Thứ Tư, 31 tháng 5, 2017

Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ



Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ

Sắp tới ngày giỗ lần thứ 2 ông Trần Quang Cơ (TQC), bà Trần Thị Vượng vợ ông Cơ nói với mình mời giúp một số bạn bè vong niên (vì bà Trần Quang Cơ đã trên 80 tuổi rồi) đến ngồi với nhau, nhất là có người ít khi gặp vì sống mãi trong Tp HCM như nhà báo Huy Đức.



Theo bà Vượng, cuộc gặp như một lời cảm ơn những người bạn này vì đã có lòng quý mến ông Cơ, đã tìm tư liệu và viết bài về ông nhân ngày ông mất 2 năm trước đây.

Mấy người được mời đều đến dự đầy đủ: nhà báo Kim Dung/Kỳ Duyên; nhà báo Huy Đức; nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Dy; cựu Đại sứ Trần Tam Giáp, hiện là Chủ nhiệm CLB cán bộ hưu trí BNG; và tôi, là chủ trang blog này. Về phía gia đình có anh Trần Sơn, là thứ trong gia đình nhưng là con trai cả ông bà Cơ; có cháu Trần Quang Hùng gọi ông Cơ là chú ruột. Trong số khách chỉ có bác Giáp là người cùng thế hệ với bà Vượng.

Buổi gặp diễn ra rất đầm ấm, nhiều câu chuyện được dịp giãi bày.

Khi về đến nhà, tối khuya hôm đó anh Nguyễn Quang Dy gửi cho tôi mấy dòng kèm một bài viết khá dài. Thư anh Dy viết: “Cám ơn ông Vĩnh đã tổ chức buổi gặp mặt trưa nay với chị Vượng (phu nhân ông Trần Quang Cơ/TQC). Tôi có nói với chị Vượng là sẽ cố gắng viết xong bài này hôm nay như một món quà nhỏ tặng chị Vượng và để tưởng nhớ đến ông TQC. Giữ lời hứa, tối nay tôi đã viết xong và vừa gửi để đăng. Hy vọng chị Vượng và ông TQC, người 2 năm nay đang ở chốn rất xa rất xa ...vui lòng. (NQD).

Bài viết của tác giả Nguyễn Quang Dy là như anh nói, là “để tưởng nhớ đến ông Trần Quang Cơ” bởi ai cũng biết, ông Cơ cùng với ông Nguyễn Cơ Thạch, ông Lê Mai…đều là những người góp nhiều công sức cho việc xây đắp mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ ở một giai đoạn còn mắc mớ rất nhiều trở ngại. Nhưng những nhà ngoại giao cao cấp thời đó của Việt Nam đã có con mắt nhìn xa trông rộng, và đã cùng nhau đặt được những viên đá đầu tiên xây dựng nên mối quan hệ Việt – Mỹ sau cuộc chiến tranh Việt Nam, kết thúc ngày 30/4/1975.

Ngay lúc này lại đang diễn ra chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nên bài viết của tác giả Nguyễn Quang Dy càng có thêm ý nghĩa thời sự, thời cuộc.

Xin trân trọng giới thiệu với bà con và bạn bè bài viết nói tới trên đây để chúng ta cùng chia sẻ.

 Vệ Nhi/Nguyễn Vĩnh

----- 


Triển vọng quan hệ Việt – Mỹ


Nguyễn Quang Dy

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã bắt đầu chuyến thăm Mỹ chính thức (29-31/5/2017). Đã có nhiều người bình luận và phỏng đoán về sự kiện này. Có lẽ đây là một dịp tốt để nhìn lại quan hệ Việt-Mỹ trong bối cảnh thế giới mới đầy biến động bất thường và bất định. Muốn hiểu hiện tại và biết về tương lai, chúng ta không được quên quá khứ.  

Trở về tương lai 

Mỗi khi đề cập đến quan hệ Việt-Mỹ, người ta thường nhớ lại quá khứ đau buồn khi Chiến tranh Việt Nam đã biến hai quốc gia này thành kẻ thù. Nhưng nhiều người quên mất lịch sử trước đó khi hai quốc này gia suýt nữa trở thành đồng minh. Ngày 16/7/1945, OSS đã cử nhóm “Con Nai” (Deer Team) đến Tân Trào để giúp Việt Minh, sau khi cụ Hồ thỏa thuận với Archimedes Patti (chỉ huy OSS tại Kunming). Hơn bốn thập kỷ sau Chiến tranh Việt Nam, nay hai quốc gia lại đang cố gắng để trở thành đồng minh, như “trở về tương lai” (back to the future). Vậy số mệnh trong tử vi của hai quốc này là kẻ thù hay đồng minh? Các sử gia cần làm rõ và xác định xem vì sao đoàn tàu Việt-Mỹ đã bị bẻ ghi đi chệch sang hướng khác, với những “hệ quả không định trước”, và làm thế nào để đưa đoàn tàu này “trở về tương lai”. 

Nếu đặt quan hệ Việt-Mỹ vào bức tranh lịch sử đầy nghịch lý và trớ trêu đó, chuyến thăm Mỹ của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lần này (cũng như các chuyến thăm của lãnh đạo hai nước trước đây) chỉ là những điểm dừng chân của đoàn tàu Việt-Mỹ tại các nhà ga (cả ga chính và “ga xép”). Thế giới hiện nay còn nhiều nghịch lý và điên rồ hơn trước, vì ngày càng nhiều kẻ khùng định cướp lái và bẻ ghi các đoàn tàu quốc gia. Trong khi có những người tin rằng thế giới đang tiến gần đến “ngày tận số”, thì nhiều người khác mất hết lòng tin vào hiện tại và tương lai, vì họ đã quên hoặc hiểu nhầm quá khứ. Ảo tưởng và nhầm lẫn trong lịch sử đã phải trả giá rất đắt, nên nếu lặp lại sai lầm một lần nữa thì thật là ngu xuẩn và điên rồ.
Có thể nói đoàn tàu Viêt-Mỹ đã vượt qua một quãng đường dài, có lúc chạy nhanh, có lúc chạy chậm, có lúc thậm chí dừng lại một chỗ vì lúng túng không biết chạy hướng nào trước ngã ba đường. Vấn đề không phải là đường ray hay biển chỉ đường bị sai mà là do đầu óc của những người lái tàu bị hồ đồ nhầm lẫn, nên lầm đường lạc lối. Đoàn tàu đã rời ga “Đối tác Toàn diện” gần bốn năm, nay đang hướng tới ga mới là “Đối tác Chiến lược Toàn diện”. Nhưng không hiểu sao đoàn tàu Việt-Mỹ chạy mãi mà vẫn chưa tới được cái ga đó (cứ như một nhà ga ảo). Có lẽ chuyến thăm Mỹ của ông Nguyễn Xuân Phúc cũng chỉ tới được một cái “ga xép” dọc đường, chứ chưa tới được cái ga chính, vì chủ nhân của Nhà Trắng đã thay đổi. Một năm trước đây khi ông Obama còn làm chủ Nhà Trắng, chỉ cần Hà Nội dấn thêm một bước nữa là đoàn tàu Việt-Mỹ có thể tới được cái ga đó rồi (nhưng nay cơ hội đó đã trôi qua). 

