Loading...

Thứ Sáu, 26 tháng 5, 2017

Hòn ngọc xanh Cô Tô

Hòn ngọc xanh Cô Tô

MỘT CHUYẾN ĐI RẤT THÚ VỊ VÀ ẤN TƯỢNG.

RẤT CÁM ƠN CỤ NGUYỄN VĂN PHÁN ĐÃ TỔ CHỨC CHO ANH CHỊ EM CHÚNG TÔI, NHỮNG CÁN BỘ NGOẠI GIAO ĐÃ VỀ HƯU MỘT CHUYẾN ĐI RẤT ĐÁNG NHỚ...

VỀ NHÀ HOÀN THÀNH BÀI VIẾT DƯỚI ĐÂY.

 
“Hòn ngọc xanh” Cô Tô

NGUYỄN VĨNH

Tạm gọi đây là những mẩu truyện, những chi tiết lọc ra được từ lời kể của người dân đảo, hoặc là những thông tin lẩn khuất đâu đó trong báo chí-truyền thông lâu nay. Ngoài ra xen chút ít nhận xét, đánh giá riêng của người viết bài này.


… Đúng vào hôm sắp rời hòn đảo xinh đẹp, mấy anh em chúng tôi báo cho Trưởng đoàn sẽ không đi một bữa tắm biển nữa mà rủ nhau thuê xe máy đi “phượt” trên hòn đảo.

Với sự hướng dẫn của dân địa phương, tốp người cùng mấy chiếc xe máy lao nhanh xuyên qua đảo trên các tuyến đường mới, chúng đều đã được đổ bê-tông nên đi lại khá dễ dàng. Rồi chúng tôi vòng quanh đảo, cốt sao nhìn được, thấy thêm được một lượt diện mạo các nơi chốn mà cả đoàn cán bộ hưu trí Bộ Ngoại giao chúng tôi 2 ngày thăm vừa qua vì lý do sao đó chưa tới được…

Tôi ngồi sau tay lái một guide tour nghiệp dư, một cậu thanh niên người địa phương, 22 tuổi. Cậu đã cưới vợ và có một đứa con chưa được 2 tuổi. Đây đúng là một công dân đích thực và rất trẻ trung của hòn đảo Cô Tô này.


Ít tuổi đời nên tôi nghĩ rằng cậu ta cũng có thể ít biết chuyện xưa. Nhưng may mắn sao là cậu ta lại rất mau mồm mau miệng, vẫn biết vận dụng trí nhớ để kể khá kỹ lưỡng cái đận gia đình nội ngoại nhà cậu ra đảo mấy chục năm xưa. Những chuyện sắp nói tới đây là do ông bà, cha mẹ cậu ta thường kể mỗi khi gia đình cậu có dịp đoàn tụ.

Chàng thanh niên làm guide đó hỏi tôi rằng, có phải bác có trông thấy 2 cái ao sen nằm không xa khu tưởng niệm có đặt tượng Bác Hồ và Nhà lưu niệm? Cậu ta bảo, chính nơi đó vào tháng 5 năm 1961 - theo lời ông ngoại cậu kể - ở đó chỉ là cánh đồng rộng trồng khoai lang. “Ông cháu nói - cậu kể lại cho chúng tôi -, khi Cụ Hồ rời chiếc trực thăng đưa Cụ ra đảo Cô Tô, Cụ tiến ngay lại phía khối người dân đảo rất đông ra đón, đó là chỗ địa điểm cạnh bức tượng dựng bây giờ. Cụ Hồ có nói, cán bộ báo cáo rằng khoai trồng ngoài đảo này to củ và ngon, thì nông dân ta hãy trồng nó cho thật nhiều, trước là giải quyết thêm cho lương thực tại chỗ, số dư ra có thể đưa vào đất liền trao đổi trong Cẩm Phả hay Vân Đồn (nhớ lại là giữa năm 1961, tức 56 năm trước đây, miền Bắc mới bước vào phong trào hợp tác hóa, lương thực thực phẩm luôn là vấn đề thiết yếu thời kỳ đó). Nhờ vậy mà dân ngoài đảo chúng cháu tính đến nay rất có truyền thống trồng lúa-ngô-khoai. Nhất sĩ nhì nông mà bác! Còn nghề đánh bắt hải sản thì phải đầu tư tầu bè, kỹ năng, có sức vóc chịu sóng gió..., nên nghề đó chỉ sinh ra và phát triển các giai đoạn sau này”.



Tôi nhận ra ngay cậu ta còn ít tuổi mà ăn nói khá là chững chạc. Bởi theo tìm hiểu thì lúc đầu dân ra đây thay thế người Hoa bỏ về Trung Quốc (vào các năm 1978 – 1979) thì chỉ thuần là nông dân làm nông nghiệp tại các tỉnh ven biển đồng bằng và trung du Băc Bộ mà thôi…

Thoáng trông thấy những ngôi nhà đang làm dang dở ở các khu phố nằm xa trung tâm thị trấn, cậu ta nói: “Đấy bác thấy, cứ có đường bê-tông rải đến đâu là 2 bên đường mọc lên các ngôi nhà mới. Đất ở ngay chỗ này đã “có giá” lắm. Chả bù với trước đây, thời ông bà và bố mẹ cháu, dân vùng ven biển chúng cháu ra đây, hầu như ai muốn ở đâu thì ở; cứ thấy thửa ruộng nào đất cát màu mỡ là trồng lúa trồng khoai. Vài ba năm thấy chán lại báo với chính quyền cho di chuyển sang nơi khác... Đất đai hồi xưa không tính ra đồng tiền, ra chỉ cây như thời chúng cháu bây giờ. Nhường nhau đất, cho nhau đất cứ như một câu chuyện hết sức bình thường”.

Chẳng hạn cậu kể, dì và các cậu của cậu sống mãi gần Quảng Yên, tới năm 1984 mới ra đây định cư sau một chuyến đi phà sang thăm anh chị là bố mẹ của cậu. Chỉ vừa mới có ý định ra làm ăn trên đảo, các cậu các dì của cậu đã được khuyến khích, rồi được đón chào nhiệt tình, và nhận ngay được luôn hơn mẫu ruộng để cấy cày lập nghiệp. Năm sau các gia đình người thân của cậu đã dựng được mấy căn nhà bằng tre nứa, lợp lá gồi mà hồi đó phải vào mãi trong Tiên Yên, Đầm Hà sâu đất liền mới mua được và chở ra đảo…


Sau hơn 1 giờ chạy xe gắn máy, cậu guide này đưa mấy chúng tôi ra bãi tắm Vàn Chảy. Đứng trên mô đất nhô ra phía biển, nơi có những cột điện bê-tông đã dựng lên cao với dây dợ tải điện cỡ lớn, cậu ta giải thích cho chúng tôi nghe về công trình cấp điện lưới quốc gia ra đảo. Khoát tay chỉ ra xa theo hướng Tây về phía đất liền, cậu thanh niên bảo, “… theo cháu được biết thì con đường cáp tải điện rải dưới lòng biển sâu này đã làm xong trong một thời gian kỷ lục, là chưa đến 1 năm…”.

Trở về Hà Nội, tôi lật các thông tin cũ trên mạng, được biết rằng dự án đưa điện lưới ra huyện đảo Cô Tô chính thức được khởi công ngày 4/11/2012. Tổng mức đầu tư hơn 1.100 tỷ đồng, do Tổng công ty điện lực miền Bắc làm chủ đầu tư. Đây là dự án đầu tiên trong cả nước được thi công với công nghệ chôn ngầm cáp 22 kV dưới đáy biển và rải dây điện 110 kV trên không bằng khinh khí cầu. Quy mô dự án gồm gần 24 km đường dây 110 kV 2 mạch; đường dây trên đảo là 22 kV bao gồm tới 18 trạm biến áp, với tổng công suất 3.730 kVA; tất cả có tới 40 cây số đường dây hạ áp; đã lắp đặt ban đầu gần 1.200 công-tơ để cấp điện cho gần như toàn bộ các khu vực trong huyện đảo Cô Tô. Chính thức là sau 350 ngày đêm khẩn trương thi công, công trình đã hoàn thành đúng dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập tỉnh Quảng Ninh. Đây là công trình đầu tiên của ngành điện lực cả nước được thi công đảm bảo cả về tiến độ, thời gian và chất lượng đã hoàn thành. Theo nhiều bài báo viết và trang điện tử khi đó, công trình này hoàn thành chắc chắn sẽ đưa lại những điều kiện mới làm thay đổi hoàn toàn và căn bản diện mạo của cả hòn đảo Cô Tô.

