Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ Đức Tâm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vũ Đức Tâm. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

Nghễnh ngãng hưởng thái bình



Nghễnh ngãng hưởng thái bình






Là một nhà ngoại giao về hưu, anh Vũ Đức Tâm có những bài viết hay trên trang facebook của mình. Những bài đó anh thường share cho bạn bè cùng đọc. Có thể nói dạng ghi chép, tản văn như thế này là một thế mạnh ở ngòi bút của Vũ Đức Tâm. Xin giới thiệu bài viết dưới đây.

Vệ Nhi


------


Nghễnh  ngãng hưởng thái bình

Vũ Đức Tâm

Thuở ấy, ông bà còn đang tràn đầy sức xuân. Ông đã đi làm được ít năm, công việc ổn định, thu nhập tàm tạm, nhưng vẫn chăn đơn gối chiếc, chưa có ai nâng khăn sửa túi. Ông thích nghe nhạc, mê văn, thơ. Bà nổi tiếng xinh đẹp, nết na, thùy mị, cũng phải lòng thơ, văn, âm nhạc chả kém và cũng chưa cùng ai. Bà có cuốn sổ nhỏ chép đầy những câu thơ, đoạn văn tâm đắc. Kiểu như : Ai chỉ được cho trăng chỗ đứng/Ai bảo trăng dừng lại chốn này/Ai bảo được trái tim thiếu nữ/Yêu một lần thôi chớ đổi thay… Các chàng trai trẻ cứ  gọi là xếp hàng dài dằng dặc trước nhà người đẹp, trổ đủ các ngón mong lọt vào mắt xanh của nàng. Ông chững tuổi hơn họ, lại là kẻ đến sau, nhưng lại là kẻ chiến thắng. Bạn biết sao không? Đơn giản là do tâm hồn đồng điệu. Những chàng trai kia ồn ào đến với nàng trong tiếng xe máy gầm rú, khoe gia cảnh, của nả và cố tỏ ra ta sành điệu. Nhưng khi nàng hỏi đọc bài thơ này, bài thơ kia, truyện này, truyện kia chưa thì hầu hết lúng túng, có chàng còn dại dột thốt lên: Ôi dào, thơ với thẩn ! Cụt hứng, thế là nàng cho nghỉ khỏe. Những lần sau đến, chỉ có ông bô hay bà bô tiếp. Mẹ gọi, nàng bảo « con bận » hoặc đau hơn là « khách của mẹ chứ của con đâu ». Trong khi đó, không những cùng bà hào hứng bình luận về những áng thơ văn bà thích, ông còn thủ thỉ đọc cho bà nghe nhiều bài khác. Thậm chí ông còn cao hứng thức trắng đêm, sáng tác thơ tặng bà, đó là bài thơ « xuất thần » duy nhất mà lại bằng tiếng Anh mới độc chứ (chả là bà thạo tiếng Anh mà). Người ta bảo con trai yêu bằng mắt, con gái yêu bằng tai, thế thì ông mê bà và bà « đổ » là phải rồi.






Họ về với nhau, nghèo vật chất nhưng giàu có về tinh thần. Vẫn chung niềm vui thưởng thức văn thơ, bên nhau lặng nghe những khúc nhạc trữ tình. Rồi con cái ra đời, rồi bao nỗi lo toan cơm áo gạo tiền vẫn không làm họ từ bỏ niềm đam mê đó. Hầu như ngày nào họ cũng rủ rỉ  tâm sự. Thường thì thời gian đầu, vợ chồng luôn quấn quýt, ríu rít với nhau, thời gian trôi đi, chuyện trò thưa dần và khi về già thì kiệm lời với nhau lắm. Nhưng ông bà là ngoại lệ. Cho đến khi con cái trưởng thành có gia đình riêng, rồi về nghỉ hưu họ vẫn còn ối chuyện để nói với nhau, vẫn còn thơ hay để ông đọc bà nghe và vô số bản nhạc, bài ca để ông bà cùng chìm đắm trong những giai điệu du dương, trầm bổng. Có dạo, ông bà rất thích bài « Bonjour Việt Nam ! » với giọng ca trong vắt, đầy truyền cảm của Phạm Quỳnh Anh và  cứ vừa nghe vừa nhẩm hát theo. Ông vẫn thầm cảm ơn Chúa đã ban cho con người khả năng nghe được âm thanh muôn vẻ và huyền diệu của cuộc sống. Quá hạnh phúc phải không ? Nhưng rồi cái gì quá cũng không bền. Dường như để trừng phạt cái « tội »dám đi ngược qui luật, thính giác của bà kém dần, kém dần, cho đến lúc, ông không thủ thỉ với bà được nữa mà gần như phải hét lên. Mà hét lên thì còn gì là tâm sự nữa cơ chứ ! Còn bà cũng không thỏ thẻ oanh vàng nữa mà nói oang oang chỉ sợ người khác không nghe được. Tình trạng ông nói gà bà nói vịt ngày càng nhiều. Ông bảo đưa hộp xi thì bà đưa cái li. Ông cáu bảo xi đánh giầy cơ mà, thì bà đưa cái bàn là. Ông lắc đầu bảo tôi không là quần áo, thì bà đưa ông tờ báo…Thế là ông hết kiên nhẫn, từ trong ngách ra ngõ rồi ra phố, sà vào một quán nước vỉa hè, gọi chén nước vừa uống vừa ngẫm sự đời.