Những rào cản lớn    

Chặng đường trước mắt của đoàn tàu Việt-Mỹ còn nhiều trắc trở, với những rào cản hữu hình và vô hình (mà người ta sợ “nhạy cảm” nên không nói ra). Rào cản lớn nhất có tên là Bắc Kinh. Cứ mỗi khi đoàn tàu Việt-Mỹ định tăng tốc thì nó lại xuất hiện, làm cho đoàn tàu lắc lư phải chạy chậm lại, hoặc dừng hẳn. Ví dụ, khi đoàn tàu Việt-Mỹ đang chạy tới ga “Normalization” (hay “WTO” và “BTA”) thì lại có biển báo dừng lại, không phải biển cấm vì tàu đi vào đường một chiều, mà là biển báo hiệu nguy hiểm vì “diễn biến hòa bình”. Điều trớ trêu là Bắc Kinh ngăn cản Hà Nội kết thân với Washington, trong khi họ làm tình với nhau. 

Mặc dù Hà Nội biết cái biển báo đó là của Bắc Kinh, nhưng đoàn tàu vẫn phải chạy chậm hay dừng lại, không phải vì người lái tàu Hà Nội sợ sai luật giao thông mà sợ sai “quy trình vì đại cục”, như một bóng ma vô hình. Cứ mỗi khi Hà Nội cử lãnh đạo nào sang Washington, thì lại phải sang Trung Nam Hải trước, như một tiền lệ “bất thành văn”. Cái bóng Bắc Kinh đã ám ảnh đoàn tàu Viêt-Mỹ suốt 27 năm qua (từ 9/1990) khi những người lái Tàu Hà Nội và Bắc Kinh gặp nhau bí mật tại Thành Đô để “bẻ ghi” đoàn tàu Việt-Trung chạy theo hướng ngược lại. Từ “kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất”, Trung Quốc trở thành “đối tác chiến lược toàn diện” với “16 chữ vàng”. Đó là một bước ngoặt chiến lược nguy hiểm để “trở về tương lai” của mối quan hệ “Bắc thuộc” (mà ông Nguyễn Cơ Thạch lúc đó đã cảnh báo).  
     
Rào cản lớn thứ hai đối với đoàn tầu Việt-Mỹ là Nhân Quyền, mà trước đây là vấn đề MIA đã từng cản trở quan hệ Việt-Mỹ suốt thời hậu chiến. Điều trớ trêu là trong khi Washington chấp nhận chế độ cộng sản Hà Nội mà biểu tượng là Tổng thống Obama đã tiếp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong “Phòng Bầu dục” của Nhà Trắng, thì Washington lại không thể bỏ qua hồ sơ vi phạm nhân quyền, do sức ép của Quốc Hội và dư luận báo chí. Hiện nay, mặc dù Tổng thống Donald Trump có thể bị nhiều người Mỹ phê phán là vi phạm nhân quyền hay vi phạm quyền tự do báo chí, nhưng vấn đề Nhân quyền vẫn là một “cục xương mắc họng” trong quan hệ Viêt-Mỹ. Vì vậy không nên nhầm lẫn giữa hai vấn đề này. Trong khi rào cản Bắc Kinh là một thực tế khách quan mà Hà Nội không làm gì được (trừ phi “thoát Trung”), thì rào cản Nhân quyền là một vấn đề mà Hà Nội có thể tháo gỡ bằng đổi mới thể chế. 

Rào cản lớn thứ ba là sự “bất cập” của năng lực lãnh đạo (trong ngoại giao cá nhân). Mặc dù ai cũng biết ông Donald Trump là một Tổng thống bất bình thường, thậm chí có nhiều tai tiếng, nhưng nguyên thủ nước nào cũng phải đến Washington gặp ông Trump, từ Thủ tướng Nhật Abe đến Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, thủ tướng Đức Merkel, thủ tướng Anh May, v.v. Đơn giản vì Mỹ vẫn là siêu cường số một thế giới. Vì vậy, Thủ tướng Việt Nam muốn đến Nhà Trắng gặp ông Trump cũng là điều dễ hiểu, vừa vì lợi ích quốc gia (để đối phó với những vấn nạn hiện nay), vừa vì lợi ích cá nhân (để tăng cường vị thế chính trị của mình). 

Tuy các cố vấn chủ chốt của ông Trump như Cố vấn An ninh Quốc gia HR McMaster, ngoại trưởng Rex Tillerson (trong nhóm “Axis of Adults”) có thể ủng hộ quan hệ đối tác Việt-Mỹ, vì lợi ích chung của hai nước. Nhưng họ có thuyết phục được ông Trump coi Việt Nam là “đối tác quan trọng” về kinh tế và chiến lược hay không, còn phụ thuộc vào ông Phúc có chứng minh được điều đó hay không, bằng cách trực tiếp thuyết phục ông Trump khi gặp gỡ. Ông Trump vốn thích “ngoại giao cá nhân” (personal diplomacy) và hay hành động theo cảm tính, đôi khi thất thường nên rất khó đoán. Trong khi ông Trump có thể tùy hứng thay đổi kịch bản có sẵn (script), thì ông Phúc (và hầu hết lãnh đạo Việt Nam) lại quen dựa vào kịch bản một cách cứng nhắc, nên dễ bị động và lúng túng. Vấn đề là ông Phúc làm thế nào để gây ấn tượng cá nhân tốt đẹp với ông Trump (như các nguyên thủ khác vẫn làm). Điểm mạnh của ông Trump lại là điểm yếu của ông Phúc (đã từng mang tiếng là “Thủ tướng CLMV”). 

Tuy nhiên ông Phúc có thể dùng chiến thuật “du kích” làm ông Trump bất ngờ, như đề nghị mua thêm vũ khí tối tân, hoặc lập luận rằng trong số 32 tỷ USD thâm hụt thương mại mà Mỹ “nhập siêu” từ Việt Nam (năm 2016), hầu hết là sản phẩm điện tử của hãng Sam Sung và Intel (như điện thoại di dộng và linh kiện máy tính) sản xuất gia công tại Việt Nam. Số hàng hóa “nhập siêu” này thực chất không phải là hàng Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ, mà là hàng Việt Nam gia công cho nước ngoài để hưởng dịch vụ (chỉ khoảng 5-8% gía trị hàng hóa). Nói cách khác, đây là một sự nhầm lẫn “oan” cho Việt Nam, do khác nhau về cách thống kê.  
    