Đúng là những nhận xét trên đây là hoàn toàn chính xác. Chỉ với hơn 3 năm kể từ ngày này có điện lưới (16/10/2013 khánh thành công trình và chính thức cấp điện cho đảo), cuộc sống người dân đã có những đổi thay rất lớn và căn bản.

Chỉ riêng về du lịch thì trước kia ít người dám đầu tư xây nhà nghỉ, khách sạn vì muốn có quạt điện, có máy điều hòa… thì công suất điện cấp từ các máy nổ, máy điện đi-ê-den chịu sao nổi? Có điện lưới thì các khâu sản xuất ngư nghiệp, nông nghiệp… đều được nhanh chóng cải thiện năng suất và chất lượng sản phẩm. Có điện thì nhu cầu thông tin, nguyện vọng được giải trí mới có điều kiện được đáp ứng. Từ vài ba năm nay nhà nhà trên đảo - ngay cả đến gia đình thu nhập trung bình và thấp chăng nữa - cũng đều có thể sắm cái ti-vi loại thông dụng. Tất nhiên các nhà khá giả hơn sẽ sở hữu những ti-vi đời mới, được rinh về từ bên Vân Đồn, Cẩm Phả, Tp Hạ Long.


Đến nay một bến cảng đẹp đẽ và vững chắc đón được những con tầu cao tốc hơn 100 chỗ ngồi êm ái và lịch sự cho du khách; và cảng cũng đón được những con tàu vận tải hàng hóa có trọng tải lớn đều cập bến an toàn. Đôi khi những xà lan đặc chủng, trên đó chở theo xe - máy, những phương tiện chuyên dụng để làm đường; rồi những cần cầu, xe lu, máy húc và máy xúc đều thuộc loại khá lớn mà chúng tôi đã quan sát thấy xuất hiện chỗ này chỗ kia trên hòn đảo này. Đương nhiên giá thành của vận tải hàng hóa (bao gồn vật liệu xây dựng để dựng nhà cửa, xây hotel, nhà nghỉ… đều có giá cao). Nên cái việc xây nên một ngôi nhà ở đảo nó có giá thành cao hơn nhiều nếu xây trong đất liền.
Đi vòng quanh đảo, thấy một khung cảnh xây dựng và làm việc náo nhiệt. Công nhân làm đường hoặc gia cố thêm những con đường mới đều làm việc hết sức khẩn trương. Ngôi nhà này ngôi nhà khác đang được xây cất đây đó. Cảm thấy người dân, giới buôn bán kinh doanh ở đây như thể muốn chờ đợi, để đón một luồng khách du lịch đông đảo sắp tới chăng?

Theo những số liệu công bố đầu năm nay, thì năm trước (2016), lượng khách du lịch đến với đảo Cô Tô đạt trên 180.000 lượt, gần gấp đôi năm 2014 và gấp gần 40 lần năm 2010 (!). Doanh thu từ các hoạt động du lịch, dịch vụ ước đạt gần 300 tỷ đồng, giải quyết nhu cầu việc làm cho khoảng 2.000 lao động địa phương và lao động từ nhiều tỉnh, thành trong nước đến Cô Tô làm ăn, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội cho huyện đảo.

Không nói về các thế mạnh biển đảo khác, chỉ riêng thế mạnh về du lịch của Cô Tô có những nét độc đáo, khác biệt. Nơi đây thiên nhiên ban tặng cho hòn đảo nhiều bãi biển rộng dài và đẹp đẽ là một thế mạnh. Nhưng có lẽ hàng nghìn ha rừng nguyên sinh ở đảo này mới chính là một thế mạnh hết sức đặc biệt cho phương hướng khai thác du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng cao cấp sắp tới.

Tôi muốn dừng câu chuyện ở đây, nhưng lại muốn mở ra một hướng mới, một câu chuyện nho nhỏ mới. Đó là lời nhắn gửi của những người đã về hưu, đều làm chung một nghề là từng đã đi đến nhiều nơi, nhiều nước trên thế giới. Đúng là rất nhiều anh em trong đoàn chúng tôi là những cán bộ ngoại giao đã được đặt chân tới nhiều vùng đất, nhiều quốc gia khác nhau. Qua những quan sát và nhận thức được, có thể nói tóm lược rằng, sở dĩ những đất nước nào đó làm giàu được về du lịch là do họ biết được, đón trước được những nhu cầu chính đáng của du khách. Từ đó họ biết triệt để khai thác các thế mạnh của vùng miền họ, của đất nước họ trong việc thu hút khách du lịch…

Với Cô Tô, hiện hòn đảo còn nhiều nơi chốn hoang sơ, đó lại là một thế rất mạnh và độc đáo trong thế giới hiện đại ngày nay. Cuộc sống công nghiệp hóa và đô thị hóa rất mạnh mẽ hiện nay luôn cần đến những không gian tự nhiên, môi trường trong lành để nghỉ ngơi, thư giãn. Vậy thì Cô Tô hãy biết chăm sóc tới những đồi sim mua. Tuyệt đối không được phá chúng đi để dựng nhà cửa bừa bãi không trong quy hoạch. Cũng cần phải mau chóng có một quy hoạch tổng thể nghiêm túc và rất chi tiết trong đó cần nhấn mạnh việc nuôi dưỡng và bảo trì những rừng cây nguyên sinh (thậm chí cả cây dại cũng cần giữ chúng, ví như cây dứa dại mọc rất tốt nơi đây, bởi quả dứa dại là một nguồn dược liệu quý…). Hãy biết bảo vệ từng mét vuông những bãi biển nằm quanh hòn đảo. Khai thác để du khách tới tắm táp, thu được tiền thì cũng rất cần thiết rồi, nhưng luôn cần giữ lại một phần tiền đó (thu thuế hoặc đóng góp quỹ môi trường...) để tu tạo, làm sạch đẹp các bãi tắm. Chớ để các dịch vụ, nhà hàng, nhà nghỉ dưỡng tư nhân mặc sức tự tung tự tác, mà cần thiết phải đưa vào các quy chế, quy hoạch để đừng cho họ tha hồ (hoặc lén lút) xả rác thải, xả nước bẩn làm ô nhiễm các bãi biển. Nếu buông lơi vấn đề cốt tử này sẽ là cách “đuổi” du khách một cách hữu hiệu nhất vậy!



Một việc nữa không kém quan trọng. Cùng với việc xây thêm, mở rộng và bê-tông hóa các con đường chạy ngang dọc hòn đảo, chính quyền và ngành du lịch ở đây phải sớm lên kế hoạch làm các tấm biển chỉ dẫn hướng, lối đi lại. Hãy biết cách ghi các địa danh cần thiết lên các tấm biển chỉ đường. Và ghi cả khoảng cách đi đến các địa danh đó nữa. Tỉ mỉ như vậy sẽ là “ngòi nổ” thúc đẩy các loại hình du lịch tự do, du lịch các nhóm người, các ngành-giới có lứa tuổi khác nhau đi chơi tự do, đôi khi bùng nổ các chuyến đi chơi, đi phượt tự phát. Và nhóm du khách này sẽ cần các thông tin trên để với chiếc xe gắn máy thuê trên đảo (ưu tiên cho thuê nhiều xe đạp vì nó tránh gây ô nhiễm xăng dầu đốt cháy), họ có thể tự đi du lịch theo ý thích của họ. Phát triển cả nhà nghỉ, các hotel cao cấp, song cùng cần khích lệ cả du lịch homestay (du khách thuê trọ nhà dân).

Mấy ý kiến trên mong nó đến được tai ông chủ tịch huyện đảo, tới được địa chỉ ông bí thư huyện ủy; hoặc là những người có vị trí thấp hơn (nhưng có khi lại quan trọng nhất) - là tới các vị công cán trong các Phòng, Ban du lịch tại huyện đảo này.

Rất mong các quý vị có trách nhiệm cùng người dân Cô Tô gìn giữ được hòn đảo xanh, hòn đảo quý hóa và quý giá đã được nhiều người ví như “hòn ngọc xanh” Cô Tô của đất nước chúng ta.

NGUỒN: TỪ FACEBOOOK Vinh Nguyen Van


Chủ Nhật, 21 tháng 5, 2017

Cực đoan và hơn thế nữa

Cực đoan và hơn thế nữa

Bài viết mới của Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Dy. Bài này chủ blog tôi nhận từ ngày 19/5, nhưng vì đi vắng nên bữa nay trở về nhà mới đưa lên được. Cảm ơn tác giả và xin giới thiệu cùng bạn bè trên blog.