Con nhà gia giáo, từ bé ông không có thói quen lê la hàng quán. Sau lớn lên đi làm, có lần thủ trưởng cơ quan còn bảo cậu chớ ngồi quán nước hư người đi đấy. Thế là ông nghiêm chỉnh chấp hành cho đến nay mới thấy tiếc vì ngồi quán nước vỉa hè hay đáo để. Quan sát cuộc sống muôn màu muôn vẻ, chia sẻ tâm sự với mọi người, lượm lặt được ti tỉ chuyện hay, đủ các cung bậc hỉ, nộ, ái, ố… Rồi những tin tức đủ loại mà chả cần đọc báo cũng nắm được, kèm theo những bình luận, nhận xét rất phong phú. Từ đó, hễ có trục trặc gì ở nhà, ông lại ra quán. Rồi ông nghiện quán nước hè phố, hôm nào không ra là nhớ, là có người nhắc, nhất là cô bán nước trẻ trung, có duyên, lại biết chiều khách như thượng đế, dù là thượng đế vỉa hè. Nhưng dần dà, do tình hình kinh tế-xã hội  « tuột dốc không phanh », những chuyện nghe được trong quán cóc lại làm ông sầu thêm. Đó là những vụ tai tiếng đủ loại, kéo theo những bức xúc của đủ mọi tầng lớp trong xã hội. PMU18, Vinashin, Vinalines, Văn Giang, Đồ Sơn, Tiên Lãng, bầu Kiên, Nhân bản xét nghiệm, Vacxin,chạy chức, bằng cấp rởm… Tệ hại đến mức bà Phó Chủ tịch Nước đã phải thốt lên : « Người ta ăn của dân không từ cái gì » rồi "Đạo đức xã hội xuống cấp đáng báo động". Mọi người tranh nhau nói, vạch tội, kết tội, nguyền rủa bọn vô trách nhiệm, vô lương tâm, ăn tàn phá hại, làm lãng phí biết bao tiền thuế của dân. Ngày nọ qua ngày kia, những chuyện tiêu cực cứ kế tiếp nhau được phanh phui, lấn át dần những chuyện vui vẻ nơi quán cóc. Mà chả phải chỉ ở quán cóc đâu, ở đâu cũng toàn chuyện thế cả. Trên VTV, cũng nhiều ông chém gió vù vù quyết liệt chống tham nhũng. Nhưng tham nhũng chẳng vì thế mà giảm. Nghe tức anh ách, tắt phụt ! Mà đau nhất là người dân giờ đây thản nhiên gọi lãnh đạo bằng tay này, tay nọ, thậm chí bằng thằng này, thằng kia. Nghe chả lọt cái lỗ nhĩ tẹo nào. Mạt vận rồi ư ? Ông thấy không còn yên ổn với chén trà nữa, buốt óc, nhức đầu cứ như bị tra tấn và ông quyết định không ra đó nữa. Ông cũng không xem TV, không đọc báo, không thèm đi đâu nữa !



Ông ở nhà với bà, lặng lẽ hút thuốc, chăm sóc cây cối, giúp bà những việc lặt vặt. Thời gian cứ miệt mài vô tình trôi. Rồi cũng đến giai đoạn ông « Hả ?,Hử ? Sao cơ ? » liên tục khi nói chuyện với bà, với người khác. Âu cũng là lẽ đời vô thường. Ông trở nên ít nói, hay trầm ngâm, ngại quan hệ. Chả phải vì ông không muốn mà sợ mình nói người ta nghe được, còn bản thân thì cứ phải căng tai ra mà chỉ  nghe câu được câu chăng. Chả nhẽ cứ « hả, hả » suốt thì còn ra thể thống gì nữa. Có nhiều lúc, ông nghe bập bõm, chả hiểu nhưng vẫn gật gật lấy lệ, thấy mọi người cười ông cũng cười theo, ngán ngẩm thấy mình lạc lõng. Chạy chữa chẳng ăn thua, đeo máy nghe thì phiền toái mà nhiều lúc tạp âm khiến đầu cứ ro ro, thật khó chịu đành vứt xó. Lúc này ông mới thông cảm với bà và vô cùng hối hận vì đã có lúc sẵng giọng, cáu bẳn với bà. Để sửa lỗi, ông quan tâm đến bà hơn. Nhiều lúc, ông bà ngồi bên nhau, tay trong tay, im lặng, thế thôi, chứ không mở nhạc như trước : mở bé thì không nghe được, mà mở to thì thành « loa phường » mất. Ông bà vẫn cùng ăn một mâm, cùng ngủ một giường. Bà vẫn chăm sóc ông chu đáo, lo cho ông cơm ngon canh ngọt, nhưng họ hầu như chả còn thủ thỉ tâm tình gì được nữa. Bà lại mắc chứng khó ngủ nên suốt ngày cứ ngủ gà ngủ gật. Ông buồn nẫu ruột.