Xung quanh chuyến đi

Trước khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sang thăm Mỹ (29-31/5/2017), Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã thăm chính thức Bắc Kinh (11/5/2017) nhân dịp dự diễn đàn quốc tế “Một Vành Đai một Con Đường” (14-15/5/2017). Ông đã gặp Thủ tướng Lý Khắc Cường và Chủ tịch Tập Cận Bình, và hai bên đã thông qua Thông cáo Chung về Biển Đông. Trong một động thái khác, ngày 22/5/2017, đại sứ Mỹ Ted Osius đã trao cho Cảnh sát biển Việt Nam 6 tàu tuần tra biển (Metal Shark) trong số 18 chiếc mà Tổng thống Obama đã cam kết 4 năm trước. Tiếp đó, ngày 24/5/2017, chiến hạm USS Dewey đã đi vào khu vực 12 hải lý quanh đảo Vành Khăn tại Trường Sa, mà không thông báo trước như thường lệ “đi qua vô hại” (innocent passage). Đây là chuyến tuần tra FONOP đầu tiên, kể từ khi ông Trump lên làm tổng thống.
Ông Nguyễn Xuân Phúc là thủ tướng đầu tiên của một nước ASEAN mà ông Trump tiếp chính thức tại Nhà Trắng, tuy trước đó đã có các lãnh đạo Châu Á khác gặp ông Trump như Thủ tướng Shinzo Abe và Chủ tịch Tập Cận Bình. Để thu xếp cho lãnh đạo nước họ gặp ông Trump và tháo gỡ những rào cản, người Nhật và người Trung Quốc đã phải khôn khéo vận động (lobby). Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ. Mấy tháng qua, lãnh đạo Hà Nội đã chủ động bày tỏ mong muốn gặp ông Trump, và cử các đoàn đi Mỹ vận động Quốc Hội và các thế lực ủng hộ quan hệ với Việt Nam và duy trì tuần tra tại Biển Đông (FONOP). Theo Reuters, Viêt Nam đã thuê một người vận động hành lang (lobbyist) với giá 30.000 USD/tháng. 

Ngày 20-21/4/2017, Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh đã đến Mỹ để “tiền trạm”, gặp các quan chức chủ chốt của Chính quyền và Quốc hội, trong đó có Ngoại trưởng Rex Tillerson và Cố vấn An ninh Quốc gia H.R. McMaster. Trong dịp đó, ông McMaster đã trao cho ông Minh thư của Tổng thống Donald Trup mời Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sang thăm Mỹ. Đồng thời, ông Minh cũng chuyển lời mời chính thức của Chủ tịch nước Trần Đại Quang mời Tổng thống Donald Trump tham dự cuộc họp thượng đỉnh APEC tại Đà Nẵng (tháng 11/2017) và thăm Việt Nam. Ông Trump đã nhận lời và khẳng định sẽ tham dự.  

Mặc dù ông Trump đã quyết định rút khỏi TPP, bỏ rơi chính sách xoay trục sang Châu Á của ông Obama, và tỏ ra không tha thiết với vấn đề Biển Đông, nhưng trước chuyến thăm của ông Phúc, 

Reuters (28/5/2017) nhận thấy một số dấu hiệu tích cực. Nhà Trắng gọi Việt Nam “một trong những đối tác quan trọng của Mỹ ở Đông Nam Á”. Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Mỹ (Katrina Adams) nói rõ, “Quan hệ đối tác Việt-Mỹ là một phần cốt yếu trong chính sách đối ngoại của Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương” (the US-Vietnam partnership is a critical component of US foreign policy in the Asia-Pacific region). Theo Carl Thayer, Viêt Nam là một con bài quan trọng trong cấu trúc an ninh đa phương trong khu vực” của Mỹ, nhất là trong bối cảnh ông Rodrigo Duterte “lánh xa Mỹ và xích lại với Trung Quốc”. 

Các nhà phân tích cho rằng dưới thời Trump, Mỹ đã lặng lẽ rút lui khỏi khu vực, để Trung Quốc tự do hành động bá quyền, làm phương hại cho các nước như Việt nam. Sự nhân nhượng của Washington là một củ cà rốt to để đánh đổi lấy sự giúp đỡ của Bắc Kinh nhằm đối phó với Bắc Triều Tiên, một việc Trump rất cần nên sẵn sàng thỏa hiệp. Nhưng theo Carl Thayer, lúc này Việt Nam lại gần với Mỹ còn hơn cả hai nước đồng minh có hiệp ước quân sự với Mỹ là Thái Lan và Philippines. Việt Nam cần tham gia nhóm các nước đối tác của Mỹ trong khu vực (mà Singapore là đối tác số một). Theo Diplomat (5/2016) Việt Nam trở nên quan trọng hơn trong chiến lược kiềm chế Trung Quốc bành trướng ảnh hưởng trong khu vực.

Đánh giá triển vọng

Hãy tham khảo một số đánh giá của những chuyên gia quen biết.
Theo Alexander Vuving ( “What Vietnam Can Offer America”, Alexander Vuving, National interest, May 27, 2017) vấn đề sống còn của Việt Nam là làm thế nào cân bằng mối quan hệ với Bắc Kinh và Washington. Đó là bối cảnh cho chuyến thăm Mỹ của ông Phúc. Vuving cho rằng trong quan hệ với Mỹ có 3 vấn đề quan trọng nhất thiết phải đạt được. Thứ nhất là phải đạt được một hiệp định thương mại và đầu tư có triển vọng. Thứ hai là phải thỏa thuận được quan điểm về Biển Đông không chấp nhận hiện trạng. Thứ ba là phải xây dựng quan hệ đồng minh Viêt-Mỹ trên cơ sở “đối tác chiến lược toàn diện”. Tuy quan hệ đối tác phải mang tính chiến lược sâu sắc hơn, nhưng không nhất thiết phải là cam kết quốc phòng.   

Theo Minxin Pei (“The TPP’s Second Act”, Minxin Pei, Project syndicate, May 24, 2017), quan điểm đồng thuận cho rằng thực tế ông Trump đã nhân nhượng và trao Đông Á cho Trung Quốc tuy có cơ sở, nhưng lại bỏ qua một thực tế địa chính trị cơ bản. Đó là nhiều nước Đông Á đã dựa dẫm ỷ lại vào vai trò đứng đầu của Mỹ nên không đầu tư cho an ninh kinh tế và quốc phòng của mình. Nay không còn dựa dẫm được vào Mỹ để duy trì hòa bình và thinh vượng, họ đang đứng trước các sự lựa chọn rất khó khăn, và phân hóa làm 3 nhóm.  

Nhóm thứ nhất chọn cách ngả theo Trung Quốc, bao gồm một số nước như Thailand, Malaysia, Cambodia, Laos. Nhóm thứ hai chọn chiến lược đề phòng rủi ro (hedging strategy), gồm các nước như Australia, South Korea, Singapore. Nhóm thứ ba chọn chiến lược tự lo cho mình (self-help strategy) gồm các nước như India, Japan, Vietnam, Indonesia.  

