên bang Nga, hoặc xa xưa hơn là không có những chiến thuyền hùng mạnh như Hi Lạp – La Mã? Tôi rất muốn được nghe các anh cắt nghĩa điều đó. Anh Đinh Đức Lập nói: Chúng ta có nhiều giàn khoan khai thác dầu khí, có tầu thuyền đánh bắt ven bờ và cả xa bờ nữa. Nhưng, theo tôi cho dù khai thác tài nguyên và đánh bắt hiện đại đến bao nhiêu thì xét đến cùng về bản chất cũng chỉ là “hái lượm, săn bắt”. Công nghiệp chế biến còn rất nhỏ và manh mún. Dầu khí hút mãi, “hái lượm” mãi cũng hết. Cá tôm “săn bắt” cả con đòng đong cân cấn mãi cũng cạn kiệt. Có nghĩa là chúng ta đang làm cho tài nguyên biển nghèo nàn đi, một ngày nào đó biển sẽ rỗng không. Chiến lược biển là phải làm cho biển giàu có, biển sinh lợi và biển phục vụ con người cơ.

Nhà báo Đinh Đức Lập: Có rồi. Anh Hoàng Đạo Kính có nhớ chúng ta ăn cá ở đảo Đá Tây là cánuôi đấy. Cắt nghĩa điều anh Minh nói dễ thôi: Trung Quốc, Hà Lan bao nhiêu năm không có chiến tranh. Người ta có thời gian hòa bình, trình độ kỹ thuật hơn mình và có bao nhiêu năm để xây dựng kinh tế nội địa và kinh tế biển. Việt Nam chúng ta đánh giặc liên miên, nhân tài vật vực phải tập trung cho thắng lợi cuối cùng, chẳng hở ra lúc nào rỗi rãi thì làm sao mà phát triển kinh tế biển.

Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Vâng! Các anh bàn về biển rất sôi nổi và thẳng thắn. Thời đại mới, tư duy mới. Vậy, theo các anh, chúng ta nên tư duy về biển và chiến lược biển như thế nào?



Nhà sử học Dương Trung Quốc: Theo tôi, giờ đây phải hướng mối quan tâm và tầm nhìn của người dân ra biển Đông. Tất nhiên cần tăng cường đầu tư của Nhà nước để người dân có điều kiện thực hiện mối quan tâm của mình. Nước ta nằm trên bao lơn nhìn ra Thái Bình Dương, vấn đề không chỉ nhìn ra mà phải đi ra. Muốn phát huy trong cộng đồng khát vọng chinh phục biển cả, ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo quốc gia, cần phải tạo thói quen đi biển, tham gia giao thông bằng đường biển.

Giáo sư Hoàng Đạo Kính: Trước hết thay đổi tư duy nhận thức về biển. “Đục” thật to “cửa sổ” nhìn ra nước ngoài để hội nhập quốc tế từ phía biển.

Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Nên có quy hoạch chi tiết kinh tế biển Việt Nam có hệ thống, và khoa học.

Nhà báo Đinh Đức Lập: Tôi đề xuất: Cần phải đánh giá sớm tổng quát về thực lực tiềm năng biển Việt Nam . Lợi ích kinh tế biển hiện nay thể hiện trong trạng thái động, có nghĩa là có nhiều nước đang tranh chấp và xâm hại chủ quyền biển, thêm lục địa của Việt Nam, nên giải quyết vấn đề này thật khôn khéo, mềm rẻo, tế nhị và có hiệu quả thì biển Đông sẽ yên, và chúng ta nhìn ra biển, đi ra biển mới vững chắc.

Thưa các anh! Dù tư duy, ý kiến có khác nhau, nhưng trên hết, tôi vẫn nhận ra ở các anh một tấm lòng yêu biển tha thiết, chân thành, thẳng thắn, vừa lo lắng, trăn trở vừa hi vọng Chiến lược biển sẽ mở ra Một thế kỷ đại dương của Việt Nam .

Thay mặt BBT, tôi xin cảm ơn các anh đã tham gia cuộc Bàn tròn tháng 7 của báo Đại đoàn kết (Nguyệt san).

Nhà văn Sương Nguyệt Minh (ghi chép)           
 Nguồn: http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=16954


Chủ Nhật, 22 tháng 1, 2012

Chúc Mừng Năm Mới Nhâm Thìn - 2012



Chúc Mừng Năm Mới NHÂM THÌN - 2012



Giao thừa gần kề, Năm Rồng Nhâm Thìn 2012 sắp tới với mọi người dân Việt chúng ta, xin mời các bạn nghe lại ca khúc Chúc Mừng Năm Mới bất hủ - Happy New Year - do nhóm Abba đã đi vào huyền thoại của đời sống âm nhạc toàn thế giới trình diễn. Đây đúng là một ca khúc khó thay thế trong thời khắc chuyển giao đất trời năm cũ năm mới.

XIN MỜI NGHE (bấm vào đường Link dưới đây):   

http://www.youtube.com/watch?v=S3ZWyXDgK74

Nguyễn Vĩnh blog xin chúc Bạn bè khắp nơi Năm Mới Nhâm Thìn - 2012 - An khang, Hạnh phúc.







Thế ra lương ở ta còn thấp lắm, nhưng...


Thế ra lương ở ta còn thấp lắm, nhưng...


Mặc dầu đã có nhiều lần tăng lương - mà từ ngữ giới quản lý và điều hành ở ta thích gọi là "điều chỉnh lương" -, thế nhưng truyền thông báo chí nước ngoài mới đây nhất vẫn liệt kê và bình luận rằng "Việt Nam nằm trong số các nước có mức tăng lương thấp nhất trên thế giới"




Theo khảo sát của hai công ty tuyển dụng MyHiringClub.com và NriJobPortal.com có trụ sở tại Ấn Độ, Việt Nam bị xếp vào nhóm 10 quốc gia chót bảng về viễn ảnh tăng lương ảm đạm trong năm 2012 này.

Trên danh sách 10 nước có tỷ lệ tăng lương thấp nhất, Việt Nam đứng thứ hai, với tỷ lệ tăng lương được dự đoán là 4,13%, sau Bulgaria, nước có mức tăng lương thấp nhất, chỉ khoảng 4,03%.

Dẫn đầu danh sách 10 nước có viễn ảnh sáng sủa về tỷ lệ tăng lương trong năm nay là Đan Mạch, 16,49%.

Kế đến là Ireland, Anh. Mỹ xếp hạng 8. Hong Kong và ẤN Độ lần lượt giữ vị trí thứ 9 và thứ 10.