Vệ Nhi

-----


Cực đoan và hơn thế nữa


Nguyễn Quang Dy

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…” (Hồ Chí Minh, trong “Tuyên ngôn Độc lập”). 

Tôi viết bài này nhân ngày sinh cụ Hồ, một nhà cách mạng không cực đoan như các đồng chí của mình, nên ông là một lãnh tụ cô đơn. Đó là điều Archimedes Patti đã kể với tôi vào tháng 5/1990 khi ông đi Việt Nam lần cuối để dự sinh nhật cụ Hồ. Tháng 9/1945, Patti là đại diện OSS ở Hà Nội. Hy vọng họ vẫn là bạn khi gặp lại nhau ở thế giới bên kia. 

Trong một số bài trước (như Cực đoan và Thù hận: Nguyên nhân Mọi Tai họa”, 22/11/2015, và “Vô cảm và Cực đoan sẽ Cản đường Hòa giải”, 10/6/2016), tôi đã đề cập đến cực đoan như một yếu tố chủ chốt gây ra mọi tai họa trên đời này, nhưng có lẽ như thế vẫn chưa đủ. Vì vậy trong bài này, tôi muốn đề cập tiếp đến cực đoan như một chủ đề riêng.  
  
Định nghĩa

Theo Wikipedia, cực đoan là một hiện tượng phức hợp (complex phenomenon) bao gồm tín ngưỡng (belief), thái độ (attitude) cảm xúc (feeling), hành động (action), chiến lược (strategy), có tính chất “bất bình thường”. Cực đoan là loại ý thức hệ (ideology) được người ta coi là nằm ngoài “dòng chủ lưu” (mainstream) được xã hội chấp nhận. Thái độ cực đoan (extremist) khác hẳn với thái độ ôn hòa (moderate) hay trung dung (centrist). Trong chính trị, tư tưởng cực đoan thường bao gồm xu hướng cực tả (far-left) hoặc cực hữu (far-right), cũng như tư tưởng cấp tiến (radicalism), cuồng tín (fanaticism), chính thống (fundamentalism)…  

Theo từ điển tiếng Việt, cực đoan là hiện tượng khi sự việc “quá nghiêng về một phía”, với mấy đặc điểm chính: (1) là “hai đầu tận cùng của vật thể”, (2) là “thái quá, không bình thường”, (3) là “vô cùng và cực độ” Theo chuyên gia Nguyễn Tất Thịnh, “chủ nghĩa cực đoan là tập hợp những luận điểm thành chủ thuyết” để xây dựng và phát triển một tổ chức mang tính chính trị, “trở thành độc tôn/độc tài/độc trị (từ cá nhân lãnh đạo cao nhất xuống đến các tế bào tổ chức) bao trùm mọi mặt đời sống trong những không gian địa lý mà nó đã lan đến”. (“Chủ nghĩa cực đoan như thế nào”, Nguyễn Tất Thịnh, Chúng ta.com, 8/5/2015). 

Cực đoan gồm tư tưởng cực đoan, xu hướng cực đoan, và hành động cực đoan. Trong tiếng Anh, cực đoan có thể dịch là “extreme / extremist / extremism, hoặc ultra” như trong từ ghép “ultra-nationalism” (chủ nghĩa dân tộc cực đoan).  Từ “cực đoan” (extremist) thường được người ta dùng để mô tả những người hay các phe nhóm đã trở thành “cấp tiến” (radicalized). Tuy nhiên, việc đánh giá những người nào, phe nhóm nào, hoạt động nào là “cực đoan” hay “bình thường” là do nhận thức chính trị chủ quan của mỗi người

Nhận dạng 

Tư tưởng cực đoan 

Tư tưởng cực đoan thường gắn liền với cuồng tín (fanaticism), bảo thủ (conservatism), độc tài (authoritarianism), hận thù (hatred) và bạo lực (violence).  Cực đoan thường dẫn đến ngộ nhận và mù quáng (nên vô minh), hoặc tham lam và tự phụ (nên vô cảm). Một khi tư tưởng cực đoan đã đi vào tiềm thức và não trạng thì rất khó thay đổi. Theo các nhà khoa học (neuroscientists), tư tưởng cực đoan có thể lây lan, thậm chí có thể di truyền (genetically).  

Cực đoan về kinh tế

Tham vọng “Đại nhảy vọt” (Great Leap Forward) của Trung Quốc là một ví dụ điển hình của cực đoan về kinh tế. Tuy đã thất bại thảm hại, nhưng người Trung Quốc không từ bỏ chủ nghĩa dân tộc Đại Hán, vẫn muốn phục thù dân tộc. Nay với thành quả to lớn của phát triển kinh tế, chủ nghĩa dân tộc Đại Hán đã thai nghén ra tham vọng “Giấc mộng Trung hoa” (China Dream) và kế hoạch “Một vành đai, Một con đường” (One Belt, One Road). 

Cũng như Kế hoạch Mrachshall và “Giấc mơ Mỹ” (American Dream), tham vọng đó của Trung Quốc là chính đáng (nếu ôn hòa). Nhưng trong khi Trung Quốc dùng “quyền lực mềm” (lợi ích kinh tế) để lôi kéo các nước bằng “Charm Offensive”, thì họ bộc lộ tư tưởng cực đoan và tham vọng bá quyền, như quân sự hóa nhằm độc chiếm Biển Đông. Trung Quốc coi Việt Nam là khâu yếu nhất dễ khuất phục vì bị giàng buộc bởi cam kết “Thành Đô” và tương đồng về ý thức hệ, vì hai nước cùng theo mô hình “kinh tế thị trường định hướng XHCN”.   
   
Cực đoan về chính trị

Cực đoan về kinh tế thường phản ánh và gắn liền với cực đoan về chính trị. Trung Quốc và Việt Nam đều theo học thuyết “Đấu tranh Giai cấp” (class struggle) và “Chủ nghĩa Xã hội mang bản sắc Trung Quốc” (hay Việt Nam) là biểu hiện điển hình của cực đoan về chính trị. Nó đã từng kích hoạt những chủ trương cực đoan và ấu trĩ tả khuynh như “trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”, cũng như cuộc vận động “Cải cách ruộng đất” và đàn áp “Nhân văn Giai phẩm”. Đó là hệ quả của chủ nghĩa cực đoan Maoism xuất khẩu sang các nước láng giềng như Việt Nam. Tư tưởng cực đoan và bạo lực vốn là thương hiệu của đảng Cộng sản Trung Quốc, như Mao đã từng khẳng định, “quyền lực đẻ ra từ nòng súng” (Mao Zedong).
Nhưng tư tưởng cực đoan không phải là độc quyền và đặc sản của các nước cộng sản. Phong trào Trumpism (tại Mỹ) với khẩu hiệu “America First” và “Make America Great Again” cũng như Brexitism (tại Anh) và Le Penism (tại Pháp), là sự trỗi dậy của trào lưu dân tộc, quay lưng lại với toàn cầu hóa và chính trị truyền thống. Cũng may mà cử tri Pháp đã bỏ phiếu chọn Emmanuel Macron lên làm tổng thống (chứ không phải Marie Le Pen). Châu Âu đang đứng trước một cuộc khủng hoảng kép của trào lưu Brexitism và làn sóng di cư của người Ả Rập Bắc Phi, với những hệ quả khôn lường do xung đột về văn hóa và tôn giáo. 

Cực đoan về văn hóa, xã hội

Tư tưởng và hành động cực đoan không chỉ tồn tại trong hoạt động kinh tế và chính trị, mà còn ẩn tàng trong sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, do bị ảnh hưởng bởi tư tưởng cực đoan, biểu hiện dưới nhiều hình thức đa dạng. Mỗi năm Việt Nam có gần 8000 lễ hội, trong đó có nhiều hủ tục cực đoan và bạo lực đến phản cảm, ăn sâu vào tâm thức và não trạng của cộng đồng. Chính quyền các tỉnh thành đều mắc “hội chứng tượng đài”, một biểu hiện cực đoan đầy tốn kém và lãng phí, nhưng là mảnh đất màu mỡ cho “tham nhũng văn hóa”.
  