Rồi một hôm, bà chuẩn bị cơm nước tươm tất cho ông rồi đi có việc cùng cô con gái đầu. Ăn xong, một mình, thấy cô đơn, ông lững thững ra phố. Thấy ông từ xa, cô hàng nước vẫy tay réo gọi, hỏi ông sao lâu không ghé quán. Ông rảo bước đến, chào mọi người, ngồi xuống phân trần, rồi lặng lẽ nhâm nhi chén trà nóng. Quán đông dần. Mọi người hỏi thăm ông vài câu xã giao rồi lại sôi nổi trò chuyện. Ông trông thấy người ta khoa chân, múa tay chém gió, mắt trợn, mày nhíu, mồm há, mồm ngậm, đầu lắc lắc, nghiêng sang phải, sang trái… nhưng hầu như chỉ nghe thấy lào xào như gió thoảng. Ông có cảm tưởng như mình đang xem kịch câm, hay một màn múa rối. Ông cứ ngồi mãi, khi thì « xem múa rối, kịch câm », khi thì nhìn xe cộ qua lại ngoài đường. Bỗng thấy vui lạ. Cảm giác cô đơn vụt tan biến. Ông chợt ngộ ra trong cái rủi có cái may. Quá buồn phiền vì nặng tai chả nghe rõ, giờ ông lại thấy vui vẻ, dễ chịu vì chả phải nghe những gì mình ghét, những cái khiến ông bức xúc mà bất lực : than phiền, oán thán, bất công, tham nhũng, tiêu cực tràn lan trong xã hội. Mà ở tuổi ông, dễ xúc động, thần kinh mong manh lắm, nghe những chuyện ấy không nhồi máu cơ tim cũng xuất huyết não thì có mà tàn đời. Ông vô cùng biết ơn Chúa vì đã ban cho ông cái khả năng « nghễnh ngãng » thật đúng lúc. Người ta bảo « ngu si hưởng thái bình ». Ông chả ngu đâu mà là « nghễnh ngãng hưởng thái bình ». Ông ra khỏi, ấy quên, rời khỏi quán cóc, khấp khởi mừng thầm, suýt nữa thì reo lên giống như Archimedes trần truồng từ bồn tắm lao ra phố: "Eureka!".

Nếu có bao giờ bạn thấy trong quán nước một ông tầm thước, vẻ hơi ngu ngơ, chả nói gì, chỉ thi thoảng mỉm cười một mình thì chớ nghĩ ông "thần kinh" nhé. Đích thị là "Ông nghễnh ngãng" đấy!

Hà Nội, 18/09/2013
Vũ Đức Tâm

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2013

Tình bạn đẹp


Tình bạn đẹp

Trên facebook, anh bạn Vũ Đức Tâm vừa tag vào tường nhà mình một bài anh mới viết. Đó là một phác họa chân dung một người bạn anh. Mình nghĩ chỉ khi người ta quý hóa nhau lắm, trân trọng nhau nhiều thì mới có thể viết nên một "chân dung bạn bè đậm tình cảm bạn bè" như vậy. 


Xin giới thiệu lên đây cũng là để bạn bè của mình và bà con thường ghé trang blog của minh cùng thưởng thức, chia sẻ.

Vệ Nhi



------ 

  

Say hơn rượu


Thân tặng bác Đông Ngàn Đỗ Đức

VĐT

Hôm chúng tôi đến thăm ông, vừa bấm chuông thì trời đổ mưa. Là điềm may mắn đấy vì « vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách » mà. Nhìn qua khe cửa thấy ông ống thấp ống cao, xộc xệch, khập khiễng, nhưng hối hả đi xuống cầu thang trời. Tôi vội hét lên từ từ thôi, cứ để mưa ướt tôi, ướt ông chả sao chứ ông mà ngã cú nữa là toi đấy. Ông vẫn cứ đi nhanh và mở cửa nhanh, nở nụ cười rất quyến rũ và hiếu khách. Phải nói ông đẹp trai. Đôi mắt giàu tình cảm và đặc biệt nụ cười rất « tốn gái », tôi đã ghé tai ông thầm thì vậy, ngay lần gặp đầu tiên tại nhà tôi vào dịp Tết con Rắn.  


Rồi ông bảo tôi đẩy cái xe máy gửi ngay nhà đối diện. Xong, chúng tôi theo ông lên phòng khách. Vô vàn tranh trên tường, tranh trên giá, dưới sàn, đồ đạc,màu vẽ, bút vẽ lộn xộn, ngổn ngang. Giữa sàn là một ấm trà với ba cái chén hai lớn, một bé, đĩa quả gồm hồng bì, mận, chuối… Chúng tôi biếu ông ít trái cây và bó hoa hồng còn rất tươi, chúc ông mau khỏi… Khách, chủ ngồi ngay xuống sàn. Ông rót nước ra mời khách, nhưng lại chẳng để tâm lắm vì ông say sưa kể chuyện đời, văn vẻ, vẽ vời, cứ như lâu lắm mới được nói ! Có lúc mải chuyện ông cầm cả chén của khách đã uống dở thản nhiên uống, rồi để xuống, rồi lại chuyện. Tôi chả « chấp » cái nhầm ấy của ông cũng như cái luộm thuộm, bừa bộn trong sinh hoạt vì nghệ  sĩ đều thế cả mà. Càng nổi tiếng lại càng thế. Hơn nữa, trước đó, qua phôn ông đã tỏ ra ái ngại vì đau chân nên không dọn dẹp nhà cửa được. Tôi còn cho rằng đó là cách ông thể hiện tình thân với tôi và như thế đã coi tôi là cánh hẩu của ông rồi.