Để lấp lỗ trống do Mỹ rút khỏi TPP, Nhật phải dẫn đầu TPP11, thuyết phục các nước Châu Á xiết chặt hàng ngũ, không khuất phục Trung Quốc. Muốn vậy, Nhật phải có chính sách sẵn sàng chấp nhận phí tổn cao hơn để giữ cho Nhật và các đối tác khác thoát khỏi quỹ đạo Trung Quốc. Nếu Hàn Quốc và Indonesia tham gia TPP11, thì cán cân sẽ thay đổi. 

Theo Jonathan London (“High Stakes for Vietnam Prime Minister’s Visit to Washington”, Jonathan London, CSIS CogitAsia, May 29, 2017), chuyến thăm của ông Phúc có ý nghĩa quan trọng trên 3 lĩnh vực. Thứ nhất là thương mại. Mỹ và Việt Nam có nhiều lý do để mở rộng và đa dạng hóa quan hệ thương mại. Điều này sẽ giúp Việt Nam tránh được tình trạng sử dụng những công nghệ rẻ tiền, gây ô nhiễm cao, có hại cho người lao động, đồng thời khuyến khích Chính phủ bỏ những dự án nhiệt điện gây ô nhiễm và thay bằng những dự án mới dựa trên công nghệ và đầu tư của Mỹ, ví dụ như khai thác nguồn khí đốt ngoài khơi.  

Thứ hai là vấn đề an ninh. Làm thế nào để Mỹ và Việt Nam (cùng các nước khác) có thể đảm bảo cho môi trường an ninh hàng hải ở Đông Á, phù hợp với luật quốc tế. Trước những dấu hiệu Bắc Kinh đang theo đuổi những mục đích ngược với lợi ích của Mỹ, thì lợi ích an ninh của Việt Nam và Mỹ ngày càng song trùng, hơn với bất cứ nước nào khác.  Hai nước cần tiếp tục hợp tác về an ninh, như vừa rồi Mỹ đã chuyển giao cho Việt Nam 6 tàu tuần tra biển. Vì Trump quan tâm đến mua bán vũ khí, nên đây có thể là một lĩnh vực dễ hợp tác.  

Thứ ba là một khía cạnh không đo đếm được nên dễ bị bỏ qua, liên quan đến vai trò của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, liệu ông ấy có vị thế quan trọng như thế nào trong sự phát triển kinh tế và chính trị của Việt Nam. Tuy là người có tư tưởng cải cách, nhưng ông Phúc lại tỏ ra thiếu khí thế và tiếng nói về vấn đề nhân quyền. Vừa rồi, trong khi Ban Tuyên giáo kêu gọi đối thoại với giới bất đồng chính kiến, thì không khí lấn át của chủ nghĩa bảo thủ lại trỗi dậy. Theo các nhà quan sát, đây là một tín hiệu xấu cho tương lại cải cách ở Việt Nam. Trong bối cảnh đó, không biết chuyến thăm Mỹ của Thủ tướng Phúc có ích lợi gì.  

Vì vậy, hy vọng Nhà Trắng, Quốc hội, và các lãnh đạo khác trong chính quyền có tiếng nói rõ ràng và tha thiết để biểu lộ cam kết thúc đẩy quan hệ song phương với Việt Nam. Xét cho cùng, chỉ có người Việt Nam mới tự quyết định được tương lai của mình. Nếu nhìn xa hơn, bỏ qua chuyện chính trị trước mắt, thì Việt Nam và Mỹ có nhiều lợi ích lâu dài để xây dựng một quan hệ vững mạnh, đặc biệt là về lĩnh vực thương mại và quốc phòng.   

Theo David Brown (“Vietnam’s Premier Phuc Enters the US Cobra Den”, David Brown, Asia Sentinel, May 29, 2017), TPP là công cụ để Hà Nội tháo gỡ sự ách tắc về ý thức hệ. Còn đối với quan hệ Viêt-Mỹ, TPP là chất keo kinh tế để gắn kết một quan hệ đối tác chiến lược bền vững. Tuy ông Trump đã rút khỏi TPP, nhưng Hà Nội vẫn hy vọng đạt được một hiệp định thương mại song phương với Mỹ tương tự như TPP (là ưu tiên cao nhất của ông Phúc). Biết đâu một ngày nào đó, Việt Nam sẽ trở thành cầu nối để đưa Mỹ trở lại sân chơi TPP. 

David Brown cho rằng bản thân cuộc gặp ông Trump 30 phút tại Phòng Bầu dục là một sự kiện quan trọng, vì 3 ý nghĩa. Thứ nhất, Ngoại trưởng Phạm Bình minh và Đại sứ Phạm Quang Vinh đã thu xếp để ông Phúc trở thành thủ tướng đầu tiên của ASEAN được ông Trump tiếp tại Nhà Trắng. Thứ hai, Hà nội có lý do để hy vọng đàm phán thương mại song phương (như TPP) sẽ có kết quả. Thứ ba, món quà của Hà Nội mà ông Phúc đem đến cho ông Trump có thể là đề nghị mua một số vũ khí tối tân của Mỹ. Đây có thể là cái chốt của cuộc gặp. Trong khi ông Phúc có thể bám vào kịch bản có sẵn, thì ông Trump lại hay nói nhiều và tùy hứng, nên không loại trừ tình huống bất ngờ, có thể lái quan hệ Viêt-Mỹ theo một hướng khác.   

Thay lời kết

Tuy các nhà quan sát có thể phân tích nhưng rất khó dự đoán kết quả của sự kiện ngoại giao này, liệu có xảy ra trục trặc hay sai sót nào không. Đây vừa là một cơ hội vừa là thách thức và rủi ro đối với ông Phúc, vì Donald Trump là một bài toán đố khó tìm lời giải. Là một lái buôn (dealer) đầy cá tính, Donald Trump không phải là Bill Clinton hay Barack Obama. Ông ấy muốn phủ nhận mọi di sản của chính quyền trước. Đối với một tổng thống khác, kết quả gặp gỡ tùy thuộc nhiều hơn vào sự chuẩn bị (homework) và làm việc nhóm (teamwork). Nhưng đối với ông Trump, nó tùy thuộc nhiều hơn vào ngoại giao cá nhân và tương tác cá nhân (là một điểm yếu của ông Phúc). Cuộc gặp gỡ này có thể là một màn trình diễn của hai nhân vật có cá tính, như trong một chương trình “truyền hình thực tế” (reality television show).   

Hiện nay, lo ngại lớn nhất của Việt Nam là liệu Mỹ và Trung Quốc có trở nên quá gần gũi và do đó không đếm xỉa đến lợi ích của Việt Nam hay không. Đối với Việt Nam lúc này, lựa chọn đối sách khả thi là rất khó, nên phải chơi cờ thế (gambit) bằng đề phòng rủi ro (hedging). Vì vậy, Việt Nam đang tăng cường hợp tác chặt chẽ với Nhật (chơi “lá bài Nhật”) và chuyển sang “phương án B” về TPP (còn gọi là TPP11). Vì Mỹ đã rút khỏi TPP nên Nhật trở thành động lực chính đối với TPP11, cũng như đối với Việt Nam trong quan hệ với Mỹ và Trung Quốc. Vì vậy, sự kiện ngoại giao song phương Việt-Mỹ này còn có ý nghĩa đa phương.  