Có lẽ Việt Nam là nước có nhiều tượng đài nhất nhì thế giới. Riêng Hà Nội có hơn 30 tượng đài, và người ta định xây thêm hơn 30 tượng đài khác từ nay đến năm 2020. Theo thống kê, cả nước có 137 tượng đài Hồ Chí Minh các loại, tại 31 tỉnh thành. Bộ “Văn-Thể-Du” đề xuất từ nay đến năm 2030 sẽ xây thêm 58 tượng đài Hồ chí Minh trên cả nước.

Ai cũng biết cụ Hồ khi còn sống đã ra sức kêu gọi “cần kiệm liêm chính…” Ban Tuyên Giáo cũng ra sức kêu gọi cả nước học tập “làm theo gương của Bác Hồ”. Chắc Bác buồn lắm, khi thấy các quan tham và nhóm lợi ích “ăn của dân không từ một thứ gì”, thậm chí đem hình ảnh của Bác ra làm dự án để kiếm chác, trong khi người dân còn nghèo đói và thất nghiệp, nợ công chồng chất và ngân sách nhà nước thu không đủ chi. Gần đây, Bộ “Văn-Thể-Du” còn định dựng mô hình con khỉ Việt Kong tại Hồ Gươm để “quảng bá du lịch”. May mà UBND thành phố Hà Nội đã bác kế hoạch đó (trước phản ứng bất bình của dư luận).

Ô nhiễm thực phẩm, nguồn nước, không khí đã tới mức báo động. Mỗi năm, Việt Nam có khoảng 115.000 người chết vì ung thư, trung bình 315 người chết mỗi ngày. (VietnamNet,  22/12/2016). Nếu Hà Nội nổi tiếng với quyết định chặt hạ 6700 cây xanh (năm 2015) thì Việt Nam gây sốc với 8.600 người chết vì tai nạn giao thông (năm 2016), trung bình mỗi ngày 24 người chết và 60 người bị thương. (VNExpress, 17/1/2017). Trong khi đó, Việt Nam là nước tiêu thụ nhiều bia nhất nhì thế giới (khoảng 3 tỷ lít/năm), xếp thứ nhất ASEAN và thứ 3 ở Châu Á (chỉ sau Trung Quốc và Nhật Bản). Nếu tính giá bia Hà Nội, thì người Việt uống một lượng bia vào khoảng 3 tỷ USD/năm. Đó là hệ quả của cực đoan !  

Biểu hiện

Một số dấu hiệu cực đoan:

Thứ nhất, những người cực đoan thường chỉ thích nói mà không chịu lắng nghe, và chỉ nghe những gì mình thích, mà bỏ ngoài tai những gì mình không thích, không cần biết đúng sai, phải trái. Họ quen độc quyền, độc đoán, độc tài, nên vô cảm, không có lòng nhân ái vị tha. Thứ hai, họ thường khẳng định ý kiến của mình (luôn đúng), và phủ định ý kiến người khác (luôn sai), không thích nghe phản biện và không chịu thừa nhận thực tế. Thứ ba, họ thường bảo thủ cứng nhắc, coi thường người khác, nên không chịu thỏa hiệp và hợp tác, hay dị ứng với cái mới và sự khác biệt. Họ hay định kiến và cố chấp, nên thường ngộ nhận.   

Mấy bài học về cực đoan:

Thứ nhất, hầu hết các chính khách cực đoan và cuồng tín của cả hai phía (cộng sản và chống cộng) đều có những đặc điểm chung giống nhau như độc tài, tham lam, và dối trá. Thứ hai, người Việt thường mang nặng ân oán, nhưng lại nhẹ dạ cả tin, nên dễ bị lợi dụng và lừa gạt bởi những chính khác cực đoan nhưng mỵ dân, chuyên đầu cơ chính trị. Thứ ba, muốn hòa giải và hòa hợp với nhau, người Việt phải thoát khỏi định kiến, thù hận và lo sợ. Họ phải bạch hóa và giải độc quá khứ để làm rõ sự thật, thì mới kiến tạo được tương lai. 

Cực đoan và khủng bố

Thứ nhất, chủ nghĩa khủng bố là con đẻ của chủ nghĩa cực đoan và bạo lực, là hệ quả của cuồng tín và ngộ nhận dẫn đến nhầm lẫn về lý tưởng và các giá trị cốt lõi. Thứ hai, để chống khủng bố, không chỉ tiêu diệt các căn cứ và đầu não của IS hay Al Qaeda, vô hiệu hóa sự bảo trợ ngầm của các nước và tổ chức liên đới, mà còn phải chống cực đoan và cuồng tín. Thứ ba, phải vận dụng tổng hợp cả sức mạnh cứng (giải pháp quân sự hiệu quả) lẫn sức mạnh mềm (văn hóa giáo dục) để từng bước vô hiệu hóa và hóa giải tận gốc chủ nghĩa cực đoan. 

Nguyên nhân

Theo chuyên gia Nguyễn Tất Thịnh, chủ nghĩa cực đoan được hình thành bởi “lỗ đen văn hoá xã hội” (social/cultural black holes) cộng với “khoảng trống của con người” (human vacuum). Chủ nghĩa cực đoan thường khởi đầu “phi chính thống”, nhưng tự nó dần dần trở thành chính thống và mạnh lên dần để rồi cuối cùng buộc chính quyền và cộng đồng phải công nhận nó. Vì vậy, để loại trừ được lý do và không gian ra đời của chủ nghĩa cực đoan, Việt Nam cần đổi mới thể chế chính trị đã lỗi thời, và xây dựng một nhà nước dân chủ vững mạnh. 

Tuy nhiên, độc tài và độc đảng thực ra không phải xấu (nếu ôn hòa). Nó chỉ xấu và nguy hiểm khi trở thành cực đoan và tham nhũng. Singapore (cũng như Hàn Quốc và Đài Loan) trong giai đoạn phát triển và “cất cánh” để trở thành các “con rồng/con hổ” kinh tế tại Châu Á, là một mô hình phát triển khá độc tài và gần như độc đảng. Các nước này chỉ thực sự dân chủ hóa sau khi đã phát triển thành công như những quốc gia công nghiệp phát triển.
Trung Quốc đã cải cách kinh tế thành công, “cất cánh” vượt Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thê giới (chỉ sau Mỹ). Nếu Trung Quốc tiếp tục theo đuổi mô hình phát triển “độc tài bền vững” (authoritarian resilience) như David Shambaugh đánh giá, thì chắc Mỹ và phương Tây vẫn ủng hộ Trung Quốc trỗi dậy (ôn hòa) bằng “constructive engagement”. Nhưng Tập Cận Bình đã lái “Giấc mộng Trung Hoa” theo xu hướng cực đoan, thách thức trật tự quốc tế cũ do Mỹ cầm đầu, và muốn thay thế bằng luật chơi mới của Trung Quốc, bắt nạt các nước láng giềng yếu hơn (như Việt Nam và ASEAN) là đồng minh và đối tác của Mỹ.    

Nếu Trung Quốc có thái độ ôn hòa và thiện chí, biến Biển Đông thành “cái ao chung” để khai thác (cùng có lợi) và tự do hàng hải theo luật lệ quốc tế, thì chắc không nước nào phản đối. Nhưng Trung Quốc đã có thái độ cực đoan và ngạo mạn, bắt nạt các nước láng giềng, quân sự hóa Biển Đông để biến nó thành “cái ao riêng” của mình, bất chấp luật lệ quốc tế và lợi ích chính đáng của các quốc gia khác có chủ quyền tại Biển Đông. Thái độ ứng xử của Trung Quốc tại Biển Đông, cũng như quan hệ hợp tác với các nước khác trong khuôn khổ “Một Vành đai, Một con đường” là thước đo xem ông Tập Cận Bình định ôn hòa hay cực đoan. Nếu Trung Quốc ôn hòa thì sẽ được cộng đồng thế giới và ASEAN ủng hộ, dù Trung Quốc có vượt Mỹ, trở thành cường quốc kinh tế số một thế giới (một cách chính đáng).   

Bài học 

Tại nước Đức, trong thập niên 1930 của thế kỷ trước, Chủ nghĩa Quốc Xã (National Socialism) là một trào lưu được nhiều người Đức ủng hộ. Hitler đã vận dụng quan điểm về chủng tộc và dân tộc Đức (trong “Main Kamp”) để lên cầm quyền, và lái trào lưu dân tộc chủ nghĩa theo xu hướng cực đoan, trở thành Chủ nghĩa Phát-Xít (Fascism), một mô hình độc tài toàn trị được quân sự hóa cao độ. Hitler đã xô đẩy nước Đức và Châu Âu vào một cuộc chiến tranh tàn khốc làm 60 triệu người chết và 90 triệu người bị tàn phế. Riêng Liên Xô có khoảng 23-27 triệu người chết, và Ba Lan có 5,6 triệu người chết (bằng 16% dân số). (Wikimedia). 