Tôi bảo trong sáng tác thấy rõ ông gắn bó với miền núi. Ông chữa ngay, không phải gắn bó mà ông thuộc về miền núi, là người con của miền núi. Bao nhiêu năm lăn lộn với núi rừng ông yêu tha thiết từng viên đá, ngọn cỏ, lá cây, những con người bình dị của bản làng. Chả thế mà trong các tác phẩm của ông ngay cả đá, tưởng vô tri vô giác đều rất có hồn. Trong hội họa, sáng tác của ông thuộc nhiều thể loại nhưng ông tâm đắc nhất là tranh trên giấy dó. Tôi nói vui cha ông ta phát minh ra giấy dó là để cho Đỗ Đức. Đỗ Đức sinh ra để vẽ trên giấy dó. Tranh giấy dó của ông mịn màng, bảng lảng sương khói đẹp như mơ, như thơ. Còn tản văn của ông giàu biểu cảm, ngồn ngộn tri thức văn hóa dân tộc, đủ các cung bậc sắc màu như tranh. Thiên nhiên, con người miền núi qua ống kính của ông sống động, chân thực, muôn màu, muôn vẻ… Chúng tôi cứ hết chuyện nọ sọ chuyện kia, quên cả thời gian. Đến lúc tôi ra về thì đã nhá nhem rồi.


 Về đến nhà, vừa vào mạng đã thấy ông « đưa tin » về chuyến chúng tôi đến thăm ông, kèm theo cái ảnh tôi và ông ngồi bệt trên sàn, trước mặt là lọ hoa hồng. Hai người đều tươi tắn, mặt đỏ gay. Đặc biệt, ông nghiêng đầu về phía tôi rất tình cảm. Thật không ngoa nếu phong ông là « Vua Phây búc »vì ông ngự trị ở đó, hầu như thường xuyên ở đó. Thoắt cái đã thấy ông pốt bài mới. Khi thì bức tranh, khi thì bài tản văn, khi thì vài nhận xét thâm thúy và xác đáng về một việc nào đó... Hễ thấy bài ông, các facebookers ào ào xông vào để bấm « like » và « comment » đông đảo và rôm rả lắm. Ấy thế mà thoắt cái đã thấy ông ở nơi nọ, nơi kia. Khi thì nghiêm chỉnh họp bàn, khi thì bông đùa ngả ngốn  bên vại bia, chén rượu với bạn bè và người đẹp muôn phương. Rồi thoắt cái đã thấy ông ở nước này, nước nọ. Chắc là ông luyện được phép phân thân mới có thể cùng lúc làm biết bao nhiêu việc, có mặt ở bao nhiêu nơi, gặp gỡ bao nhiêu người ? Ông chơi hết mình và bạn bè cũng hết mình với ông.  Nhà ở thì ông chỉ có một, nhưng trong ông lại có vô số Nhà : Họa sĩ/Văn sĩ/Thi sĩ/Nhiếp ảnh/Dân tộc học/Nhà báo… Đỗ Đức. Mà nhà nào cũng có tài đến mức các bậc trưởng thượng trong giới văn nghệ nước nhà như Bùi Xuân Phái, Tô Hoài, Lữ Huy Nguyên… cũng phải « nể ».


 "Thiên nhiên, con người miền núi qua ống kính của ông sống động, chân thực, muôn màu, muôn vẻ…" (VĐT)


Được một người như thế nghiêng đầu tình cảm coi là bạn khiến tôi sướng âm ỉ. Không những thế, ông còn bảo sẽ vẽ chân dung tôi. Tôi khấp khởi mừng thầm. Tôi không biết vẽ nên "viết" chân dung ông để tặng ông vậy. Mọi người xem ảnh cứ thắc mắc sao mặt hai ông đỏ thế, chắc phải chén chú chén anh rồi đây. Xin thưa rằng :

Hai ông ngồi đó mặt đỏ gay,
Chả uống giọt nào thế mà say.
Cõi đời ối thứ say hơn rượu,
Say tình, say nghĩa thế mới hay !

Vũ Đức Tâm
30/7/2013

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2013

Một tình bạn Pháp - Việt quý hóa


Một tình nghĩa Pháp - Việt quý hóa


Đang ở Tĩnh Gia, Thanh Hóa thì nhận từ Vũ Đức Tâm tag vào Fb của mình bài viết của anh. Đó là những dòng chữ cảm động viết về một người bạn Pháp, bà Andrée Nguyễn, mới qua đời.  

Tình hữu nghị Pháp - Việt, ở đây phải nói đó là “Tình Nghĩa Pháp –Việt" thì mới đúng, mới đủ chuyển tải hết nội dung của mối quan hệ này. 

Chắc hẳn ở đây có sự dun dủi của duyên phận, nó tới từ tình cảnh của hai đất nước, hai dân tộc. Một quá trình phức tạp trong mối quan hệ với những va đập trớ trêu của lịch sử đã hình thành, kiến tạo nên nó... 

Đầu óc thực dân đế quốc từ năm 1858 đã làm đối lập mất-còn giữa hai nước, nhưng rồi nhận ra cuộc đấu tranh giành độc lập tự do của nhân dân Việt Nam là chính nghĩa thì nhân dân Pháp đã dần trở nên bạn bè và ủng hộ chúng ta, đương nhiên như thế là phản đối các thế lực tham tàn hiếu chiến ở chính ngay nước Pháp của mình. Nên đã có những con người tử tế tốt bụng và hết lòng vì Việt Nam của chúng ta như Bà Andée Nguyễn.

Mình thấy một người có nick M.Đ gửi phản hồi cho tác giả: "Cám ơn bác Tâm đã chia sẻ tình cảm và kỷ niệm về bà Andrée một người bạn tuyệt vời của Việt Nam. Những người như bà làm chúng ta thêm yêu nước Pháp và hết lòng mong muốn Việt Nam mau chóng trở thành một nước văn minh, tiến bộ để đáp lại niềm tin yêu của bạn bè quốc tế. Chứ còn như bây giờ ........ còn quá nhiều điều không vui". Có lẽ đây là ý kiến chung mà nhiều người Việt chúng ta luôn nghĩ ngợi trong đầu.
 
