Thứ Ba, 7 tháng 3, 2017

Một góc dành cho bạn bè thích ảnh & chụp ảnh

Một góc dành cho bạn bè thích ảnh & chụp ảnh

Thấy trong thư email gửi tới giới thiệu những bức hình mới thoáng nhìn có sự kỳ ảo, và ngẫm kỹ chúng "quá đẹp". Với sự trợ giúp của công nghệ photoshop nữa thì nghệ thuật nhiếp ảnh ngày nay sẽ còn đi đến đâu nữa...

 Đưa lên blog để bà con và bạn bè cùng chiêm ngưỡng, rồi (có thể) chia sẻ tới các bạn khác...

Vệ Nhi

-----

15 bức ảnh "không chỉnh sửa" (photoshop) mà vẫn lung linh, kỳ ảo...


Hiện tại, công nghệ photoshop và nhiều công cụ chỉnh ảnh đã góp phần tạo ra vô vàn tác phẩm ảo diệu, đẹp mắt. Thế nhưng, trên đời “chuyện gì cũng có thể xảy ra” nhiều bức ảnh vốn được chụp hoàn toàn thật cũng khiến nhiều người nghĩ rằng, chắc hẳn nó đã qua xử lý photoshop bởi quá khó tin.



Vô số bóng máy bay trên những giọt nước nhìn vô cùng ảo diệu. Chắc hẳn khi lần đầu tiên nhìn thấy bức ảnh này nhiều người cho rằng nó một tác phẩm tạo ra bởi công nghệ chỉnh sửa ảnh.

Hai cánh đồng oải hương và lúa mạch như tạo sự ngăn cách giữa hai thế giới


Những chiếc ban công đối xứng và bầu trời quá ư kỳ ảo


Những mảng màu khác biệt


Ảnh chụp bắt được khoảnh khắc khi con sóng ào tới


Hình thù kỳ dị của nham thạch ở miệng núi lửa chẳng khác nào cánh cửa dẫn tới địa ngục


Khung cảnh thật mà như ảo


Hình ảnh Tháp Sutro Tại San Francisco chìm trong mây hình dáng y như những cột buồm khiến người ta liên tưởng tới con tàu nổi tiếng của người Hà Lan bay

Người đàn ông đang cho đàn thiên nga ăn trong tuyết. Hình ảnh tuyết trắng tương phản với hồ nước đã khiến nhiều người nghĩ rằng đây phải là một tác phẩm đã chỉnh sửa kỹ càng

Con đường giúp ngăn đám cháy giữa hai cánh rừng

Một bông hướng dương khác biệt với cả cánh đồng. Có lẽ nó là bông hoa duy nhất không hướng tới mặt trời

Khung cảnh trời mây tựa như cổ tích

Màu sắc những chiếc lá quanh gốc cây tựa như đã được xếp đặt và chỉnh sửa. Có lẽ đây cũng là một trong những điều kỳ điệu đẹp mắt của tự nhiên.

Màu sắc nước biển khiến chiếc thuyền tựa như đang bay

Hiện tượng mây hiếm gặp tại bang Đông Victoria, của Úc

Công nghệ và Photoshop có thể tạo ra vô số tác phẩm kỳ diệu, huyền ảo, thế nhưng thế giới tự nhiên có lẽ cũng luôn ẩn chứa những điều đẹp đẽ, tuyệt vời để ta khám phá.

Chủ Nhật, 5 tháng 3, 2017

Người Việt hải ngoại & Chuyện về các băng đảng xã hội đen

Người Việt hải ngoại & Chuyện về các băng đảng xã hội đen


Thực ra mình vào trang Nước Đức, tờ báo điện tử của anh chị em Việt kiều sinh sống làm ăn bên đó (nuocduc.org) thì đọc được bài viết này. Nhận thấy nội dung có khá nhiều thông tin, lại là những thông tin không đẹp gì về người Việt ta sống ở hải ngoại nên đưa lên blog để mọi người cùng tham khảo. 

Ở cuối bài viết ghi nguồn lấy từ báo Cảnh sát Toàn cầu, tờ báo của ngành công an và an ninh nước ta (chưa kiểm chứng, nhưng sẽ làm điều đó ngay... Nếu không đúng là Nguồn đó thì blog tôi sẽ đưa tin cải chính).  

@ --->> Đầu đề bài dưới đây là lấy từ nguyên văn bài viết. 