Tại nước Nga, sau khi lên cầm quyền, Stalin đã thanh trừng các phe phái, trở thành nhà độc tài và lái Liên bang Xô Viết (USSR) đi theo xu hướng cực đoan, trở thành một nhà nước độc tài toàn trị. Trong các cuộc thanh trừng, khủng bố, và nạn đói dưới thời Stalin, khoảng 20 triệu người đã bị chết, trong đó có 2,7 triệu người chết trong các trại “Gulag” (theo các sử gia và học giả như như Simon Montefione, Alexander Yakolev, và Jonathan Brent).

Tại Trung Quốc, trong giai đoạn “Đại Nhảy vọt” (Great Leap Forward, 1958-1961) và “Cách mạng Văn hóa” (Cultural Revolution, 1966-1976) ước tính có khoảng 36-46 triệu người đã bị chết do nạn đói khủng khiếp nhất trong lịch sử nhân loại, hoặc bị tù đầy, tra tấn và hành quyết trong các đợt “thanh trừng” nội bộ (với khoảng 2,5 triệu người bị chết).    

Tại Việt nam, trong giai đoạn Cải cách Ruộng đất (1949-1956), ước tính có khoảng 50.000 người đã bị chết, hầu hết do xử oan, điển hình là bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long). Năm 1956, tại Hội nghị TW10, lãnh đạo Việt Nam đã chính thức thừa nhận nguyên nhân trực tiếp dẫn đến những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến và kéo dài trong cải cách ruộng đất là do “hiện tượng độc đoán chuyên quyền đã trở nên trầm trọng” (TW5, 5/10/1956).  

Tại Campuchia, dưới thời Khmer Đỏ cầm quyền (1975-1979) khoảng 2 triệu người đã bị chết do tai họa diệt chủng. (Theo Benjamin Valentino, Dartmouth College). Những vụ giết người hàng loạt như vậy thường được phân thành mấy loại: “thanh trừng giai cấp” (classicide), “thanh trừng chính trị” (politicide), “thảm sát” (democide), và “diệt chủng” (genocide). Theo sử gia Martin Malia, có khoảng 85-100 triệu người trên thế giới đã trở thành nạn nhân của vấn nạn cực đoan và bạo lực. (“Le Livre Noir Du Communisme”, Martin Malia, 1997).  

Hòa giải 

Phải chăng tư tưởng cực đoan và lòng hận thù, là di chứng của cuộc chiến tranh hủy diệt đẫm máu (chủ yếu là do nội chiến) vẫn còn đeo đẳng cả hai phía, làm vô hiệu hóa những nỗ lực và cơ hội hòa giải dân tộc. Cực đoan và vô cảm thường dẫn đến ngộ nhận và vô minh. Nhiều năm sau chiến tranh, người Việt trong nước và hải ngoại vẫn là nạn nhân của cực đoan và hận thù, bạo lực và khủng bố. Nhiều người Việt lo sợ chế độ cộng sản đã phải liều mạng vươt biển để định cư tại Mỹ, nhưng vẫn “sống trong sợ hãi” vì bị những đồng bào cực đoan của họ khủng bố vì bất đồng quan điểm. Đó là một nghịch lý và một sự thật đáng buồn.  
  
Chắc nhiều người còn nhớ, khi bộ phim “Terror in Little Saigon” (Frontline & ProPublica) được PBS công chiếu (12/2015) thì tranh cãi lại nổ ra trong cộng đồng người Việt tại Mỹ liên quan đến vụ giết hại 5 nhà báo gốc Việt bị nghi là do tổ chức “K-9” của “Mặt trận” Hoàng Cơ Minh (tiền thân của đảng Việt Tân) đã gây ra, để bịt miệng và răn đe những nhà báo nào đi tìm sự thật về những hoạt động mờ ám của tổ chức này (giai đoạn 1981-1990). 

Những người Việt cực đoan mang nặng hận thù, dù đứng ở phía nào trên sân khấu chính trị, (cộng sản hay chống cộng) đều giống nhau. Cực đoan thường dẫn đến độc tài và độc quyền; Cuồng tín thường dẫn đến bảo thủ và nhầm lẫn; Thù hận thường dẫn đến bạo lực và xung đột; Tham lam thường dẫn đến tham nhũng và chiếm đọat. Muốn chống khủng bố, phải chống tất cả những thái cực nguy hiểm đó, là nguồn gốc của mọi tai họa trên đời này. 

Kết luận

Vì cực đoan dựa vào sức mạnh cứng, vô cảm và bạo lực hay dẫn đến xung đột và chiến tranh, nên hòa giải và hòa hợp đòi hỏi lòng nhân ái và vị tha, thái độ ôn hòa và thiện chí. Chỉ có sự tử tế và ôn hòa mới giúp ta vượt qua được chấp và ngã, mới tạo ra sức mạnh mềm để hóa giải hận thù và định kiến, ngăn ngừa bạo lực và tội ác. Nói cách khác, muốn biến gánh nặng của quá khứ thành vốn quý cho tương lai, phải “biến lưỡi gươm thành lưỡi cầy”.  

Chắc loài người vẫn chưa quên thảm họa diệt chủng tại Campuchia do Khmer Đỏ gây ra, có bàn tay của Trung Quốc, do bóng ma của chủ nghĩa Mao đầy cực đoan và bạo lực xô đẩy. Chính vì vậy mà người Myanmar đã quyết dân chủ hóa để thoát Trung. Những gì đang diễn ra tại Biển Đông là sự tiếp nối hay lặp lại của lịch sử, nhưng đầy thách thức mới. 

Chỉ có dân chủ hóa và thoát Trung mới thoát khỏi định mệnh như cái vòng kim cô về ý thức hệ đã kìm hãm và kéo lùi lịch sử Viêt Nam nhiều thập kỷ. Biển Đông vừa là nguy cơ có thể mất chủ quyền, vừa là cơ hội để thoát Trung. Việt Nam đã bỏ qua nhiều cơ hội đổi mới. Vì vậy, phải đổi mới thể chế chính trị đã lỗi thời trước khi quá muộn. Cụ Hồ chắc chắn sẽ phù hộ dân tộc đổi mới vì “quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.  
    
19/5/2017




Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2017

Hà Nội, Niềm tin & Hy vọng

Hà Nội, Niềm tin & Hy vọng

Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Dy vừa gửi cho tôi bài viết mới có đầu đề mà tác giả bảo là mượn từ bộ phim của Đạo diễn, Nghệ sĩ nhân dân Trần Văn Thủy, đó là "Hà Nội trong mắt ai".

Bài viết đề cập nhiều vấn đề, nhiều góc cạnh của Hà Nội hôm qua và hôm nay. Hà Nội với biết bao nhiêu điều nghịch lý, nhưng người Hà Nội đi xa vẫn luôn nhớ về mảnh đất có bề dày ngàn năm này. Và người viết bài đã hé mở những mối hy vọng  (là chính đáng) khi thấy người đứng đầu chính quyền của Hà Nội đã có những cách tiếp cận cuộc sống thực tế của người dân thủ đô. Nó thể hiện trong việc giải quyết vụ Đồng Tâm, vụ đòi lại vỉa hè, hoặc vụ từ chối đặt tượng khỉ King Kong ở ven hồ Gươm. Đó là những thí dụ Hà Nội đã và đang đổi mới, gần dân, lắng nghe tiếng nói của dân hơn trước...

Từ lẽ trên chủ blog tôi tự đặt cho entry của mình là "Hà Nội, Niềm tin & Hy vọng" (xin mượn từ đầu đề một bài hát rất quen thuộc thời Hà Nội bom đạn).

Dưới đây xin giới thiệu toàn văn bài viết của anh Nguyễn Quang Dy.

Vệ Nhi/NV

-----



Hà Nội Trong Mắt Ai


Tác giả: Nguyễn Quang Dy

Hà Nội không vội được đâu” (khuyết danh)

Tôi mạn phép mượn cái tên phim đó của đạo diễn Trần Văn Thủy (và câu châm ngôn hóm hỉnh này) để nói về Hà Nội, vì chưa tìm được cái gì hay hơn. Tôi biết ông Thủy sẽ không phản đối, không phải chỉ vì ông ấy là bạn tôi, mà còn vì lúc đó ông Thủy cũng đang bí cờ thì tình cờ nghĩ ra cái tên đó cho bộ phim “như được thần linh mách bảo” (lời ông Thủy). 