Để hiểu về Bà Andrée một cách trực tiếp, xin mời bà con và bạn bè đọc vào “chinh văn” của người bạn tôi, ngòi bút đậm nghĩa tình cũng là nhà ngoại giao văn hóa rất giàu kinh nghiệm - anh Vũ Đức Tâm, -, trong bài viết dưới đây.

Vệ Nhi  g-th


-----


"Sứ giả văn hóa Việt tại Midi-Pyrénées" đã đi xa


 

 

 

Bà Andrée Nguyễn

Tác giả: Vũ Đức Tâm

Bà Andrée  Nguyễn, nguyên Chủ tịch Hội Essor Vietnam, Chủ Galerie Jardin Ánh Tuyết tại Toulouse qua đời ngày 1/6/2013. Sinh thời, người con dâu Việt này đã tích cực quảng bá văn hóa Việt Nam tại Pháp và hoạt động hết mình trợ giúp Việt Nam ở hầu khắp các tỉnh, thành  nước ta. Nhân một tháng tròn ngày bà đi xa, tôi viết những dòng này tưởng nhớ về bà, người đã hợp tác rất chặt chẽ và hiệu quả với chúng tôi trong các hoạt động tại vùng Midi-Pyrénées những năm 2004-2007.


 Nhận được điện của chị Nguyễn Bích Huệ, Tham tán Công sứ Đại sứ quán ta tại Pháp về sự ra đi đột ngột của bà Andrée Nguyễn vào tối 1/6, tôi vô cùng bất ngờ. Cách đó vài ngày bà còn gọi điện rủ tôi phối hợp với bà thực hiện một cuộc nói chuyện về Việt Nam cho các bạn Pháp nhân Năm chéo Việt-Pháp 2014. Giọng bà còn rất khỏe và còn đùa bảo tôi hãy « ra khỏi tháp ngà » làm chuyến trở lại « Mẫu quốc » (Vì có lần tôi bảo bà với tôi là đồng hương vì các bậc cha chú của tôi thuộc lòng câu « Nos ancêtres sont les Gaulois » (Tổ tiên chúng ta là người xứ Gaule). Thế mà… 

Ngày 5/6, cùng thời gian với buổi lễ ở Nhà thờ Saint-Pierre (Blagnac) bên Pháp, Nhà thờ Sainte Marie, tại 37 Hai Bà Trưng, Hà Nội, cũng tổ chức lễ cầu nguyện cho bà. GS-TS. Hoàng Xuân Sính, cháu ruột ông bà Nguyễn thay mặt gia đình đọc điếu văn. Sau buổi lễ, tôi bồi hồi nhớ lại…Một buổi sớm mùa xuân năm 2004, một phụ nữ Pháp gọi điện tới Phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh UNESCO muốn gặp tôi. Tôi cầm máy nghe và ù tai vì bà nói quá nhanh. Học ngoại ngữ để nghe được trực tiếp người bản ngữ đã khó, nghe qua phôn lại khó hơn và nghe hội thoại trên phim ảnh thì thôi rồi, bập bõm câu được câu chăng, ù ù cạc cạc, chỉ đoán ý mà thôi. Tôi xin lỗi và đề nghị bà nói chậm và rõ hơn. Sau đó, tôi cũng hiểu vấn đề, tuy nhiên, thỉnh thoảng vẫn phải nhắc bà« doucement, doucement, s.v.p. ! » (từ từ thôi !). Đó là cuộc tiếp xúc đầu tiên của tôi với Đại diện của Hội « Những người bạn của Việt Nam », bà Andrée Nguyễn. Bà thay mặt cho Hội mời tôi xuống dự« Tuần lễ đoàn kết Việt Nam » tại Toulouse. 

Paris phía Bắc nước Pháp cách Toulouse, thủ phủ vùng Midi-Pyrénées ở phía Nam khoảng 800 cây, tôi quyết định đi tàu hỏa. Đón tôi tại Toulouse có bà Andrée Nguyễn và một hai vị của Hội. Khác với dự đoán của tôi, bà Nguyễn không còn trẻ, người thấp, nhưng rất năng động, vui vẻ, cởi mở và đặc biệt, nói « như súng liên thanh ». Bà là linh hồn của mọi hoạt động trong « Tuần lễ đoàn kết Việt Nam » : Hội thảo, văn nghệ, biểu diễn võ dân tộc, thi tìm hiểu về Việt Nam cho các em học sinh phổ thông… Bà luôn giới thiệu tôi rất trịnh trọng là Ngài Đại sứ. Còn tôi cũng giữ phép lịch sự gọi bà là Bà Nguyễn. Trong buổi khai mạc, theo thói quen, tôi không đọc « đít cua » viết sẵn mà nói vo (thật ra, tôi luôn có mảnh giấy nhỏ với vài cái gạch đầu dòng cất ở túi áo ngực, phòng khi quên vở...kiểu "tiểu nhân phòng bị gậy" ấy mà). Tôi giới thiệu tóm tắt về Việt Nam, về quan hệ Việt-Pháp và những lĩnh vực mà các bạn Pháp có thể góp phần giúp đỡ Việt Nam. Sau đó là phần hỏi, đáp, rất cởi mở, chân tình và có phần thoải mái. Sau buổi ấy, quan hệ giữa tôi và bà Nguyễn cũng như các bạn Pháp đã trở nên gần gũi, đỡ khách sáo hơn. Chiều muộn, sau khi kết thúc các hoạt động của ngày đầu tiên, bà Nguyễn lái xe đưa tôi đi thăm Toulouse được mệnh danh là thành phố hồng – Ville rose, vì các tòa nhà đều được xây bằng loại gạch nung có một sắc hồng thật kỳ diệu. Hơn nữa, lúc ấy hoàng hôn buông xuống, chân trời nhuộm đỏ, cảnh vật soi bóng xuống dòng Garonne lung linh, huyền ảo khiến ta nhớ mãi…