(Nguồn: Pinas.net, Business World Online)


Vẫn biết đồng lương nhận là kết quả của công việc mà người lao động đã thực hiện. Ai chả muốn lương tăng, lương cao. Nhưng nếu ở Việt Nam mà nhận lương chót vót (như mấy ngành kinh tế độc quyền từng 'bầy vẽ' ra và bị dư luận phát hiện và chê trách) thì lại cũng phản tác dụng. Bởi nó sẽ lùa thêm đồng tiền ra trao đổi mua bán ngoài xã hội, chỉ đẩy lạm phát vốn đã gay gắt lại trầm trọng thêm nữa!

Vậy vấn đề là cải tổ thật mạnh bạo cung cách quản lý. Đổi mới cách làm một cách toàn diện.

Chỉ có sản xuất và lưu thông lành mạnh, chỉ có cách điều hành hiệu quả và trong sạch mới sinh ra lương cao, hoặc đúng hơn là đồng lương chấp nhận được.

Tức đã làm việc tử tế thì sống được bằng lương (chứ lâu nay là sống bằng "bổng" hoặc những cái khác mà ai cũng biết). 

Vệ Nhi   


  

Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2012

Nhân vật "ẩn số"

Nhân vật « ẩn số »



Có một thời (cũng chưa xa), ông Nguyễn Chí Vịnh là một trong số nhân vật có khá nhiều tin đồn nhân sự. Người ta nói ông sẽ làm việc này, hoặc là trên định cất nhắc vào một việc kia. Ông Vịnh lại có thế mạnh là con trai viên tướng nổi danh thời đầu chống Mỹ - ông Nguyễn Chí Thanh. Vì thế tưởng như việc đưa vào cấp cục trưởng, rồi tổng cục trưởng lên hàm thiếu tướng sẽ xuôi thuận ngay, hóa ra không phải, là “bé cái nhầm” mới chết... Rồi khi ông Vịnh đã vượt vũ môn, lên tới cấp tướng thì chức thứ trưởng quốc phòng lại nghĩ cầm chắc ngay; ấy vậy mà cũng phải trầy trật mãi.

Sao thế? Là do ông Nguyễn Chí Vịnh bị cản mạnh, bị chống lại hết sức quyết liệt. Lời tố cáo ông Vịnh đến từ nhiều đại thần, những vị lão thành cách mạng, đều các bậc hiệt kiệt cả chứ không phải mấy chuyện phá đám quấy rối từ đồng cấp các cỡ.

Mà không phải nghe nói hoặc tin đồn gì đâu nhé. Đây toàn làđơn thư chính thức chính danh, những tài liệu dầy cộp khi trình bày khi can gián hoặc tố giác với cấp trên, tận cấp đỉnh quốc gia chứ không loàng xoàng cấp bộ, cấp cục. Số lượng nhiều vô kể, như có thể chất đầy các văn phòng trung ương và dồn ứ trên mạng internet. Các tài liệu và lập luận chống ông Chí Vịnh tập trung vào tư cách đạo đức, vào các việc làm sai trái – nhất là mưu mô bè pháiđể hại người lương thiện, cốt vinh thân phì gia hồi ông trong dàn cán bộ khung chủchốt ở cục, sau này đứng đầu một tổng cục hết sức quan trọng của quân đội.

Lời tố giác đúng-sai thế nào chắc chỉ ở những cấp cực cao, hoặc sau này là lịch sử thì mới có thể phán xét nổi. Còn với những công dân bình thường như đông đảo chúng ta thì chưa nên bàn soạn tham gia vào mấy câu chuyện đó để làm gì.

Còn một chuyện cuối cùng rất quan trọng nữa, đó là con đường bước qua cổngđỏ của ông Nguyễn Chí Vịnh, ngụ ý là việc vào ngồi ghế trung ương của ông. Đã từng xuất hiện tin đồn từ lâu là ông Vịnh sẽ vào trung ương khóa nọ khóa kia. Tất cả vẫn cứtrật khất mãi để tới khóa 11 này. Ông Vịnh không những lên chức thứ trưởng quốc phòng trước đó mà lại tiến vào trung ủy chính thức thẳng một lèo chứ chẳng có qua cầu dự bị dự khuyết như con cái ngay cả mấy nhà dòng dõi khác.

Tuy chỉ ngồi ở ghế thứ trưởng nhưng ông Chí Vịnh hơn năm qua đã có những hoạt động về quốc phòng hết sức nổi bật. Nó có ý nghĩa vượt lên tầm công việc một bộ một ngành. Ông Vịnh xuất hiện như một đối tác đầy quyền uy quân sự của Việt Nam trước các đồng nghiệp Trung Quốc, Mỹ, Pháp, Ấn Độ và nhất là trong khuôn khổhợp tác quốc phòng khối Asean. Ông Nguyễn Chí Vịnh ghi điểm liên tiếp trên mặt trận đối ngoại trong hơn năm qua. Trong lĩnh vực và hoạt động quốc phòng với nước ta lúc nào cũng là một bộ ngành đầy sức mạnh, một viên tướng mới nổi có được năng lực thể hiện cả ở trong nước và cả đối ngoại đều sắc sảo như trường hợp ông Nguyễn Chí Vịnh thì đúng là lâu nay mới hội đủ ở trong
một con người.

Cho nên với góc nhìn của những người theo dõi thường xuyên đời sống chính trị ở nước ta thì ông Nguyễn Chí Vịnh hồi trước kia từng là ẩn số thì nay vẫn tiếp tục là một ẩn số. Đây là thứ ẩn số chính trị. Nghĩa là trên chính trường ông đang và sẽ đóng vai trò gì là đúng vai. Và thật sự là chưa lường hết được cơ chế này, hệ thống chính trị chính thống hiện tại người ta sẽ sử dụng tài ba công cán của ông Vịnh tới đâu và mức độ nào. Tức là bước đường công danh của vị thượng tướng mới phong này thếlà đủ để dừng lại chưa? Hay ông Vịnh còn có những bước tiến ngoạn mục nào khác trong một tương lai gần? Ông Vịnh tuổi Đinh Dậu, sinh 1957, đã vượt cái tuổi quy hoạch, không còn trong vườn ươm nữa rồi, vậy nay là cái đoạn cắt đặt ngay, ở vào một chức tước cao tới như thế nào mà thôi...