Hà Nội đầy nghịch lý

Tuy ông Thủy từng bị “lên bờ xuống ruộng” vì “Hà Nội trong mắt ai”, nhưng cuối cùng câu chuyện đã kết thúc có hậu khi bộ phim và tác giả của nó trở thành nổi tiếng, như một “hệ quả không định trước” (unintended consequence). Tôi rất thích cái nghịch lý trớ trêu ấy. Phải chăng Hà Nội chính là một thành phố đầy nghịch lý, vì vậy mà nó hấp dẫn và ám ảnh người ta như một ma lực vô hình. Mỗi khi nghĩ về Hà Nội, tôi cứ tự hỏi tại sao rất nhiều người (cả Ta lẫn Tây) lại bị hấp dẫn và ám ảnh đến thế bởi cái thành phố nhỏ bé đầy bụi bẩn này.

Thật khó nhớ hết những bức tranh, bản nhạc, bài hát, câu chuyện về Hà Nôi. Dù người ta có kêu ca phàn nàn về Hà Nội, nhưng nếu ai đã từng sống lâu ở đó thì mỗi khi đi xa lại nhớ, lại buồn, lại yêu Hà Nội hơn, như một mối tình khó quên (và khó lý giải). Phải chăng Hà Nội đầy nghịch lý. Và chính những nghịch lý đó đã tạo ra sự hấp dẫn vô hình “phi vật thể”.      

Tôi không định kể chuyện Hà Nội vì sợ “múa rìu qua mắt thợ”, mà chỉ muốn chia sẻ vài suy nghĩ thoáng qua về những gì liên quan đến bản sắc (identity) của cái thành phố đặc biệt này. Không phải vì nó là “trái tim của cả nước”, cũng không phải vì Hà Nội mới to gấp mấy lần Hà Nội cũ, mà vì nó tiềm ẩn nhiều nghịch lý hấp dẫn và ám ảnh nhiều người.    

Câu chuyện khu phố cổ

Trong khu phố cổ Hà Nội (còn được gọi là “36 phố phường”) có khu phố Tàu (China town). Nhưng khi chiến tranh với Trung Quốc xẩy ra (2/1979) người Hoa đã bị xua đuổi khỏi Hà nội.  Trong mấy năm sau đó, khu phố Tàu bị bỏ hoang như vô chủ, tiêu điều như một khu phố ma, chẳng ai buồn đến. Thế rồi chẳng biết từ khi nào và tại sao, khu phố đó lại hồi sinh, sầm uất trở lại, đầy sức sống và hấp dẫn khách thập phương, cả Tây lẫn Ta.

Cả ngày lẫn đêm, khách thập phương đổ về khu phố cổ như có nam châm hút dòng chảy năng lượng con người. Hễ chỗ nào đông khách du lịch thì khách sạn và hàng quán lại mọc lên. Tuy khu phố cổ chẳng có cái gì “hoành tráng”, nhưng tại sao nó lại hấp dẫn khách du lịch hơn các nơi khác? Có người gọi đó là “cái hồn cốt” (the soul) của phố và vỉa hè như là giao diện của “Đông-Tây hội ngộ”. Nói cách khác, đó là sự hấp dẫn vô hình, phi vật thể, gần như siêu thực mà có người giải thích bằng phong thủy hay “thần thái” (ambience).   

Sự phục sinh hay biến đổi của khu phố cổ hầu như tự phát do người dân, chứ không phải do quy hoạch đô thị, hay là tác phẩm của các nhà kiến trúc. Hình như nó diễn ra theo một quy luật hay do “bàn tay vô hình” nào đó, mà người ta chưa lý giải được. Câu chuyện nên bảo tồn khu phố cổ thế nào vẫn còn là một đề tài gây tranh cãi mãi, làm tốn nhiều giấy mực của các nhà nghiên cứu và quản trị đô thị. Nhưng chính họ cũng chẳng can thiệp được mấy vào cuộc sống sôi động của khu phố cổ này. Đó cũng là một thực tế và một nghịch lý về Hà Nội. 

Bên cạnh khu phố Tầu (China town) là khu phố Tây (French town). Đó là hai đặc trưng truyền thống là di sản văn hóa của Hà Nội. Từ xưa các cụ nhà ta đã nói “ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật” như tiêu chí sành điệu thời thượng. Tuy người Hà Nội không thiếu cơm Tàu và nhà Tây, nhưng lại thiếu vợ Nhật. Phải chăng để bù lại, người Hà Nội thích cưỡi xe máy Honda (họ nói xe Honda máy móc bền và ít tốn xăng). Nhưng mấy anh Tây đến Hà Nội còn thực dụng hơn, vì họ “ăn cơm Việt” (cơm bụi), “lấy vợ Việt” (đỡ tốn), “ở nhà Việt” (nhà vợ). 

Câu chuyện đô thị mới

Thực ra, nhà nước có thể đầu tư nhiều tỷ USD để xây dựng một thành phố mới hoành tráng làm thủ đô như Naypyidaw (Myanmar). Đó là một thành phố hiện đại nhưng “vô hồn” (soulless), chẳng ai buồn đến, trừ các quan chức và viên chức chính phủ phải làm việc (và gia đình họ). Yangon cũ kỹ (nhưng có hồn), khác với Naypyidaw hiện đại (nhưng vô hồn). Chẳng ai thích một thành phố vô hồn, giống như thành phố ma (ghost town). Nhớ lại cách đây đã lâu, Việt Nam cũng định xây dựng thủ đô mới tại Xuân Hòa hay đâu đó (thật hú vía!). 



 Hà Nội ngày nay còn có một đặc trưng nữa là các khu đô thị mới (new towns) đang mọc lên quanh Hà Nội như các đô thị vệ tinh. Đây là một câu chuyện đáng nói, vì các khu đô thị mới cũng phản ánh một phần “hội chứng Naypyidaw” (thu nhỏ). Ngoài khu đô thị Trung Hòa-Nhân Chính là các khu đô thị Mỹ Đình hay Ciputra, với những tòa nhà ngày càng cao (cao mãi), như một tiêu chí “hiện đại” trong tư duy đô thị hóa (urbanization). Thực ra đối với người Hà Nội, nhà cao tầng (căn hộ) không thể thay thế được “nhà Tây” (biệt thự).  

Nếu đặc trưng của khu phố cổ là vỉa hè và các con phố nhỏ mềm mại, chủ yếu để giao lưu, thì đặc trưng của khu đô thị mới là các con đường to và các dãy nhà cao tầng/biệt thự được quy hoạch thẳng hàng và cứng nhắc như trại lính. Mật độ xây dựng dày đặc với hàng loạt nhà cao tầng dẫn đến mật độ dân cư quá đông làm ách tắc giao thông, nhưng công năng của vỉa hè lại không ăn nhập với nhu cầu đi bộ (trừ các công viên nội bộ trong khu dân cư). Đây là một nghịch lý bất cập mà các nhà quy hoạch đô thị chắc chưa tính đến, trong khi hầu hết các chủ đầu tư bất động sản chỉ quan tâm đến xây nhà để bán nhằm thu hồi vốn (và lãi).   

Tuy các nhà đầu tư bất động sản có thể ngụy biện do quy luật cung - cầu, nhưng các nhà quy hoạch và quản trị đô thị lại khó lý giải được những bất cập đang xuất hiện tại nhiều khu đô thị mới, như một cái bong bóng khổng lồ (có thể vỡ). Thực ra các nhà quy hoạch đô thị chỉ là “cánh tay kéo dài” (như công cụ) đang bị thao túng bởi các nhóm lợi ích chỉ quan tâm đến cái lợi trước mắt, mà không thấy rủi ro tiềm ẩn của tư duy đô thị hóa bằng mọi gía.  

Tại sao họ lại quy hoạch các khu đô thị mới như vậy? Chỉ có thể lý giải bằng mấy lý do: (1) di chứng chiến tranh vẫn còn tồn đọng trong tư duy của họ, (2) ảnh hưởng của kiến trúc theo mô hình Liên Xô/Trung Quốc/Hàn quốc vẫn tác động đến văn hóa kiến trúc của ta, (3) mục đích “chụp giật và đánh quả” vẫn chủ đạo và chi phối quy hoạch đô thị. Yếu tố con người (nhân văn) và thiên nhiên (cây xanh) không thực sự quan trọng đối với họ. Có lẽ vì thế mà Hà Nội đã từng chủ trương chặt cây xanh cổ thụ, chỉ vì mục đích vụ lợi (đánh quả). Và vì thế mà các nhóm lợi ích đang tàn phá bán đảo Sơn trà, sẵn sàng tiêu diệt lũ Vooc quý hiếm.   