Sáng hôm sau, bà đến khách sạn đón tôi đến nhà ăn sáng. Lúc đó, chúng tôi mới có dịp hàn huyên. Bà Nguyễn (Andrée Bourbon) sinh năm 1932 tại Rouen, miền Bắc nước Pháp trong một gia đình khá giả. Cha muốn bà trở thành dược sĩ, một nghề rất ổn định và phù hợp với nữ giới, nhưng bà thích làm kĩ sư hơn. Năm 1954, sau khi tốt nghiệp trường Đại học bách khoa dành cho nữ (EPF), bà đến Toulouse thực tập tại Sud-Aviation, một trong hai xưởng máy bay lớn của Pháp, nơi chỉ có ba phụ nữ, còn lại toàn nam giới. Đối với một cô gái trẻ đi từ phía bắc Pháp đến phía nam, ngồi tầu mười mấy tiếng đồng hồ, rồi đến một môi trường hoàn toàn xa lạ, vào thời ấy quả là một cuộc phiêu lưu. Nhưng bà thích thế. Duy có điều bà không nghĩ là sẽ lập nghiệp và sinh sống luôn ở đó. Tôi bất chợt nhớ đến mấy câu: "Đến đây thì ở lại đây/Bao giờ bén rễ xanh cây hãy về." Mấy ai học được chữ ngờ, tại nơi thực tập, cô sinh viên mới ra trường rất ngưỡng mộ chàng trai Nguyễn Văn Phúc, xếp trực tiếp của mình, người chỉ huy toàn bộ công việc tính toán của chiếc máy bay Caravelle, máy bay phản lực dân dụng đầu tiên trên thế giới do Sud-Aviation sản xuất. Sau chiếc Caravelle, người kĩ sư tài ba này còn tham gia thiết kế chế tạo máy bay Concorde, máy bay phản lực siêu âm đầu tiên trên thế giới, với sự hợp tác giữa hai nước Pháp và Anh. Rồi tình yêu đến với họ. Năm 1956, họ thành vợ thành chồng. Ba người con lần lượt ra đời buộc bà phải từ bỏ ngành hàng không chuyển sang làm giáo viên toán, lý để có điều kiện chăm lo gia đình. Ông Nguyễn Văn Phúc sinh năm 1916 tại Thạch Thất, Hà Nội trong gia đình có 6 anh chị em. Cha mẹ không may mất sớm, nên  bà Nguyễn Thị Mười, chị cả ông Phúc, đồng thời là mẹ của GS-TS Hoàng Xuân Sính phải lo mọi việc trong nhà. Do học giỏi, năm 1937, sau khi tốt nghiệp tú tài, ông Phúc được sang Pháp du học và thi đỗ vào Đại học Hàng không Pháp. Ra trường, ông làm tại Sud-Aviation và tại đây duyên số đã đưa đẩy ông gặp người vợ tương lai của mình.

Đau đáu nỗi nhớ quê, khi đất nước thống nhất, trong dịp gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Pháp, ông bày tỏ nguyện vọng về thăm nhà và giúp đất nước trong lĩnh vực hàng không. Do đó, năm 1977, lần đầu tiên ông Phúc trở về Việt Nam để bí mật giúp ta chế tạo máy bay. Lần thứ hai, bà theo ông cùng về và kể từ đó bà gắn bó máu thịt với quê chồng, cùng chồng làm hết sức mình cho đất nước. Sau vài năm hợp tác chặt chẽ giữa ông Phúc với các cán bộ của Viện kĩ thuật Không quân, tháng 9 năm 1980, chiếc máy bay đầu tiên mang tên TL-1 đã bay thử thành công, đánh dấu một mốc lớn trong lịch sử ngành hàng không nước ta. Những năm tiếp theo, Việt Nam tiếp tục chế tạo thành công hai chiếc máy bay nữa là HL-1 và HL-2.
Bất hạnh thay, năm 1995, ông đã mất trong một tai nạn ở biển. Bà gắng sức vượt qua nỗi đau, vừa thay chồng gánh vác việc gia đình vừa tiếp tục tham gia các hoạt động trợ giúp cho Việt Nam thông qua các hội từ thiện. Từ 1995 đến nay, năm nào bà cũng về Việt Nam mang theo quà, đồ dùng, máy móc các loại quyên góp được và thực hiện các dự án cụ thể cho các cơ sở ở khắp đất nước…Và đến năm 2004 thì cơ duyên đã đưa tôi đến Toulouse và đã bị người phụ nữ thông minh, không còn trẻ, nhưng nhanh nhẹn, vui vẻ và "nói như liên thanh” ấy chinh phục. Ngược lại, sau chuyến đầu tiên xuống dự “Tuần lễ đoàn kết Việt Nam” tôi cũng chiếm được cảm tình của bà và những người bạn Pháp phương Nam, có lẽ bởi tác phong thân thiện, chân tình, cởi mở, pha chút hài hước của mình. Tôi hứa sẽ hết òng hợp tác cùng bà thúc đẩy các dự án giúp Việt Nam. Bà cũng nói sẽ nỗ lực hơn nữa để tranh thủ sự ủng hộ của các bạn Pháp vùng Midi-Pyrénées. Như vậy, có thể nói chúng tôi đã kí kết “Thỏa thuận hợp tác”, nghĩa là đã nâng cấp quan hệ hợp tác, (chỉ là thỏa thuận miệng thôi, nhưng chúng tôi thực hiện cực nghiêm nhé), nhưng lại "hạ cấp" quan hệ xưng hô. Chúng tôi gọi nhau bằng tên riêng. Những từ trịnh trọng “Ông Đại sứ”, “Bà Nguyễn”, trừ những buổi gặp gỡ chính thức và lúc nói vui, đã biến khỏi trao đổi giữa chúng tôi. Đại từ “Vous” trong tiếng Pháp(ngài, ông, bà…) cũng được thay thế bằng “Tu” (bạn, tớ, cậu, thậm chí có thể hiểu là mày, tao…). Và rồi, những lần sau xuống Toulouse, thay vì ở khách sạn, chúng tôi ở ngay nhà bà “cho tiện phối hợp công tác và cũng để giảm bớt chi phí cho đất nước”, bà nói vậy. 