NQD. 30/5/2017






Chủ Nhật, 28 tháng 5, 2017

Liệu sẽ có đối thoại?

Liệu sẽ có đối thoại?

Người đứng đầu Ban tuyên giáo trung ương - tức là thủ lĩnh một khối công việc lớn rộng và có thế lực nhất - công tác chính trị tư tưởng, văn hóa - ông vừa có một lời ngỏ về một cuộc đối thoại mà Đảng Cộng sản Việt Nam sẵn sàng cùng trao đổi với những người, những ý kiến bất đồng trong xã hội. Tôi hiểu đối thoại ở đây nghĩa là có thể cùng ngồi bàn thương lượng với nhau. Hoặc có thể đăng đàn diễn thuyết, hoặc viết bài trình bày lập trường và lập luận tranh cãi với nhau một cách công khai trên dư luận, công luận..

Tôi nghĩ rằng chỉ một sự ngỏ lời thế, thế giới mạng cũng như dư luận rộng rãi khắp nơi trong nước và ngoài nước đã rộ lên không biết bao nhiêu là ý kiến, bình luận - đó là những ý kiến nhất trí với nhau (cần thiết đối thoại); nhưng cũng có không ít ý kiến khác phản bác lại, cho rằng không có chuyện đối thoại đâu... Và họ suy luận chủ quan rằng, những người nắm quyền nói thế chẳng qua là một cách khéo cho xì hơi, cho xả xu-páp (cho đỡ căng hoặc đổ vỡ) chứ không thể có những cuộc đối thoại thực chất của phía chính quyền với các ý kiến khác hau trong lúc này...

Trên cơ sở một thực tế còn ngổn ngang nhiều vấn đề như vậy xung quanh câu chuyện "đối thoại", nhà nghiên cứu độc lập Nguyễn Quang Dy vừa gửi cho blog tôi một bài viết rất kịp thời. Thân mời bà con và bạn bè trong thế giới blog, thế giới mạng cùng đọc và chia sẻ.

Vệ Nhi  

------



Văn hóa đối thoại & Đồng thuận quốc gia


Nguyễn Quang Dy
  
“Dân chủ là để làm sao cho dân được mở miệng ra, đừng để dân sợ không dám mở miệng, nhưng điều đáng lo hơn nữa là khiến dân không thiết mở miệng” (Hồ Chí Minh)


Điều cụ Hồ nói năm 1945, đến nay (sau 72 năm) dường như vẫn chưa hề thay đổi. Gần đây, dư luận lại ồn ào tranh cãi về vấn đề đối thoại. Trong bài này, tôi không muốn phân tích liệu ý định đối thoại đó là thực hay ảo, mà chỉ bàn về văn hóa đối thoại và đồng thuận quốc gia. Tôi cũng không muốn so sánh ý định đối thoại mà ông Võ Văn Thưởng (trưởng ban Tuyên Giáo TW) vừa đề cập, với ý định tổ chức “Hội nghị Hòa hợp Văn học Dân tộc” mà ông Nguyễn Hữu Thỉnh (chủ tịch Hội Nhà Văn VN) đã nói đến, mà chỉ điểm lại mấy nét chính trong bức tranh phác họa về đối thoại đang là tâm điểm gây tranh cãi hiện nay. Tuy sự kiện trên gây ồn ào thế giới mạng, nhưng vì lý do gì đó báo chí chính thống hầu như không đề cập.    

Bức tranh đối thoại

Ngày 16/12/2016, tại “Hội nghị Văn học 2016” do Hội Nhà văn Viêt Nam tổ chức, ông Nguyễn Hữu Thỉnh cho biết sắp tới Hội sẽ xin ý kiến để tổ chức một “Hội nghị Hòa hợp Văn học Dân tộc” với sự tham gia của các nhà văn trong nước với các nhà văn Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài. Ông Thỉnh còn nói rằng cho đến nay, việc hòa hợp dân tộc trong lĩnh vực văn nghệ vẫn dè dặt và lạc hậu nhất so với các lĩnh vực khác. Tuy dư luận cho rằng tổ chức một hội nghị như vậy là chưa từng có tiền lệ trong lịch sử, nhưng chắc không phải là vô cớ mà ông Thỉnh đề xuất như vậy (khi Hội không còn kinh phí hoạt động). Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có dấu hiệu nào cho thấy việc đó sẽ thành hiện thực. (Tuổi Trẻ, 17/12/2016). 
Ngày 18/5/2017, tại hội nghị trực tuyến sơ kết một năm triển khai thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về “đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, ông Võ Văn Thưởng cho biết “Ban Tuyên giáo đang chờ Ban Bí thư thông qua văn bản hướng dẫn tổ chức trao đổi và đối thoại với những cá nhân có ý kiến và quan điểm khác với đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước”. Theo ông Thưởng, đây là vấn đề rất quan trọng. “Chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận, bởi vì sự phát triển của mỗi lý luận và học thuyết cách mạng nào rồi cũng phải dựa trên sự cọ xát và tranh luận. Và cũng chính sự tranh luận đó tạo ra cơ sở để hình thành chân lý”. ông Thưởng cũng cho rằng cần có quy định rõ ràng để từng cấp, từng ngành, từng cơ sở, từng đơn vị xác định rõ trách nhiệm của mình và phương pháp trong trao đổi, đối thoại. (Pháp Luật, 18/5/2017). 

Tuy chưa biết ý định đối thoại đó thực hư thế nào, là dấu hiệu đổi mới hay chỉ là bánh vẽ, nhưng phản ứng của dư luận, nhất là của giới trí thức phản biện, rất sôi nổi và trái chiều, thậm chí tranh cãi như mổ bò. Trong khi một số người tỏ ra nghi ngờ, cho rằng cơ hội chưa đến và nên chờ thêm, thì nhiều người khác lại tỏ ra quá sốt sắng, “vội vã, sốt ruột, cuống quýt” để “chớp thời cơ” như sợ mất lượt (Phạm Chí Dũng, 24/5/2017). Đó là một bức tranh phản cảm so với bài học Đồng Tâm. Khi những người nông dân đồng tâm nhất trí, đấu tranh quyết liệt, thì họ buộc chính quyền phải đối thoại, trong khi giới trí thức hô hào đối thoại, thì chỉ nhận được sự im lặng. Có lẽ họ cần đối thoại với nhau trước khi đối thoại với chính quyền. Vậy cái gì mở cửa đối thoại (như “vừng ơi mở cửa ra!”) để người dân “được mở miệng ra” như cụ Hồ đã nói, và quan trọng hơn là cái gì làm cho đối thoại thực chất và kết quả? Có lẽ giới trí thức cần học hỏi kinh nghiệm những người nông dân qua “đối thoại Đồng Tâm” (22/4/2017).    