Thật cũng rất khó mà suy đoán trong tình hình phức tạp và nhất là chưa ngã ngũvề các mối tương quan lực lượng, về lợi ích phe nhóm thời hiện tại như thế này thì ông Nguyễn Chí Vịnh có biết cân bằng để nghiêng và chốt về bên nào; và liệu ông Vịnh có đủ tài đủ lực để trụ vững, rồi không những thế còn tiến thêm lên, kiểu tọa hưởng kỳ thành, ngư ông đắc lợi trong một tình thế đất nước và thế giới nhiều chuyển động lớn như lúc này... Ai cũng hiểu đó là những điều cực khó, đều còn là những ẩn số hết tất cả...

Báo Tuổi trẻ không hiểu có dự cảm gì trước bước đường chính trị của nhân vật Nguyễn Chí Vịnh mà số xuân năm nay dành hẳn bài viết dạng phỏng vấn khá dài ông thượng tướng Vịnh. Chủ đề bao quát chính là vấn đề chủ quyền đất nước, vấn đề Biển Đông mà trong hơn năm qua chính ông Nguyễn Chí Vịnh đã có những hoạt động quốc tế nổi bật trong trách nhiệm người thứ trưởng quốc phòng... Vậy bài phỏng vấn đơn thuần chỉ là việc lựa chọn ngẫu nhiên đi từ một con người có các hoạt động “nghề nghiệp” nổi bật của một năm?...; hay đó lại là một chỉ dấu của các tiên đoán về chính trị và chính trường của báo chí truyền thông "nhanh chân" khi đề cập sớm đến một số nhân vật đang là "ẩn số" cho vài ba năm trước mặt? Đúng thế thì tờ báo của tuổi trẻ quả là có một cảm quan thời thế nhạy bén...  


Vệ Nhi g-th

------


Bài viết trên báo Tuổi trẻ Tp Hồ Chí Minh

TÔI TỰ HÀO VỚI QUÂN HÀM “BINH BÉT”

Một chiều cuối năm, chúng tôi gõ cửa căn nhà nằm sâu trong ngôi làng ven sông, nơi ít nhiều còn giữ được sự yên tĩnh của chốn làng quê dù chỉ cách hồ Gươm hơn mười cây số. Một người đàn ông trong bộ quần áo giản dị ra mở cửa đón khách. Đó là Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

ĐÀ TRANG – VÕ VĂN THÀNH – LÊ KIÊN thực hiện


Chủ nhà chọn nơi tiếp khách là thư viện gia đình, nơi chứa cả ngàn đầu sách và tài liệu. Có đủ loại sách về tư tưởng của các vĩ nhân, sách nghiên cứu, tiểu thuyết võ hiệp, truyện trinh thám… Tất cả dều gọn gàng ngăn nắp và được xếp theo chủ đề. Bất ngờ, tướng Vịnh hỏi chúng tôi đã đọc hai tập sách “Hồng Kong thuở ấy” chưa? “Một tác phẩm hay của James Clavell, tên nguyên bản là Tai-Pan. Rất đáng tìm đọc, nhiều khi văn học và lịch sử giúp ta sáng lên ý tưởng cho những vấn đề thời sự hiện nay”.


MONG TỔ CHỨC DU LỊCH RA TRƯỜNG SA
“Báo chí thường muốn tiếp cận các nhà lãnh đạo hoặc các tướng lĩnh để có thông tin đầu nguồn. Nhưng tôi phải nói rằng chính những người lãnh đạo cần đến các cơ quan truyền thông, để đảm bảo nhân dân mình hiểu chúng ta đã và đang làm gì hoặc định làm gì”

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh
Khách và chủ nhà trò chuyện từ chập tối đến tận khuya, bắt đầu từ câu chuyện về những ngày giáp Tết cách đây vừa tròn một năm. Tướng Vịnh kể: – Cuối năm, tôi ra Trường Sa, đi chúc tết bộ đội và nhân dân trên đảo. Đây không phải lần đầu đến với Trường Sa nhưng đúng là chỉ sau một vài năm không ra đảo, tôi đã thấy được sự thay đổi ở đây lớn lao biết chừng nào. Tôi đến từng gia đình trên đảo, trò chuyện với bà con, nhiều người nói với tôi rất ngắn gọn: “sống được”. Có thể thấy sự hài lòng về cuộc sống bình yên ánh lên trong mắt họ. Trường Sa bây giờ cơ bản “điện thừa nước đủ”. Đêm xuống, khi chúng ta ngẳm Trường Sa sẽ thấy như một thành phố nổi trên biển lung linh với những ánh đèn rực sáng. Cũng như nhiều người khác có dịp ra Trường Sa, tôi thắp hương ở đền thờ Bác Hồ, ngôi đền xây dựng rất trang nghiêm ở đảo Trường Sa Lớn. Chúng ta cũng đã có các ngôi chùa ở đảo Trường Sa Lớn và Song Tử Tây. Tại mỗi nơi có một tượng phật ngọc do Liên đoàn Phật giáo thế giới trao tặng Thủ tướng Chính phủ và được Thủ tướng cung tiến ra Trường Sa. Hai tượng phật ngọc này rất quý giá không những về giá trị, mỹ thuật mà còn về ý nghĩa tâm linh. Có một điều đặc biệt là mỗi viên gạch, mỗi viên ngói xây dựng các công trình trên đảo đều có dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quốc huy. Tôi nhớ bữa cơm đầu tiên ở Trường Sa, khi anh em bộ đội làm thịt một con lợn nuôi trên đảo để đãi khách quý, miếng thịt mặn chát. Vị mặn biển Đông chứ không phải mặn do chế biến. Và dư vị ấy thì còn mãi. Vào dịp Tết, khách ra đảo thường được tặng một quả bàng vuông. Tôi đã đem quả bàng đó về đặt lên bàn thờ Tổ quốc, như một thứ quà mới bổ sung vào mâm ngũ quả Tết truyền thống dân tộc…



Bác Hồ và gia đình các ông Nguyễn Chí Thanh, Trần Đăng Ninh và Nguyễn Sơn tại Phủ Chủ tịch, tháng 1-1968. Ông Nguyễn Chí Vịnh lúc ấy là cậu bé đứng bên Bác. (Ảnh tư liệu gia đình)


* Nếu không phải với tư cách một vị tướng mà là một công dân, ông mong muốn điều gì sau khi ra Trường Sa?