Những năm ấy, Phái đoàn VN tại UNESCO thường xuyên phối hợp với Đại Sứ quán, Thương Vụ, các Cơ quan báo chí thường trú tại Pháp như TTXVN, Báo Nhân dân, Đài Tiếng nói Việt Nam lập các đoàn đi địa phương để tuyên truyền về Việt Nam thông qua các cuộc Hội thảo, trình bày về văn hoá, lịch sử, kinh tế, triển lãm tranh, ảnh về Việt Nam. Đặc biệt, tháng 2/2006, tại Blagnac, vùng phụ cận Toulouse, Hội thảo về văn hoá, kinh tế Việt Nam và hợp tác phi tập trung hoá Việt-Pháp đã rất thành công nhờ tài nghệ tổ chức và ứng phó của bà Andrée. Người đến dự đủ các thành phần ngồi kín cả hội trường. Trước khi khai mạc và trong giờ giải lao, bà Andrée đã kịp chuẩn bị và cho phát những hình ảnh về đất nước và con người Việt Nam kèm theo bài “Bonjour Vietnam” do Marc Lavoine sáng tác với giọng ca trong vắt của Phạm Quỳnh Anh. Đây là bài rất “hot” thời ấy. Không những người Việt mà cả những bạn bè Pháp đều bồi hồi, xúc động khi nghe giai điệu và lời ca này. Hội thảo đã kéo dài hơn dự kiến với những câu hỏi và trả lời, giải thích rõ ràng, đầy đủ về các lĩnh vực liên quan. Đã hết giờ thuê hội trường, mà những cánh tay giơ lên vẫn còn nhiều. Không nỡ để mọi người thất vọng, bà Andrée chợt nảy ra sáng kiến mời mọi người quá bộ về nhà bà ở gần đó.Hội thảo lại tiếp tục sôi nổi và kết thúc bằng một bữa cocktail ngẫu hứng với sự giúp đỡ và đóng góp cũng vô cùng ngẫu hứng của các bạn Toulouse, rất thân thiện với bà Andrée. 

Một chuyến đi nữa thật ấn tượng,đó là chuyến đi khai mạc Triển lãm tranh và bưu ảnh Việt Nam tại Vic Fezensac, một thành phố phía tây nam Pháp, cách Toulouse khoảng 90 km. Lúc ấy thành phố đang có hội, trong chương trình, ngoài Triển lãm tranh và bưu ảnh Việt Nam, còn có nhiều hoạt động khác mà đáng kể có đấu bò tót, một tập tục có từ lâu đời của thành phố. Tận dụng cơ may này, sau lễ khai mạc triển lãm, chúng tôi đề đạt nguyện vọng xem đấu bò. Bà Andrée hỏi thì được biết không còn vé và người xem đã ngồi chật các khán đài và trận đấu sẽ bắt đầu trong chốc lát. Chúng tôi thất vọng định từ bỏ thì bà Andrée bảo đợi. Bà vội vã đi và vội vã quay lại vẻ đắc thắng. Kết quả là chúng tôi không những được xem đấu bò mà còn được ngồi ở vị trí trang trọng và lại còn được một vị ở ban tổ chức nói vắn tắt cho nghe về luật đấu bò. Sau mới biết bà đã thuyết phục được một số vị nhường chỗ cho “Phái đoàn quan chức từ VN”. 

Các con đã trưởng thành, bà sử dụng nhà của mình như một trụ sở hội, nơi hội họp, gặp gỡ, tiếp đón bạn bè, khách vãng lai theo tiểu chuẩn khách sạn “sao thân thiện”. Có lần, bà bàn với tôi ý định lập một galerie lấy tên là Jardin Ánh Tuyết. Tôi bảo sao lại lấy cái tên khó đọc với người Pháp như vậy. Bà bảo vì Phúc (chồng bà) rất thích cái tên ấy. Và Jardin Ánh Tuyết ra đời, trưng bày nhiều thể loại tranh, trong đó có vô số sáng tác của họa sĩ Việt Nam. Jardin Ánh Tuyết trở thành một nơi giao lưu giữa những người yêu nghệ thuật và giữa tác giả và công chúng. Sau nhiều năm phối hợp với các hội khác để giúp Việt Nam, để đáp ứng nhu cầu trợ giúp ngày một tăng và cũng để chủ động hơn trong hoạt động, bà đã cùng một số bạn bè lập ra Hội Essor Vietnam do mình làm Chủ tịch. Hội tiếp tục các dự án trợ giúp tài chính, phương tiện cho Việt Nam và đẩy mạnh hoạt động quảng bá văn hóa Việt Nam thông qua các buổi hòa nhạc, triển lãm, nói chuyện, hội thảo chuyên đề tổ chức tại Toulouse và các vùng phụ cận, cũng như những chuyến về thăm Việt Nam của các thành viên Hội. 