Đối thoại hay độc thoại

Về nguyên lý truyền thông (communication), thông tin phát ra chỉ có ý nghĩa và hiệu quả khi nó được phản hồi trở lại (feedback), hình thành tương tác hai chiều. Hay nói cách khác, có người nói thì phải có người nghe. Nếu chỉ nói mà không có phản hồi là độc thoại (một chiều), không có giá trị truyền thông. Đối thoại (hai chiều) là một cách truyền thông hiệu quả, và độc thoại là ngược lại nguyên lý truyền thông. Theo Aristotle (384-322 BC), truyền thông muốn có hiệu quả thường dựa trên nguyên lý “Ethos – Logos – Pathos”, theo đó người nói và người nghe phải tương tác và giao hòa (rapport), để quá trình phản hồi hay phản biện có ý nghĩa. Trong đối thoại, nhất là trong tranh luận (debate), “tư duy phản biện” (critical thinking) là cần thiết để thuyết phục lẫn nhau, trên cơ sở hai bên phải ôn hòa và lắng nghe lẫn nhau.  

Vì nhiều lý do, người ta cho rằng đa số người Việt Nam yếu kém về năng lực truyền thông, do thiếu văn hóa đối thoại và tư duy phản biện như các dân tộc khác, vì xã hội Việt Nam vốn khép kín, do chịu nhiều ảnh hưởng của đạo Khổng (trước đây) và chủ nghĩa Mao (sau này). Từ nhỏ, chúng ta được dạy bảo trong nhà trường và gia đình về đạo lý ứng xử là phải “ngoan”, vâng lời cha mẹ và không được cãi cấp trên. Nói cách khác, xã hội Việt Nam chỉ đào tạo ra “con người công cụ” chỉ biết nói theo và làm theo người khác, chứ không phải “con người tự do” biết đối thoại và phản biện. Năng lực truyền thông yếu kém (về đối thoại và phản biện) còn bị thể chế chính trị làm cho vô hiệu hóa và thui chột. Hầu như chúng ta không có thói quen tranh luận và thiếu văn hóa đối thoại. Trong bối cảnh người Việt Nam nay cần tranh luận để đổi mới, thì những tổ chức dân sự có vai trò phản biện xã hội hầu như trống vắng. Viện IDS (Institute of Development Studies) vừa mới thành lập đã bị giải thể (9/2009).   

Tại sao phải đối thoại 

Hiện nay, nhu cầu đối thoại và phản biện xã hội nhằm đóng góp cho đổi mới “vòng hai” đang trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Nhưng đáng tiếc là lúc này văn hóa đối thoại và tư duy phản biện trong giới lãnh đạo cũng như trong dân lại bị thui chột và tụt hậu như trình độ phát triển kinh tế. Nói cách khác, khi yêu cầu đổi mới cao, thì năng lực đáp ứng lại thấp. Năng suất lao động thấp vì chất lượng nhân lực không cao. Năng lực chém gió không thể thay thế năng lực tư duy và hành động. Lãnh đạo và người dân hầu như chưa sẵn sàng, giống như khi con tàu Titanic bị nạn sắp chìm thì rất nhiều người không biết bơi, và không biết đối phó thế nào. Chưa biết mục đích đối thoại là nhằm tìm kiếm đồng thuận quốc gia để cứu con tàu, hay chỉ nhằm PR để tìm kiếm một cái xuồng cứu hộ nào đó, khi đối thoại Việt-Mỹ về nhân quyền đang diễn ra, trước khi thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đi thăm Mỹ (29-31/5/2017). 
Như đã đề cập nhiều lần, những động lực đổi mới “vòng một” đã hết đà, không còn tác dụng. Vì vậy cấp thiết phải đổi mới “vòng hai” nhằm tháo gỡ thể chế, đặc biệt là thể chế chính trị và những rào cản của hệ thống cũ, để giải phóng năng lượng sáng tạo và động lực phát triển còn tiềm ẩn. Nói cách khác, lúc này đổi mới thể chế chính trị là cái chìa khóa (như nguyên lý Pareto) để tháo gỡ nút thắt cổ chai về thể chế đang làm ách tắc cả hệ thống. Về thể chế chính trị, yêu cầu quan trọng nhất là đổi mới hiến pháp, để từng bước dân chủ hóa, thay thế dần chế độ độc quyền độc đảng bằng tam quyền phân lập. Về thể chế kinh tế, yêu cầu cấp bách hiện nay là cắt bỏ cái đuôi “định hướng XHCN” để giải phóng kinh tế thị trường.  Đổi mới không chỉ có nghĩa “được làm cái gì”, mà còn có nghĩa “được bỏ cái gì” (ông Bùi Quang Vinh).

Vì lòng tin của dân chúng đã xuống đến mức thấp nhất, nên nhiều người nghi ngờ mục đích đối thoại lúc này cũng không phải để tìm kiếm sự đồng thuận nhằm đổi mới, mà chỉ để đối phó với Mỹ về hồ sơ nhân quyền, thậm chí những người bất đồng chính kiến vẫn sợ bị gài bẫy như trò chơi “trăm hoa đua nở” trước đây. Thái độ không lắng nghe dân, im lặng không thèm trả lời các kiến nghị tâm huyết, chứng tỏ chính quyền không thực tâm tôn trọng trí thức. Vì vậy, muốn đối thoại trước hết phải xây dựng lòng tin (confidence building), vì khủng hoảng lòng tin và nỗi lo sợ nghi ngờ trong tiềm thức (của cả hai phía) là một rào cản tâm lý.   
  
Đối thoại về cái gì 

Người ta hay nói nhà nước ta là “của dân, do dân, vì dân”. Đó là một khẩu hiệu dân túy rất hay nhưng vô nghĩa, vì chính quyền toàn làm ngược lại. Nay người ta lại nói chính quyền “không sợ đối thoại, không sợ tranh luận…”.  Đó cũng là một tuyên ngôn dân vận hay, nhưng phản ánh tâm thức bị động đối phó như “hội chứng soi gương” (mirror image) muốn phủ định tâm trạng vừa lo sợ vừa kiêu ngạo, nay bí cờ nên buộc phải tìm nước cờ khác. Nước cờ đối thoại đã được thử nghiệm tại Đồng Tâm, không phải do tự nguyện mà do tình thế bắt buộc. Tuy Đồng Tâm đã “biến điều không thể thành có thể”, nhưng hãy còn quá sớm để cho rằng “giải pháp Đồng Tâm” là không thể đảo ngược. Trong binh pháp, mọi cái đều có thể.