- Tôi mong muốn khi có điều kiện thuận lợi, chúng ta tổ chức cho bà con trong nước cũng như Việt kiều yêu nước đi du lịch ra Trường Sa. Đây sẽ là một điểm du lịch vô cùng ý nghĩa. Những chuyến công tác nước ngoài, nếu có dịp tiếp xúc với bà con Việt kiều, tôi thường kể câu chuyện Trường Sa và sau khi nghe thì bà con rát ngạc nhiên, xúc động. Tôi tin rằng là người Việt Nam, bất cứ ai có dịp ra Trường Sa thì tình cảm của họ đối với đất nước sẽ có những thay đổi rất lớn. Và họ sẽ hiểu đất nước mình đã làm tất cả những gì có thể để bảo vệ Trường Sa, bảo vệ chủ quyền trên biển Đông.

* Bất cứ người Việt Nam nào cũng quan tâm đến chủ quyền Tổ quốc, quan tâm đến vận mệnh của quê hương, xứ sở. Sau một năm Việt Nam có rất nhiều sự kiện quan trọng về kinh tế, đối ngoại, quốc phòng…, ông đang nghĩ gì về tương lai đất nước?

- Trong bất cứ giai đoạn nào của mỗi đời người hay lớn hơn là mỗi quốc gia, những cơ may, vận hội luôn đi kèm với thách thức. Điều quan trọng là chúng ta phải nhìn thấy những vấn đề sẽ quyết định đến sự phát triển lâu dài của đất nước. Đất nước chúng ta hôm nay bộn bề các vấn đề cần giải quyết, nhưng suy nghĩ của tôi là thế nước đang lên. Nếu nhìn vào đại cục sẽ thấy có rất nhiều lý do để nhận xét như vậy. Đầu tiên phải nói đến là chúng ta có sự ổn định chính trị, giữ được trật tự xã hội và bảo vệ vững chắc bờ cõi quốc gia. Về kinh tế, Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển, nhưng theo thời gian thì ngày càng có nhiều nước thừa nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường đầy đủ với định hướng xã hội chủ nghĩa, chính là nền kinh tế thị trường không có hai giá, không phân biệt công tơ. Trong quan hệ quốc tế, chúng ta có được sự tin cậy của bạn bè quốc tế. Người ta tin chúng ta thân thiện, chúng ta thực tâm mong muốn hợp tác phát triển với cộng đồng quốc tế. Có thể thấy rằng trong 5 – 10 năm tới còn nhiều khó khăn, nhưng đất nước sẽ có những bước phát triển, với một điều kiện giữ bằng được ổn định chính trị và định hướng quản lý thống nhất của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.



Gia đình Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tại nhà số 34 Lý Nam Đế, năm 1964. (Ảnh tư liệu gia đình)


* Vậy đâu là tời cơ và đâu là thách thức của đất nước ta về mặt quốc phòng an ninh, theo suy nghĩ của một nhà quân sự?

- Với tư cách một nước đang phát triển và cần có môi trường hòa bình, ổn định để phát triển, vấn đề đặt ra cho Việt Nam là những câu chuyện mà các nước lớn đang nói với nhau có ảnh hưởng gì đến chúng ta? Cần phải đặt câu hỏi này trong một bối cảnh quốc tế đang có những thay đổi rất cơ bản, rất lớn lao, nhất là sau những sự kiện như ở Bắc Phi – Trung Đông và trước đó ở Afghanistan, Iraq, Nam Tư… Ở đâu cũng vậy, khi có lợi ích thì mọi bên đều muốn can dự. Tất nhiên nếu đã can dự thì sẽ có điểm đồng nhưng cũng có điểm bất đồng, chính vì vậy những vấn đề an ninh khu vực của chúng ta tự nhiên nóng lên. Chúng ta đã nghe những tuyên bố về chủ quyền của một số nước và đã nghe những thông điệp rất mạnh mẽ… Đằng sau những lời phát biểu đó, thấp thoáng đâu đây các tàu sân bay, chiến hạm, các máy bay thế hệ mới… Nguy cơ lớn nhất chính là một cuộc chạy đua vũ trang mới, một cuộc chiến tranh lạnh mới và một chiến lược “ngoại giao chiến hạm” mới của các nước lớn.
Điều này đã manh nha xuất hiện ở khu vực. Chúng ta phản đối, không đồng tình với xu hướng phát triển như vậy, đồng thời tuyệt đối không cuốn theo chiều hướng đó. Với những người yêu hòa bình, những quốc gia yêu hòa bình thì phải làm hết sức để ngăn chặn và hòa giải nguy cơ trên, không được để va chạm của các nước lớn ảnh hưởng đến hòa bình khu vực và sự ổn định của đất nước mình.

* Nhưng biển Đông có yên tĩnh hay không, đâu chỉ phụ thuộc vào Việt Nam?

- Trong vấn đề biển Đông phải xem xét trên những vấn đề về lịch sử, những tuyên bố về chủ quyền và lợi ích quốc gia. Đâu là nguyên tắc giải quyết vấn đề lợi ích? Có ba điểm cơ bản. Thứ nhất, chủ quyền của mỗi nước. Đây là điểm bất di bất dịch, không thay đổi. Chúng ta muốn có hòa bình, muốn ổn định để phát triển những cũng sẵn sàng chấp nhận tất cả để giữ được chủ quyền lãnh thổ. Thứ hai, chia sẻ lợi ích. Chia sẻ chủ quyền lãnh thổ là không thể, nhưng chia sẻ lợi ích có thể trở thành con đường để giải quyết những khác biệt, tranh chấp. Thứ ba, phải tuân thủ luật pháp quốc tế và không để các thế lực khác chen vào, can dự vào những vấn đề của chính chúng ta. Trong các mối quan hệ an ninh của thế giới, không có mối quan hệ nào đơn thuần giữa hai nước với nhau. Một vấn đề nào đó giữa Việt Nam và Trung Quốc luôn gắn với bàn cờ chung của thế giới, nhưng trong những vấn đề của hai nước thì Việt Nam và Trung Quốc là hai người chơi chủ yếu, sao cho không để bên khác chen vào trục lợi. Nguyên tắc cơ bản là anh này phải tôn trọng chủ quyền và lợi ích của anh kia. Ví dụ như việc Trung Quốc tuyên bố về đường lưỡi bò có lợi cho ai? Tôi nghĩ rằng không có lợi cho Việt Nam và cũng hoàn toàn không có lợi cho Trung Quốc, mà đã làm dấy lên dư luận quốc tế không tốt cho Trung Quốc, có lợi cho các thế lực khác. Ta phải giữ cho được toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, độc lập, tự chủ trong quan hệ quốc tế; quan tâm xây dựng tiềm lực của đất nước, trong đó quan trọng nhất là tiềm lực kinh tế, không ngừng cải thiện đời sống người dân. Và cũng phải đặc biệt chú ý đến quan hệ quốc tế để có sự ủng hộ của cộng đồng thế giới, ngay cả khi trời yên biển lặng cũng như lúc phong ba sóng lớn. Chúng ta không tham gia vào những xung đột lợi ích của các nước lớn và điều tôi muốn nói là Việt Nam phải tránh mọi cuộc chiến tranh, trước hết là những xung đột trên biển Đông. Nếu có chiến tranh, có xung đột thì sẽ là thảm họa của dân tộc và là bất hạnh cho từng gia đình.