Hà nội xưa và nay

Theo tiến sĩ Nguyễn Văn Chính, Hà Nội vẫn chưa trở thành một đô thị hoàn chỉnh, vẫn chỉ ở “phía bên kia của làng xã”. Mỗi khi nói đến Hà Nội như một thực thể văn hóa có bản sắc riêng, người ta không được quên có một “Hà Nội nhà quê” và một “Hà Nội kẻ chợ”. Giáo sư sử học Trần Quốc vượng thì kết luận, “Ba chữ ‘Nông thôn, Nông dân và Nông nghiệp’ là hằng số của lịch sử văn hóa Việt Nam”.  (“Đi tìm bản sắc văn hóa Hà Nội”, Nguyễn Văn Chính, Vietnam Net, 17/9/2014). Còn nhà phê bình Vương Trí Nhàn thì cho rằng Hà Nội bốn thập kỷ sau chiến tranh vẫn trông giống một thành phố thời hậu chiến, với những bức tường loang lổ rạn nứt, và những ngôi nhà cũ kỹ, ọp ẹp, chắp vá... “Cả Hà Nội mang dáng dấp một cái chợ phóng to(“Khi Hà Nội trở thành chính mình”, Vương Trí Nhàn, 28/4/2015).  




Hà Nội là một đô thị đặc biệt vì nó là một thành phố kiểu Á - Âu điển hình. Đây là nét độc đáo hiếm thấy trong các thành phố cổ ở châu Á. Hà Nội không chỉ có dấu ấn văn hóa của người Hoa, mà còn có di sản văn hóa của người Pháp. Có người nói “Hà Nội đẹp như Paris”. Đó là cách ví von để mô tả khu phố Tây, với những đường phố và biệt thự Pháp độc đáo. Ngoài phố Tràng Tiền và Hàng Khay, còn có các phố Rue Jules Ferry (Hàng Trống), Rue Gia Long (Bà Triệu),  Rue Francis Garnier (Đinh Tiên Hoàng), Boulevard Rollandes (Hai Bà Trưng), Boulevard Careau (Lý Thường Kiệt) và Boulevard Gambetta (Trần Hưng Đạo)…

Vào đầu thế kỷ 20, Hà Nội tuy nhỏ bé nhưng là “hòn ngọc Viễn Đông”. Nay hòn ngọc đó đã biến thành một công trường khổng lồ, ngổn ngang, như thời chiến. Ấn tượng nhất là những cột điện với những búi giây cáp nhằng nhịt như cái mạng nhện khổng lồ mà Bill Gates dù thông minh đến mấy cũng không thể nào hiểu nổi. Nhưng cái cột điện vẫn chưa nguy hiểm bằng cái loa phường vì nó gây ô nhiễm âm thanh như để khủng bố tai người dân Hà Nội suốt mấy thập kỷ qua. Cả hai tuyệt tác nghệ thuật đó vẫn mặc nhiên tồn tại một cách khó hiểu, bất chấp thời gian như một thứ bảo tàng vĩnh cửu. Đó là một nghịch lý mang bản sắc Hà Nội, như để nhắc nhở người dân thủ đô “văn minh” này phải nhớ thời chiến tranh và bao cấp.   

Hà Nội đã thay đổi quá nhiều: nay có tới 7,5 triệu dân (năm 2015), gồm cả Hà Đông và Sơn Tây, với nhiều khu đô thị mới. Nhưng hình như “nhà càng cao thì văn hóa càng thấp”, đặc biệt là văn hóa giao thông. Nạn kẹt xe ngày càng trầm trọng, với số lượng xe máy khổng lồ (hơn 6 triệu chiếc). Đường phố Hà Nội ngày càng giống đường nông thôn, vì đầy ổ gà và sống trâu. Nhiều đoạn đường xuống cấp nhanh, đi xe máy rất nguy hiểm vì những ổ gà hay nắp cống làm xe nhảy chồm lên như vượt chướng ngại vật. Ngày trước, thỉnh thoảng còn thấy người ta duy tu đường, nhưng nay chỉ thấy họ thay nhau đào đường hay vỉa hè để làm cống, đặt cáp, hay lát lại tạm bợ, chắp vá, tùy tiện cho xong chuyện, chẳng biết ai chịu trách nhiệm.   

Mỗi khi ra đường, người dân lại lo nơm nớp như “thập diện mai phục”. Người nước ngoài mới tới Hà Nội lần đầu không dám qua đường một mình vì sợ xe máy. Nếu buộc phải qua đường thì phải bám vào tay người khác, liều mạng nhắm mắt đưa chân như đánh bạc với thần chết. Theo Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình, Chủ tịch Ủy ban ATGT Quốc gia, mỗi ngày cả nước có 24 người chết và 60 người bị thương vì tai nạn giao thông (VietnamNet, 11/5/2017). Theo Chủ tịch Ủy ban TWMTTQVN Nguyễn Thiện Nhân, “số người chết do tai nạn giao thông trong 3 năm bằng số người chết do dịch bệnh 100 năm” (VNExpress, 24/11/2016).

Không phải chỉ có tai nạn giao thông đang đe dọa sinh mạng người dân Hà Nội, mà ô nhiễm không khí, nguồn nước, thực phẩm, và rác thải là những rủi ro tiềm ẩn gây bệnh tật, như “thập diện mai phục”. Nhiều người phải bán nhà mặt đất để mua căn hộ cao tầng vì lo sợ ô nhiễm không khí. Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung thừa nhận ô nhiễm môi trường ở Hà Nội “đang ở mức báo động đỏ”. Theo ông Chung, nguồn ô nhiễm lớn nhất xuất phát từ 2,5 triệu xe máy cũ, đã hết hạn sử dụng từ trước năm 2000. (VNExpress, 17/2/2017).

Gần đây, Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID) cho biết trong năm 2016, Hà Nội đã trải qua 8 đợt ô nhiễm không khí nghiêm trọng. Chỉ số ô nhiễm bụi PM 2.5 ở Hà Nội cao gần gấp 2 lần tại thành phố HCM. Về lượng bụi PM 2.5 trung bình năm 2016 ở tp HCM là 28,23 µg/m3 (quy chuẩn là 25 µg/m3), trong khi tại Hà Nội chỉ số này lên tới 50,5 µg/m3, cao gấp đôi so với ngưỡng quy chuẩn của quốc gia và cao gấp 5 lần so với ngưỡng trung bình của WHO. Hà Nội chỉ đứng sau New Delhi (124µg/m3). (Zing, 17/2/2017). 

Đằng sau câu chuyện vỉa hè

Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung đã nổi lên như một ngôi sao sau mấy sự kiện gần đây, làm ông Chung được lòng dân. Đó là cách giải quyết ôn hòa sự cố tranh chấp gay cấn tại Đồng Tâm, và cách xử lý triệt để vụ giải tỏa vỉa hè tại Hà Nội. Tuy Hà Nội làm triệt để, dám vạch thẳng nguyên nhân chính do công an phường hay quận bảo kê các nhóm lợi ích địa phương, nhưng các “lực lượng chức năng” Hà Nội lại không đập phá vỉa hè thô bạo như trong thành phố HCM. Người ta còn nói vui rằng ông Chung “tuy là công an nhưng hơi bị được”.

Di sản chiến tranh với đặc thù cực đoan và thô bạo vẫn tiềm ẩn trong tư duy và hành động của nhiều người trong chính quyền. Nó phản ánh vào tư duy quy hoạch đô thị (trông như trại lính) hay chiến dịch dẹp vỉa hè (làm như thời chiến). Hình ảnh ông Đoàn Ngọc Hải (phó chủ tịch quận 1) trực tiếp dẹp vỉa hè tại TP HCM là một ví dụ điển hình về cực đoan và thô bạo đến vô cảm. Tuy Việt Nam đã biến thành thị trường, nhưng vỉa hè vẫn là chiến trường.  
Theo Robert Neuwirth, nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới không phải là Trung Quốc, mà là “System D”, với GDP là 10 ngàn tỷ USD, chỉ kém Mỹ là 14 ngàn tỷ USD. (“The Shadow Superpower”, Robert Neuwirth, Foreign Policy, October 28, 2011). “System D” là viết tắt từ tiếng Pháp “debrouiller” (hay debrouille), có nghĩa là khả năng xoay sở và thích ứng với mọi hoàn cảnh để tồn tại. Đó là nền kinh tế ngầm gồm cả buôn lậu và trốn thuế, mà người ta gọi lịch sự là “tiểu ngạch”, đang nuôi sống hàng triệu người dân thất nghiệp và buôn bán nhỏ. Người Việt Nam rất giỏi về “System D” nên đã tồn tại được trong chiến tranh cũng như thời bao cấp hay khủng hoảng kinh tế. Hà Nội là một thủ đô của “System D”.