Có hai tình huống và kịch bản có thể xảy ra. Thứ nhất, khi xảy ra tình huống như Đồng Tâm, (hay Formosa), nếu phái ôn hòa và cải cách cầm trịch thì có thể dẫn đến đối thoại và hòa giải (như Myanmar). Thứ hai, nếu phái cực đoan và bảo thủ cầm trịch thì có thể dẫn đến đàn áp và bạo lực (như Thiên An Môn). Giữa hai thái cực đó là một khoảng xám bất định (uncertain gray area) có thể “diễn biến” trái chiều, tùy thuộc vào cán cân lực lượng.  Nhiều người Việt hay ngộ nhận và nhầm lẫn, nên dễ bị ảo tưởng vì tự huyễn hoặc. Ngộ nhận là một căn bệnh khó chữa, nhưng còn khó chữa hơn nếu ngộ nhận bị bội nhiễm bởi cực đoan, dẫn đến biến chứng rất nguy hiểm. Nếu những người cực đoan và ngộ nhận tham gia đối thoại thì rất khó đi đến đồng thuận để có kết quả, vì họ giống như những người “điếc chuyên nghiệp”. 

Muốn đối thoại phải tránh cực đoan. Những người chống cộng cực đoan cũng nguy hiểm không kém gì những người cộng sản cực đoan. Họ sẵn sàng chụp mũ cho những người không cùng quan điểm với họ là “việt cộng”, cũng như những người cộng sản cực đoan sẵn sàng chụp mũ cho những người không cùng quan điểm với họ là “phản động”.  Thực ra, chính những người cực đoan của cả hai phía mới là “phản động”, vì họ làm cản trở cơ hội hòa giải và hòa hợp dân tộc để chung tay đổi mới và phát triển theo hướng dân chủ hóa.   

Đối thoại với ai? 

Tuy có nhiều kênh đối thoại khác nhau, nhưng nên bắt đầu bằng ba diễn đàn chính. Thứ nhất là diễn đàn chuyên về cải cách thể chế (trên cơ sở Báo Cáo VN 2035) với các cựu quan chức cấp cao như ông Bùi Quang Vinh (nguyên bộ trưởng bộ KH-ĐT), bà Phạm Chi Lan (nguyên TTK VCCI, thành viên Ban NCTT), ông Vũ Ngọc Hoàng (nguyên phó ban Tuyên giáo TW), ông Nguyễn Sỹ Dũng (nguyên phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội), v.v. 

Thứ hai là diễn đàn cải cách mở rộng, với “Nhóm 72” (gồm các nhân sỹ trí thức) và “Nhóm 61” (gồm các vị lão thành cách mạng), về những kiến nghị họ đã từng đề xuất (nhưng vẫn chưa được lãnh đạo hồi âm). Đại diện nhóm này có thể gồm những vị như ông Nguyễn Trung (nguyên thứ trưởng, trợ lý Thủ tướng, thành viên Ban NCTT), ông Chu Hảo (nguyên thứ trưởng bộ KH-CN), ông Lê Đăng Doanh (nguyên trợ lý bộ trưởng bộ KH-ĐT, thành viên Ban NCTT), ông Tương Lai (nguyên viện trưởng Viện Xã hội học, thành viên Ban NCTT), ông Nguyễn Quang A (nguyên Viện trưởng Viện IDS), ông Trần Đức Nguyên (nguyên thành viên Ban NCTT), ông Bùi Đức Lại (nguyên chuyên gia cao cấp Văn phòng Chính phủ), v.v. 

Thứ ba là diễn đàn xã hội dân sự, với đại diện các hội đoàn XHDS độc lập như nhà báo Phạm Chí Dũng (chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập), nhà văn Nguyên Ngọc (chủ tịch Văn đoàn Độc lập), và các đại diện của giới bất đồng chính kiến (trong nước và ngoài nước). 

 Đối thoại như thế nào?

Thực ra Việt Nam có khá nhiều cơ chế và kênh đối thoại. Ngoài Quốc hội, còn có Mặt trận và Ban Dân Vận TW, v.v. Về nguyên tắc, các đại biểu Quốc hội là đại diện cho dân, có quyền và nghĩa vụ thay mặt dân chất vấn Chính phủ trong các phiên chất vấn/điều trần. Nếu Quốc hội, Mặt Trận, Ban Dân Vận, làm tốt chức năng đối thoại, thì chắc ông Thưởng không phải đặt ra vấn đề đối thoại, như một biện pháp nhằm giải cứu con tàu đang sắp chìm, nếu không phải là PR để đối phó tình huống nhằm tìm kiếm một cái xuồng cứu hộ nào đó.    

Điều kiện tiên quyết trong đối thoại là trước hết hai phía phải ôn hòa, thực tâm lắng nghe và tôn trọng lẫn nhau. Nếu đối thoại với thái độ cực đoan và ngạo mạn, không lắng nghe và tôn trọng lẫn nhau, thì sớm muộn cũng thất bại. Thứ hai, phải có chính danh (legitimacy), đối thoại với thái độ xây dựng và nghiêm túc. Thứ ba, phải khiêm tốn để hòa hợp và hòa giải. Những người cực đoan thường khó hòa hợp do không chịu lắng nghe, như “đối thoại giữa những người điếc”, hay giữa những người máy “có hệ điều hành hoàn toàn khác nhau”. 

Đã đến lúc chính quyền cần tổ chức đối thoại và tranh luận công khai về những vấn đề bức xúc của đất nước (như đổi mới thể chế), không phải chỉ để “hạ nhiệt” mà để đồng thuận quốc gia, với giới trí thức và các tổ chức xã hội dân sự, trên các diễn đàn được báo chí đưa tin để dân chúng theo dõi. Tuy vấn đề nào “quá nhạy cảm” thì hai bên có thể trao đổi nội bộ, nhưng hầu hết các vấn đề nóng bỏng của đất nước cần được tranh luận công khai. 

Gót chân A-sin   

Điều đáng mừng là chính quyền đã ngỏ ý đối thoại với những người khác quan điểm (sau khi “quả bom dân sự đồng Tâm” đã được tháo ngòi bằng đối thoại). Nhưng điều đáng buồn là tuy chưa biết ý định đối thoại thực hư ra sao, nhưng một số đại diện cho tiếng nói phản biện đã tranh cãi như mổ bò và “bất đồng chính kiến với nhau”. Trong khi Ls Cù Huy Hà Vũ muốn “Đối thoại trực tiếp”, thì Ls Lê Công Định lại muốn “đối thoại gián tiếp”. 

Nếu Đảng “nát như tương” và đất nước “nát như cám” (lời ông Phạm Chí Dũng) nên “không có nổi một cuộc đối thoại cho ra hồn”, thì phong trào dân chủ cũng “nát như cháo”, vì chia rẽ. Điều đó lý giải tại sao chính quyền vẫn coi thường giới trí thức và phong trào dân chủ, tại sao họ vẫn tiếp tục “đối thoại với dân trong đồn công an”. Tuy “bản lĩnh đối thoại” của chính quyền không cao, nhưng bản lĩnh đoàn kết của giới trí thức cũng thấp. Trong khi kiến nghị tâm huyết của Nhóm 72 & Nhóm 61 “không khiến Đảng mảy may động lòng”, thì tại sao họ lại “động lòng” chấp nhận đối thoại và nhân nhượng người dân Đồng Tâm?   