TÔI RẤT THÍCH LẮNG NGHE CÁC BẠN TRẺ TRÒ CHUYỆN

* Nhìn lại năm qua, trước những sự kiện liên quan đến biển Đông, nhiều bạn trẻ đã xuống đường để biểu thị lòng yêu nước. Ông có điều gì muốn nói với họ?

- Nếu được, tôi chỉ muốn chia sẻ suy nghĩ của mình với các bạn trẻ như một người bạn. Với lòng yêu nước, với phản ứng của tuổi trẻ, việc một số bạn trẻ xuống đường để biểu thị thái độ của mình là điều có thể hiểu được. Nhưng mục đích cuối cùng của tất cả chúng ta là giữ được chủ quyền trên biển Đông. Từ cách tiếp cận đó, chúng ta sẽ thấy rằng đâu phải phản ứng ngay mà đạt được mục đích. Điều quan trọng nhát là làm đất nước mình mạnh lên, trước hết là ổn định về chính trị. Không ổn định về chính trị thì không thể có đất nước mạnh. Nhìn ra thế giới chúng ta dễ dàng thấy điều đó. Trong tác phẩm “Hồng Kong thuở ấy” cũng đã nói lên một điều, với bất cứ quốc gia nào khi đất nước mạnh lên, theo đó chủ quyền sẽ được thu hồi và bảo vệ đầy đủ. Ở đây có một vấn đề chúng ta cần quan tâm nhiều hơn nữa, đó là lòng dân. Chính quyền phải luôn nhớ rằng phải có sự ủng hộ của nhân dân, ngược lại nhân dân cũng cần chia sẻ với chính quyền trong những thời điểm khó khăn. Để đất nước mạnh lên, chúng ta phải làm chủ về khoa học kỹ thuật, phải có sức mạnh kinh tế… và nói đến những vấn đề này thì chỉ có thể trông cậy vào thế hệ trẻ. Chính những người trẻ bằng năng lực hội nhập, bằng ý chí vươn lên mạnh mẽ, bằng sự hiểu biết sâu sắc về khoa học kỹ thuật sẽ định vị thế đứng Việt Nam trên trường quốc tế. Không phải ai khác, chính các bạn trẻ sẽ là những người nghĩ ra các giải pháp để đóng góp cho Nhà nước trong việc giải quyết từng bước vấn đề biển Đông. Tôi muốn nói rằng bờ mạnh thì biển mới vững, người giỏi thì đất nước mới hùng cường. Tất nhiên, khi đất nước thật sự cần, tuổi trẻ sẽ là những người đầu tiên dám hi sinh tất cả vì Tổ quốc mình.

* Bằng trải nghiệm của mình, ông nhìn thấy điều gì ở các bạn trẻ hiện nay?




Toàn bộ 2 trang báo số Xuân của báo Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh

- Tôi rất thích lắng nghe các bạn trẻ trò chuyện. Nhiều lần tôi đi cùng một vài bạn đang ở độ tuổi thanh niên đến quán cà phê hoặc những nơi mà các bạn trẻ gặp gỡ nhau. Tôi lắng nghe các bạn trẻ nói về tình hình đất nước, về kinh tế, về chính trị, về biển Đông… Có thể điều này, điều khác các bạn nói chưa đúng hoặc chưa thật chuẩn xác, nhưng đó là tiếng nói của tương lai đất nước và cũng chính là một trong những thước đo chính xác nhất về thời cuộc. Một số ý kiến cho rằng thanh niên bây giờ kém hơn trước đây, dường như ích kỷ hơn, dường như quan tâm đến các thú vui chơi giải trí nhiều hơn, nhưng tôi không nghĩ như vậy. Thanh niên lúc nào cũng là thanh niên và chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào tương lai đất nước nếu nhìn vào lớp trẻ hiện nay. Chỉ có điều phải làm sao để những giá trị truyền thống, những điều tích cực về quản lý và giáo dục thanh niên trước đây phát huy được trong bối cảnh mới. Cũng có ý kiến nói giới trẻ Việt Nam “trưởng thành chậm”, với ý là chúng ta chưa có những người trẻ ở vào vị trí dẫn dắt cộng đồng, trong khi nhiều cường quốc trên thế giới có lãnh đạo ở độ tuổi rất trẻ… Trước hết, phải nói về phong tục tập quán châu Á, thông thường muốn ở vào vị trí dẫn dắt thì phải là một người từng trải, nhiều kinh nghiệm. Bên cạnh đó, cơ chế cán bộ của ta khác so với nhiều nước. Nhưng hiện nay, nhiều bộ ngành của chúng ta có cán bộ các cấp ở vào độ tuổi khá trẻ, ví dụ như Bộ Ngoại giao với rất nhiều đại sứ trẻ, hay là nhiều tập đoàn, tổng công ty kinh tế mạnh với không ít gương mặt lãnh đạo rất trẻ, rất giỏi…



Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và "binh bét" Nguyễn Chí Vịnh, năm 1963. (Ảnh tư liệu gia đình)

* Ông nói muốn biết thanh niên hiện nay đọc gì. Vậy qua quan sát của ông, giới trẻ đang đọc gì?

- Những lúc có thời gian rảnh rỗi, tôi hay ra phố bán sách ở Nguyễn Xí, không chỉ để chọn sách cho mình mà còn muốn biết thanh niên hiện nay đang đọc cái gì. Trước sự bùng nổ thông tin và phát triển vượt bậc của công nghệ, văn hóa đọc phần nào đã bị mai một. Đây là điều đáng buồn. Trước đây, đã có những cuốn sách gối đầu giường, góp phần hình thành nên nhân cách của cả một thế hệ như “Thép đã tôi thế đấy”, “Chiến tranh và hòa bình”… Hiện nay, dường như các cuốn sách đó ít được nhắc đến. Các bạn trẻ bây giờ đọc về thời cuộc rất nhiều, tham gia mạng xã hội rất nhiều… nhưng dường như chưa được chăm lo cung cấp và định hướng thông tin ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Tôi nghĩ rằng đó là vấn đề của các nhà quản lý, của báo chí truyền thông cần cung cấp thông tin cho thanh niên một cách đầy đủ, chính xác và tự các bạn thanh niên sẽ nhận thức được nên đọc gì, làm gì. Chúng ta chỉ sợ các bạn trẻ bàng quan với thời cuộc.