Quyết định giải tỏa vỉa hè tuy đúng, nhưng nếu làm cực đoan và thô bạo thì sai, vì nó phản tác dụng và dẫn đến những hệ quả khó lường. Tại các nước đang phát triển (như Việt Nam), vỉa hè và chợ cóc tại các đô thị là một phần của “System D”, đang nuôi sống hàng triệu người dân mà nhà nước chưa đủ khả năng bảo trợ. Ngay tại các nước phát triển, hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội cũng chưa thể thay thế được “System D”. Khi dẹp vỉa hè và chợ cóc có lẽ chính quyền chưa nghiên cứu kỹ xem liệu nó có hệ quả kinh tế gì đối với xã hội.

Robert Neuwirth cho rằng do khả năng ứng phó (spontaneous) và biến báo (improvisation) nên “System D” sẽ đóng vai trò chủ yếu (crucial) cho sự phát triển của các đô thị trong thế kỷ 21. Tổ chức OECD dự báo là đến năm 2020, “System D” sẽ thuê 2/3 nhân công trên thế giới. Hơn nữa,  “System D” còn phổ cập được công nghệ mới ra thế giới với giá rẻ hơn để người nghèo cũng tiếp cận được. Nó có thể phân phối sản phẩm công bằng hơn, với giá rẻ hơn các công ty lớn. Nói cách khác, “System D” sẽ trở thành “siêu cường kinh tế lớn thứ hai thế giới”, và là tương lai của nền kinh tế toàn cầu. Chính Trung Quốc đã trở thành trung tâm thương mại và công xưởng của thế giới một phần bởi vì họ biết cách vận dụng quy luật của “System D”. 

Đằng sau câu chuyện Kong   

Cách đây khoảng 2 tháng, UBND TP Hà Nội đã nhận được công văn của Bộ Văn hóa về việc dựng mô hình giới thiệu phim “Kong: Skull Island” tại Hồ Gươm. Theo Bộ Văn hóa, “nhằm tận dụng ảnh hưởng dự án phim có mức đầu tư cao, có bối cảnh chính quay tại Việt Nam và được công chúng toàn cầu chờ đợi, Bộ phối hợp với Công ty phát hành tổ chức một loạt các hoạt động nhằm thúc đẩy quảng bá du lịch Việt Nam nói chung và thủ đô Hà Nội nói riêng”. Nhưng trước phản ứng bất bình của dư luận, UBND TP Hà Nội đã trả lời Bộ văn Hóa là việc dựng mô hình khỉ Kong tại khu vực tượng đài “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” hoặc các khu vực khác xung quanh Hồ Gươm, là “không phù hợp”. (VNExpress, 14/3/2017).

Người ta hiểu Hà Nội bác yêu cầu trên là có vai trò của ôngNguyễn Đức Chung, vì thông thường Sở Văn Hóa phải nghe theo Bộ Văn Hóa. Không chỉ muốn dựng mô hình khỉ Kong tại Hồ Gươm, Bộ Văn Hóa còn chọn đạo diễn Jordan Vogt-Robert làm “đại sứ du lịch”. Đây là một quyết định còn ngớ ngẩn hơn là trước đây đã chọn cô Nhã Kỳ hay cậu Bobby Chin làm “đại sứ”, phản ánh tầm nhìn văn hóa và chính trị thiển cận của những người làm công tác văn hóa và du lịch (nếu không phải nhóm lợi ích còn có động cơ gì khác phía sau).

Theo các nguồn tin trong ngành điện ảnh, hãng phim Legendary (chủ đầu tư của Kong: Skull Island) đã được tập đoàn Wanda (Đại Liên Vạn Đạt) của trùm bất động sản Trung Quốc Wang Jianlin (Vương Kiện Lâm) mua vào năm 2015 với giá 3,5 tỷ USD. (Vương Kiện Lâm là cựu sĩ quan quân đội Trung Quốc). Sự thâm nhập của Trung Quốc vào Hollywood làm người Mỹ lo lắng. Năm 2016, 18 dân biểu của cả hai đảng, trong đó có chủ tịch Ủy ban tình báo Hạ viện, đã yêu cầu giám sát chặt chẽ hơn các vụ đầu tư, trong đó có vụ Wanda mua Legendary. Quốc Hội Mỹ đặt câu hỏi, “Liệu định nghĩa về an ninh quốc gia có nên mở rộng để đề cập những mối lo về tuyên truyền và kiểm soát truyền thông và các định chế quyền lực mềm?”
Chẳng lẽ ngành Văn hóa - Du lịch Việt Nam không còn cách gì khác, mà phải lấy hình ảnh con khỉ Kong đã lỗi thời và nhàm chán (thậm chí phản cảm về văn hóa) để quảng bá hình ảnh du lịch Viêt Nam đang bị sa sút vì quản trị yếu kém. Ngoài bối cảnh đẹp, đằng sau bộ phim Kong này là câu chuyện gì? Phải chăng Việt Nam bị phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc về kinh tế, nay cần phụ thuộc nốt về văn hóa cho “đúng quy trình”?  Có lẽ các quan chức du lịch bảo kê cho nhóm lợi ích đang tàn phá bán đảo Sơn Trà, tiêu diệt lũ Vooc vô tội, cũng chính là những người đã định dựng mô hình khỉ Kong tại Hồ Gươm Hà Nội, để “quảng bá du lịch”.
Việc làm đó thường gọi là “trò khỉ” (monkey business). Không phải chỉ có ông Nguyễn Sự (Hội An) mà người dân Hà Nội (và cả nước) đều bất bình “tức nghẹn cổ”. Thật xấu hổ khi Việt Nam được LHQ xếp hạng thứ 124/125 (gần đội sổ) trong số các “quốc gia đáng sống”. Chính các quan chức văn hóa-du lịch đó lại vô văn hóa và phản du lịch, đang làm cho hình ảnh Việt Nam xấu đi và đất nước ngày càng khó sống đối với cả con người và loài khỉ. Cụ Tản Đà vẫn đúng khi nói, “Dân hai nhăm triệu ai người lớn. Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”.   
Thay lời kết
Hà Nội (hay Sài Gòn) muốn “trở về tương lai” (back to the future) như “Hòn ngọc Viễn đông” thì trước hết phải đổi mới thể chế, dù “muộn còn hơn không”.  Nếu chưa đổi mới được cả nước, thì hãy đổi mới thành phố của mình, nếu không muốn tụt hậu so với Lào và Campuchia. Chính quyền và người dân đều phải đổi mới, vì “dân nào thì chính phủ ấy”.

Đã đến lúc Hà Nội cần chứng minh dù “gần mặt trời” nhưng vẫn có thể “biến điều không thể thành có thể”.  Câu nói “Hà Nội không vội được đâu” có thể đúng với thời Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo, nhưng chưa chắc đúng với thời Chủ tịch Nguyễn Đức Chung. Ông Chung ít nhất đã hai lần chứng minh ngược lại khi trực tiếp chỉ đạo giải tỏa vỉa hè Hà Nội và xử lý sự cố Đồng Tâm một cách ôn hòa nhưng hiệu quả, tuy hai sự kiện đó rất “nhạy cảm”.

Nếu Đồng Tâm là một bước ngoặt, thì Hội nghị TW5 là một cái mốc đo thực tâm chống tham nhũng cũng như chủ trương đổi mới thể chế (và nhất thể hóa) của Việt Nam. Nếu chống tham nhũng là cái ngọn thì đổi mới thể chế là cái gốc (trong mối quan hệ nhân quả). Trong khi người Thái đang biến Việt Nam thành thị trường của họ (mua lại doanh nghiệp), thì trong những phe phái có dính dáng đến lợi ích nhóm ở Việt Nam đang biến đất nước mình thành chiến trường (bằng tranh giành quyền lực).

NQD. 12/5/2017