Theo nhà văn Phạm Thị Hoài, giáo sư Chu Hảo “lạc quan vô tận”, vì cho rằng “chưa nhất thiết giải thể sự lãnh đạo của Đảng”. Trong khi “xếp hạng” Gs Chu Hảo là “trí thức phản biện trung thành” (để phân biệt với “giới bất đồng chính kiến”) nhà văn gọi “những người hùng Việt kiều ẩn danh trên mạng” là những kẻ “thừa khí phách để chê bai giới trí thức trong nước” xu phụ quyền lực, trong khi chính họ lại “thiếu một chút can đảm để chính danh”. 

Theo ông Phạm Chí Dũng, “lãnh đạo còn đang phải dành đến 99% thời gian và tâm trí để lo đối phó triệt hạ lẫn nhau trong nội bộ, thì lấy đâu ra hơi sức để đối thoại với mấy ông trí thức. Một số quan chức ủng hộ đối thoại có thể vì động cơ thực dụng, muốn lợi dụng việc này “làm cầu nối” để lấy lòng Mỹ và phương Tây, nhằm “thu xếp cho hậu sự”. Trong khi bà Phạm thị Hoài cho rằng “giải phẫu thẩm mĩ cho một chế độ toàn trị là giúp nó tồn tại mĩ miều hơn”, thì ông Bùi quang Vơm cho rằng những người chủ trương cải cách thật sự có thể lợi dụng trò chơi đối thoại này để “lật ngược thế cờ” của phe bảo thủ, để “biến giả thành thật”. 

Bi kịch quốc gia

Bức tranh nhiều gam màu đa dạng của xã hội dân sự Việt Nam thật quá đa nguyên. Phải chăng đây là “gót chân A-sin” của phong trào dân chủ?  Có lẽ tình trạng chia rẽ và bất đồng trong xã hội dân sự cũng phản ánh bản chất của xã hội Việt Nam (là “ba người thua một người”). Nhưng bài học phát triển của các quốc gia thành công ở Đông Á không dựa trên sự đa nguyên đó. Muốn tự cường và thoát Trung, dân tộc này phải hòa giải và đồng thuận để phục hưng quốc gia, như một dân tộc thông minh và trưởng thành. Vì vậy, không chỉ giới cai trị phải thay đổi, mà giới bị trị cũng phải thay đổi để mạnh lên, vì “dân nào thì chính phủ ấy”. 

Một đất nước yếu kém về năng lực kết nối cộng đồng thường do người ta quá coi trọng “chính sách loại trừ” (exlusive politics) và quá coi nhẹ “văn hóa dung nạp” (inclusive culture). Để dung nạp, người ta phải đối thoại và kết nối để đi đến hòa giải dân tộc và đồng thuận quốc gia. Chiến tranh Việt Nam là một cuộc nội chiến “ủy nhiệm” (proxy) bởi ngoại bang, đã chia cắt và tàn phá đất nước này một cách thảm khốc. Nhưng 42 năm sau chiến tranh, những người Việt cực đoan và cuồng tín (của cả hai phía) dường như vẫn chưa tỉnh ngộ. 

Phải chăng họ vẫn muốn tiếp tục cuộc nội chiến trong cộng đồng, với tâm thức và não trạng như “tù binh của quá khứ”? Và “bóng ma Viêt Nam” đã ám ảnh họ suốt hai thế hệ, đến tận bây giờ vẫn chưa chấm dứt. Dù thời thế đã thay đổi, nhưng dường như họ vẫn chưa từ bỏ cuộc chiến ý thức hệ vì “cờ đỏ-cờ vàng”. Thậm chí họ còn tiếp tục cuộc nội chiến mới ngay trong lòng cộng đồng của mình, dù cùng màu cờ sắc áo, dù ở Hà Nội/Sài Gòn, hay ở Little Saì Gòn. Họ chống lại và chụp mũ bất kỳ ai không giống họ, hay không nghe theo họ. Đó là nghịch lý Việt Nam, và là bi kịch quốc gia, như một “nghiệp chướng” (karma). Nếu không thể đồng thuận quốc gia bằng đối thoại, thì đất nước có thể trở thành một “Công viên Khủng Long”. 

Thay lời kết
Trong những năm qua, không gian xã hội dân sự đã được mở rộng, với 54 tổ chức XHDS trong đó có 16 hội đoàn độc lập (tính đến 6/2014). Nhưng các tổ chức này chưa thực sự lớn mạnh vì họ còn nhiều bất đồng, hay tranh cãi và chia rẽ. Trong khi đó, các doanh nghiệp vẫn chưa có công đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. 

Hiện nay, đổi mới thể chế (vòng hai) là yêu cầu cấp bách nhất, để tháo gỡ những ách tắc của hệ thống chính trị đã lỗi thời, nhằm giải phóng năng lượng sáng tạo, và những động lực của kinh tế thị trường, để đổi mới và phát triển. Trong quá trình này, đối thoại và tranh luận nhằm tìm đồng thuận quốc gia và hội nhập quốc tế là một yêu cầu cấp thiết, để thoát khỏi nguy cơ khủng hoảng kép về kinh tế (nợ công chồng chất, ngân sách thâm hụt), về chính trị (tranh giành quyền lực quyết liệt), về môi trường (ô nhiễm nặng nề) và văn hóa xã hội (xuống cấp trầm trọng) trong khi chủ quyền quốc gia và lãnh thổ (tại Biển Đông) đang bị đe dọa.     

Trong bối cảnh đó, chuyến thăm Mỹ sắp tới của thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc là một thách đố (gambit) đối với chính phủ Việt Nam, không chỉ về tầm nhìn và đối sách ngoại giao (đầy thách thức) mà còn gắn liền với bức tranh đối nội (đầy bất ổn). Dưới thời Donald Trump, đối thoại Việt-Mỹ về nhân quyền cũng như về thương mại (FTA song phương) hay về an ninh (Biển Đông), đòi hỏi chính phủ (cũng như dân) phải đổi mới tư duy và có bản lĩnh, để đối phó được với những tình huống mới (đầy bất định). Lúc này chơi “lá bài Mỹ”, hay chơi “lá bài Nhật” như một đòn bẩy (hedging) trong quan hệ với Mỹ, ngày càng khó.  

Chưa bao giờ Việt Nam lại đứng trước các thách thức và lựa chọn khó khăn như hiện nay, trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc, và Nhật. Quan hệ “rất phức tạp” giữa Washington và Bắc Kinh vào lúc này là yếu tố khiến lãnh đạo Việt Nam phải gặp Donald Trump “càng sớm càng tốt”. Theo Muray Hiebert (CSIS), “Việt Nam không nên chờ, mà hãy đến Washington ngay bây giờ để trở thành một phần trong cuộc đối thoại”.  Vấn đề là ông Phúc đối thoại thế nào với ông Trump và các quan chức Mỹ (để không mang tiếng là “Thủ tướng KLMV”).  

NQD. 26/5/2017