* Chị gái ông, bà Nguyễn Thanh Hà, từng nhận xét em trai mình hồi nhỏ “rất bướng bỉnh, nghịch ngợm…” Cha ông – Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – từng gọi ông là “binh bét”… Ông có thể chia sẻ điều gì về kỷ niệm tuổi thơ?

- Từ khi 4 tuổi, tôi đã được ba thêu trên ve áo hai miếng dạ màu đỏ không sao không gạch. Ba gọi chức của con trai là “binh bét” và luôn bảo rằng khi lớn lên con đường của tôi là đi bộ đội. Nay mang trên vai quan hàm thượng tướng, tôi rất tự hào và biết ơn Đảng, Nhà nước, biết ơn quân đội. Nhưng niềm tự hào theo suốt cuộc đời tôi, đã ăn vào máu thịt tôi từ thuở ấu thơ chính là chức “binh bét” mà ba tôi đặt. Niềm tự hào ấy còn được nhân lên khi tên tôi cũng chính là tên khai sinh của ba tôi: Nguyễn Vịnh. Tôi là con người của đời thường với ba chỗ dựa: công việc, những người thân và bản thân mình. Tôi tự tin vào chính mình, nếu không làm nghề này thì cũng có thể làm việc khác, nhưng dù làm nghề gì đi nữa thì số phận cũng đã sắp đặt cho tôi, suốt đời tôi chỉ là một người lính. Và cũng như bất cứ người Việt Nam nao, tôi quan tâm đến tương lai đất nước. Dù ở thời đại nào, sự mất còn của đất nước, thịnh suy của dân tộc đều gắn với trách nhiệm của mỗi người dân bình thường đối với đất nước. Đó là điều tôi luôn quan tâm và hướng tới.

Dưới đây là vài chi tiết liên quan đến tên ông Nguyễn Chí Thanh và tên con ông là Nguyễn Chí Vịnh - Nguyễn Vịnh



Nguồn: phần 1: http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/473958/Tuong-Vinh-Toi-tu-hao-voi-quan-ham-%E2%80%9Cbinh-bet%E2%80%9D.html

và phần 2:
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/473958/Tuong-Vinh-Toi-tu-hao-voi-quan-ham-“binh-bet”.html?page=2

Thứ Hai, 16 tháng 1, 2012

Giàu có thật không?



Giàu có thật không?  


Hai bài viết dưới đây trình bày bởi một tác giả ở trong nước và một từ giới truyền thông nước ngoài.

Không đi vào khía cạnh chỗ đứng, về quan điểm thái độ này kia trước sự việc (như bài thứ hai chẳng hạn) mà chỉ đối chiếu sự phản ánh “Hà Nội có ăn chơi xa hoa hay không”  với một thực tế cuộc sống thực của Hà Nội - mà các tác giả này thể hiện - thì ai cũng phải công nhận các cây bút này đều đã rất trung thành phản ánh sự thực – một sự thực đang diễn ra lâu nay là có một giới người, một lớp người “giàu có mới” của Việt Nam, của Hà Nội đã quá xa hoa, đã quá đáng phung phí tiền của trong khi đất nước và đa phần nhân dân xung quanh họ còn bao gian khó nghèo nàn...

Người bạn tôi thời đi làm có cương vị chính thức kha khá trong xã hội bảo tôi cứ đưa lên blog để những kẻ xa hoa kia “xấu hổ” vì những hành động mà anh cho là lố lăng dớ dẩn trong một đất nước còn nghèo như Việt Nam.  

Bằng kinh nghiệm tôi nói ngay rằng, bạn ơi rất đáng tiếc là bọn giàu xổi dửng mỡ, kiếm tiền như cướp được kia lại chẳng bao giờ đọc blog đọc báo vào những bài-mục như thế này đâu; hoặc giả đọc phải thì cũng vờ như không thấy không biết, thậm chí còn cho rằng chúng ta là lũ hấp, khốt-ta-bít, chẳng hiểu thời thế là gì sất; ờ người ta có người ta tiêu xài, người ta ăn uống đấy, chứ nào có động đến ai; thật toàn cái đồ ghen tị, lạc hậu không biết kiếm tiền… - đại thể đó là mấy lời tôi nói với ông bạn già của mình khi nhìn nhận về bọn người tiêu bạc triệu bạc tỉ dễ dàng như chúng ta tiêu dăm ba chục ngàn đồng hàng ngày vậy! 

Tôi nói vậy không có nghĩa là “đánh đồng” tất cả mọi người có tiền như nhau. Trong một xã hội đã công nhận nền kinh tế thị trường (dù lãnh đạo đất nước không bao giờ quên kèm cái đuôi định hướng…) thì việc có người giàu xuất hiện, sự phân hóa giàu nghèo ngày càng xa cách, việc người có tiền kiếm được chính đáng chi tiêu thoải mái mạnh bạo không có gì đáng phê phán nặng nề cả. Điều đáng nói đáng bàn là bọn làm giàu bất chính.  

Cuối cùng vấn đề thực chất là sự tiêu tiền như thế thì Hà Nội là giàu có thật sao? Đáng tiếc câu trả lời là “Không”. Việt Nam hiện không phải là đất nước giàu có. Và Hà Nội cũng chưa phải là thành phố giàu sang thực chất.  

Hai bài viết dưới đây phần nào nói lên thực trạng hiện nay nhưng đã ở mức độ rất đáng báo động. 

Vệ Nhi g-th

-------   


Hà thành ăn ngủ xa hoa

TTCT - Ăn sáng bằng một tô phở 650.000 đồng, ăn tối trong một căn phòng vàng và đêm đến thì ngủ ở một khách sạn với giá 6.200 USD/đêm...? Hà Nội là nơi có thể thỏa mãn bất cứ ai có tiền bằng những dịch vụ đắt tiền như thế.

Bát phở bò Sagagyu 650.000 đồng - Ảnh: Việt Dũng

Trên những con phố Hà Nội chật chội, ngột ngạt vì kẹt xe, vỉa hè ngập tràn những quán vịt om sấu hay bún ốc, ít ai ngờ rằng thủ đô có những chốn “xứng danh kim tiền” đến vậy.