Giờ đây, những hình ảnh về bà Andrée cứ như một cuốn phim lần lượt tái hiện. Tôi nhớ mãi nụ cười, cái nghiêng đầu nheo nheo mắt của bà khi trêu chọc tôi. Cái tác phong nói và làm “tout de suite” của bà khiến đôi lúc tôi vẫn phải nhắc bà “Doucement! Doucement!”. Tôi thường bảo bà muốn hợp tác với Việt Nam thì đức tính tối quan trọng là kiên nhẫn (patience). Bà lẩm nhẩm, patience! patience! Nhưng rồi bà vẫn “sồn sồn”. Đôi lúc bà chán nản thốt lên, thật không hiểu nổi, muốn giúp đỡ VN sao khó thế! Tôi động viên bà, bảo người Pháp chả có câu "La patience vient à bout de tout" (kiên trì làm gì cũng xong) đấy thôi. Bà lại cười hiền lành, hóm hỉnh. Được cái, tuy nôn nóng thúc giục, nhưng bà cũng biết chờ đợi. Sau này, bà tâm sự chính vì nghĩ đến trẻ em nghèo, mồ côi, bụi đời, tàng tật ở VN mà bà rèn được tính kiên nhẫn. Phùng Quán bị vùi dập một thời, nhưng ông không đầu hàng : "Có những phút ngã lòng/Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy!" Còn bà, những đứa trẻ kém may mắn ở mọi miền đất nước đã là điểm tựa, là chỗ cho bà "vịn" vào mỗi khi "ngả nghiêng". Một lần tôi buột miệng hỏi sao chị/mày (đại từ nhân xưng “tu” của tiếng Pháp) gắn bó với Việt Nam ghê thế. Bà trợn mắt vẻ ngạc nhiên độp lại tôi sao hỏi ngu thế, vì tôi/tao là con dâu Việt và hơn nữa rất yêu Phúc, vậy thôi. Nói xong, bà thoáng chút ưu tư, rồi, như để chứng minh cho lời nói của mình, bà chỉ cho tôi  bức thư pháp chữ “Phúc”treo trong phòng ăn, để Phúc thường xuyên có mặt, bà bảo thế. Bà Andrée là thế đó. Bà hầu như không giận ai và cũng chẳng ai giận được bà, mà ai gặp bà rồi chẳng sớm thì muộn sẽ bị bà “mê hoặc”. Người ta bảo bà là một trong những phụ nữ có thể dời non, lấp bể bằng chính sự năng nổ và nghị lực của mình. Trước khi rời Pháp, trong lần gặp bà tại “Tuần lễ Văn hóa Việt Nam tại Toulouse” do thành phố Hà Nội phối hợp với thành phố Toulouse tổ chức vào tháng 6/2007, tôi có nói vui là thay mặt Việt Nam tôi bổ nhiệm bà làm “Ambassadeur culturel du Viet Nam à Midi-Pyrénées”. Ý tôi muốn nói là “Sứ giả văn hóa Việt Nam tại vùng Midi-Pyrénées”. (Chứ không phải Đại sứ đâu nhé!). Bà đặt tay lên trái tim, nghiêng mình, nheo nheo mắt bảo cảm ơn Ngài…Rồi chúng tôi cùng phá lên cười.

“Sứ giả văn hóa Việt Nam tại Midi-Pyrénées” đã đi xa. Đó là một mất mát không gì bù đắp nổi với gia đình, bạn bè và những người đã nhận được sự giúp đỡ của bà. Hội Essor Vietnam mất đi một Chủ tịch năng động, đầy ý tưởng, nhiệt huyết. Tôi mất đi người bạn vong niên thân thiết, tâm đầu ý hợp, chỉ nửa lời đủ hiểu nhau. Bà xa chúng ta, nhưng bà lại về gần ông. Giờ này, chắc ông bà đã “trúc mai xum họp”. Hẳn bà phải tự hào khoe với ông về những hoạt động vì Việt Nam, quê hương yêu dấu của ông và cũng đã trở nên gắn bó máu thịt với bà tự bao giờ.

Hà Nội, 01/07/2013

Vũ Đức Tâm


Bà Andrée với "ông Phúc"




Lễ cầu nguyện cho bà tại Hà Nội


Thành phố Toulouse hồng-Tòa thị chính; Ảnh: Internet

Gặp gỡ các vị trong Hội "Những người bạn của Việt Nam"

Trong vườn nhà bà Andrée (bên trái là tác giả Vũ Đức Tâm)

Khai mạc "Triển lãm tranh và bưu ảnh Việt Nam" tại Vic Fezensac

Lễ hội tại Vic Fezensac

Xem đấu bò tót

Galerie Jardin Ánh Tuyết

Tuần lễ văn hóa Việt Nam tại Toulouse - 2007

Bà Andrée với trẻ mồ côi Việt Nam; Ảnh: Essor Vietnam





VỀ HỘI LÀNG   8 tháng 3 Âm lịch hằng năm là ngày Hội làng truyền thống quê tôi. Năm nay ngày hội rơi vào 2 ngày Nhà nước quy định Quốc tang ...