Dát vàng khắp nơi

Ấn tượng đầu tiên về khách sạn Grand Plaza Hà Nội khánh thành mới đây trên đường Trần Duy Hưng, gần Trung tâm hội nghị quốc gia, là từ sảnh lớn cho tới nhà vệ sinh đều dát kim loại màu vàng. Khách sạn có 618 phòng khách cao cấp và phòng hạng sang cùng nhiều nhà hàng mang nhiều phong cách ẩm thực, phòng tiệc, hội nghị...

Có hai phòng tổng thống với giá cao ngất: phòng 325m2 giá 3.900 USD/đêm, còn phòng 410m2 giá 6.200 USD/đêm, tức hơn 125 triệu đồng. Kim loại màu vàng dát đầy trên các chi tiết trang trí trong phòng, theo như lời kể của ban quản lý khách sạn. Bước vào căn phòng này, sờ tay vào cái giường ngủ của “tổng thống”, ta có cảm giác như mình đang bước vào một bảo tàng kim hoàn.

Nếu đã ở phòng “tổng thống” thì sao không đi ăn tối theo kiểu “hoàng đế”, với một phòng ăn được gọi là phòng vàng tại nhà hàng Long Đình trên phố Quán Sứ? Nhà hàng này nhìn bên ngoài cũng khá bình thường, nhưng có thêm những phòng ăn đặc biệt gọi là phòng vàng, phòng bạc. Những ly tách muỗng nĩa trên bàn lấp lánh màu của kim tiền. Thực đơn của quán toàn những món với tên gọi hào nhoáng và tiền thì tất nhiên cũng... xả láng. Cô Phạm Thị Vân Anh, phụ trách PR của công ty sở hữu nhà hàng này, cho biết một bát xúp vi cá giá 72 USD, một bữa tiệc có giá ít nhất cũng 800 USD.

Anh Việt, một doanh nhân Hà Nội từng mời bạn hàng Trung Quốc đến nhà hàng Long Đình, kể: “Người ta đến đây để hưởng cảm giác yến tiệc hơn là để ăn. Hôm đó năm người, tôi phải thanh toán hết gần 2.000 đô...” - anh cười. Cung cách phục vụ như thế nào là tùy theo ý muốn của khách, nhưng theo giới thiệu của nhà hàng thì khi ngồi ở phòng vàng, thực khách được phục vụ như “hoàng đế”.

Những họa tiết trang trí trong phòng tổng thống khách sạn Grand Plaza Hà Nội được dát màu vàng rực rỡ - Ảnh do KS cung cấp


Bát phở giá bằng cả tạ thóc

Bát phở bò này có giá 650.000 đồng, bằng giá một tạ thóc nếu tính giá cao 6.500 đồng/kg. Nhưng “có người sáng nào cũng ăn, có người kéo cả gia đình ba bốn thế hệ đến thưởng thức, thanh toán tiền ăn sáng hết vài triệu đồng là chuyện bình thường” - ông Tô Lâm, tổng giám đốc khách sạn Vườn Thủ Đô kiêm ông chủ nhà hàng trong khuôn viên khách sạn, nơi duy nhất ở Hà Nội bán loại phở bò đắt khủng khiếp này, kể về khách hàng của mình. Bãi đỗ xe nhà hàng chật ních những loại xe sang trọng, đắt tiền như Porche, Lexus...



Có gì khác biệt giữa hai loại phở? Phở Sagagyu 650.000 đồng được đặt trong tô bằng sứ có mạ vàng với một cái muỗng cong, còn bát phở bò Mỹ 125.000 đồng đặt trong tô thường, muỗng thẳng. Cũng khác biệt so với phở thường nữa là ở chỗ nhân viên chỉ mang bát phở có nước dùng ra, phần thịt bò được thái mỏng bằng máy và bọc trong một đĩa riêng để khách hàng tự tay nhúng. Khi cho vào bát phở chỉ sau chốc lát thịt bò đã chuyển từ màu đỏ sang màu sẫm. Cho vào miệng nhai có cảm giác miếng thịt tan rất nhanh, mềm, đậm đà và thơm. Ngoài ra còn có loại phở Kobe giá 500.000 đồng chế biến từ thịt bò Kobe, hoặc “mềm” hơn là phở Wagyu với thịt bò Úc có giá 220.000 đồng.

Làm khách sạn hơn 20 năm, bán phở đã năm năm nhưng chỉ hơn một năm trở lại đây ông Lâm mới bán phở bò Kobe. Ban đầu ông chỉ có mong muốn đơn giản là mang đến cho khách hàng những món ăn truyền thống đậm đà hương vị xứ Bắc. Nhận thấy thị hiếu khách hàng đất Hà thành ngày càng cao, ông quyết làm một bước đột phá: bán loại phở bò thượng hạng. Không ngờ món phở bò “quý tộc” này lại thu hút nhiều khách hàng đến vậy.

Ông Tô Lâm cho biết mặc dù đắt đỏ là vậy, nhưng nhiều hôm cả ba nhà hàng của khách sạn phục vụ 150 suất ăn một lúc vẫn bị quá tải. Lượng khách thưởng thức món phở này khá phong phú nhưng theo lời ông Lâm, hầu hết là giới doanh nhân tiếp đối tác, bàn chuyện làm ăn. Khách cuối tuần thường là gia đình giàu có.

Đứng dậy cầm hóa đơn thanh toán, dù biết trước giá cả nhưng chúng tôi không khỏi “xót ruột” khi trả hơn 800.000 đồng cho hai bát phở bữa sáng. Chợt nghĩ tới hóa đơn thanh toán của những người kéo cả gia đình đến ăn sáng bằng phở bò Kobe. Giá tiền trả cho một bát phở Sagagyu có thể đủ cho một bữa tiệc 5-6 người với vịt om sấu và rượu vodka - món ăn thuộc loại thịnh hành nhất trên vỉa hè Hà Nội hiện nay.

Hà Nội còn rất nhiều thứ xa hoa khác đang phô diễn trên những “ngõ nhỏ, phố nhỏ”, từ những chiếc xe siêu sang cho đến những cửa hiệu thời trang dành cho người có thu nhập rất cao. Những thương hiệu thời trang danh tiếng nhất trên thế giới khi vào Việt Nam vẫn chọn Hà Nội là điểm đến đầu tiên. Chẳng hạn như nhãn hiệu Hermes tại Việt Nam hiện chỉ có ở Hà thành, trong một khách sạn nổi tiếng nhất tại trung tâm thành phố. Và bây giờ là khách sạn 6.200 USD/đêm, là bữa tiệc vàng...


Còn bò Kobe hay Sagagyu? Vấn đề khiến người ta ngỡ ngàng không phải ở chỗ nó là món thịt đắt nhất vì chúng vẫn được bán nhiều trong các nhà hàng khác ở Việt Nam đấy thôi, mà là chuyện nó nằm trong một tô phở - món ăn vẫn bán đầy vỉa hè ngoài kia. Chẳng đâu xa, chỉ cần bước ra khỏi Vườn Thủ Đô mấy trăm mét, ta gặp ngay một cái bàn ven đường dưới tấm vải bạt, nơi những sinh viên, công nhân đang xì xụp những tô phở 15.000-20.000 đồng nghi ngút khói.


VŨ THANH BÌNH - LÂM HOÀI


Đây là một thói quen xài sang của một tầng lớp - tạm gọi là tầng lớp “người Việt mới”. Kinh tế thị trường ở bất kỳ nước nào trên thế giới đều gây ra hệ lụy là khoảng cách giàu nghèo, và khoảng cách đó chỉ ngày càng cách xa nhau chứ khó có thể xích lại gần nhau. Như cụ Đào Duy Anh từng viết, đại ý: việc xã hội tĩnh tại chuyển sang xã hội chuyển động sẽ làm phát sinh nhiều điều cần phải giải quyết dài dài.

Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi có người bỏ ra gần 1 triệu đồng để ăn một bát phở, vì đơn giản người ta thấy hài lòng với việc mình làm, nghĩ mình xứng đáng được ăn bát phở với giá trị - mà thực tế chỉ bằng một phần rất nhỏ, bé gấp nhiều lần so với thu nhập của người đó. Ở góc độ xã hội, tôi cho rằng phải chấp nhận với thực tế của hiện tượng trên, nhưng rõ ràng có nhiều điều phải suy ngẫm, bởi nước ta tỉ lệ người nghèo còn quá cao. Hơn nữa, phải nhìn nhận ngoài những người giàu từ làm ăn chính đáng, kết quả từ việc đầu tư công sức, tiền của, chất xám, không loại trừ có không ít cá nhân làm giàu từ đồng tiền bất chính. Những cá nhân này không bao giờ tiếc và không ngại phung phí đồng tiền của họ.

Tuy nhiên, nhìn nhận công bằng hơn, không thể “bình quân chủ nghĩa”. Người kiếm được nhiều tiền thì tiêu nhiều, kiếm ít phải chấp nhận tiêu ít, không có lý do để buộc người có nhiều tiền phải tiêu ít đi. Nhìn nhận lạc quan hơn thì xuất hiện thói quen xài sang của một bộ phận người Việt cũng là tín hiệu đáng mừng về thu nhập đang tăng lên, sâu xa hơn là tín hiệu về một đất nước đang giàu lên, nền kinh tế đang ngày càng phát triển.

PGS-TS NGUYỄN THỊ MINH THÁI
(Chủ nhiệm bộ môn văn hóa - truyền thông ĐH KHXH&NV Hà Nội)


--------

Cách nhìn ở bài viết dưới đây (trích đoạn) là của truyền thông nước ngoài chắc chắn có những điểm khác biệt với trong nước. Cần đọc tham khảo để càng thấy rằng, hoang phí (trong khi nước còn nghèo) không chỉ đơn thuần là hoang phí mà nó còn dẫn tới những liên hệ và suy diễn hết sức nguy hại cho đất nước.

Việt Kiều dành dụm mang tiền về nước làm từ thiện
cho nhà giầu Hà Nội ăn chơi xa hoa

Vi Anh

Phóng viên Alastair Leithead từ Hà Nội gửi tin về bản đài nói về dân nhà giàu ăn chơi. Tựa đề phóng sự là “Ăn Phở 35 Đô Ở Nước Việt Nam Cộng Sản”.  
Còn chuyện chơi xe máy Harley Davidson mà một thành viên người ngoại quốc của Câu lạc bộ nhận xét với phóng viên rằng "ông sẽ không bao giờ nhìn thấy nhiều xe hạng sang như thế này ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới đâu". Chơi xe hơi giá thật mắc (đắt tiền nhất), mới và lạ không thể tưởng tượng được ở VN. XePorsche hai cầu dù Alastair Leithead là nhà báo đi nhiều nhưng chưa biết có loại xe đó; còn xe Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý người đặt hàng mua cũng đã xuất hiện nhiều tại VN. 

Tin RFA, thống kê của Bộ Công thương tại Hà Nội công bố trong năm 2010, ViệtNam CS đã “nhập khẩu“ những mặt hàng xa xỉ lên đến 10 tỷ đô la Mỹ. Ô tô và xe máy chiếm khoảng 1 tỷ đô la, trong khi “hàng hiệu” được xem là xa xỉ phẩm như điện thoại di động loại mới, mỹ phẩm, rượu bia, thuốc lá, đồ trang sức, đá quý và quần áo loại sang chiếm đến 9 tỷ đô la. Thật khủng!

Số triệu, tỷ phú đô la nổi ở trong nước mỗi năm đều tăng lên. Có người chẳng những mua xe sang mà mua luôn máy bay để đi lại nữa. Số triệu, tỷ phú chìm ắt còn nhiều hơn nữa nhưng họ dĩ nhiên là muốn giấu kín sự giầu có... Đó là những cán bộ đảng viên có quyền khi tham nhũng trở thành quốc nạn. Tài sản họ thu gom được, thực chất như là “cướp được” của nhân dân và đất nước họ cũng nhiều vô số kể. 

Trong bối cảnh tham nhũng là quốc nạn, một số trong hơn 3,6 cán bộ đảng viên CS đã lợi dụng chỗ đứng để bòn rút, hối mại từ quyền thế, tham ô nhũng lạm, dĩ công vi tư .. Đám này giàu có, thừa mứa, mỗi năm xài cả tỷ Mỹ kim cho hàng hóa “nhập” xa xỉ trên kia.  

Người Việt hải ngoại đâu có giàu như họ được dù phải làm việc một tuần 40 giờ, với hàng chục thứ hoá đơn phải trả, đóng thuế cao, đâu có được hưởng quyền lợi ưu đãi gì như ở VN? Tại sao khi có thiên tai thì những kiều bào này lại bị kêu gọi góp tiền đem về cứu trợ. 

Hỏi có người Việt Hải ngoại nào ăn tô phở bò 35 Đô mắc như vàng như ở VN? Ai mà dám đi xe máy dầu nhãn mác Harley Davidson hạng sang, các loại xe hơi Porsche hai cầu, Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý của người chủ mua? Và liệu có mấy người mua Iphone 4 mới ra với giá tương đương 900 Đô?...

.......