Vệ Nhi/Nguyễn Vĩnh

------

Chân dung ghê rợn của một băng đảng xã hội đen người Việt ở châu Âu

Những tên tội phạm người Việt khét tiếng trời Âu. Những tội ác không thể dung thứ. Và cuộc truy lùng ngoạn mục của cảnh sát hai nước Đức – Việt, loại trừ băng đảng xã hội đen do những trùm xã hội đen người Việt cầm đầu.


Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa
Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa

 Từ giang hồ thành Vinh trở thành trùm xã hội đen ở Đức

Những năm 1990 là thời kỳ cộng đồng người Việt ở Đức lên đến mức kỷ lục. Hơn 80.000 người Việt sống ở đất nước này khi ấy đều chủ yếu là những người dân làm ăn lương thiện, kiếm sống bằng các nghề buôn bán nhỏ hoặc làm thuê. Nhưng cá biệt trong số đó có những anh chị, đầu gấu ở trong nước trà trộn vào. Biết đây là mảnh đất béo bở, dễ làm ăn, bọn chúng đã tìm cách xâm nhập vào đất nước này, trở thành những tên đầu gấu người Việt khét tiếng ở nước Đức, lập ra những băng nhóm xã hội đen với nhiều tội ác kinh người, khiến cảnh sát Đức không thể nhắm mắt làm ngơ.
Ở nước Đức, thay vì đoàn kết với những đồng hương của mình, bọn chúng lại ra sức ỷ mạnh hiếp yếu, cướp bóc tiền của của những đồng hương người Việt của mình, tổ chức các hoạt động bảo kê, thanh toán, cướp giật, chém giết lẫn nhau. Cộng đồng người Việt ở Đức khi đó hết thảy đều bị chúng hành hạ khốn khổ nhưng tuyệt nhiên không ai dám khai báo, tố cáo những tên tội phạm này với Cảnh sát Đức vì sợ vạ lây nên đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”, nhắm mắt nhắm mũi cho những băng đảng này cướp bóc đi miếng cơm manh áo mà khó nhọc lắm họ mới kiếm được.
Trước sự sợ hãi, im lặng của cộng đồng người Việt ở Đức, bọn tội phạm càng ngày càng lộng hành ngang ngược. Bọn chúng trỗi dậy ở khắp nơi, phân chia địa bàn và cướp bóc không ngừng. Đó là lúc lực lượng Cảnh sát Việt Nam nhập cuộc, cùng với Cảnh sát Đức truy quét những băng đảng xã hội đen làm nhũng nhiễu trật tự, an ninh của nước Đức thời đó.
Khi đó, trước tình hình các băng nhóm người Việt ở Đức ngày càng quậy phá, lộng hành, gây ra nhiều tội ác, Cảnh sát Đức đã gửi công văn cho Văn phòng Interpol Việt Nam, đề nghị phối hợp giúp đỡ và cung cấp thông tin về các “anh chị giang hồ” ở Việt Nam nhập cư sang Đức. Một trong những nhóm đối tượng nổi bật nhất được Cảnh sát Đức điểm mặt chỉ tên chính là băng nhóm của hai ông trùm xã hội đen người Việt ở Đức là Vân “phệ” và Nguyễn Hải Nam.
Vân “phệ” tên thật là Nguyễn Văn Vân, sinh ra và lớn lên ở Nghệ An, là một trong những giang hồ khét tiếng ở thành Vinh. Trước khi sang Đức, Vân “phệ” đã có một bảng thành tích đáng nể với một thời kỳ dài làm mưa làm gió ở thành Vinh.
Ở Vinh, nghề chính của Vân “phệ” là chuyên đi bảo kê hoạt động vận chuyển ma túy. Với “thành tích bất hảo” này, hắn đã có hai lệnh truy nã của Công an Nghệ An. Hoạt động ở Vinh một thời gian dài, trở thành một trùm giang hồ khét tiếng của thành Vinh khi ấy, Vân “phệ” nổi tiếng không chỉ bởi sự hung bạo của mình mà còn khiến người dân thành Vinh ấn tượng bởi thói quen ăn mặc lôi thôi, luộm thuộm. Hắn thường mặc những chiếc áo nhăn nhúm, đi đôi dép tông loẹt quẹt, vừa đi vừa chửi đổng.
Thế nhưng, bỗng có một dạo Vân “phệ” thay đổi một cách chóng mặt. Hắn ăn mặc chau chuốt, bóng bẩy, đi lại ra dáng “người có học” và nói năng lịch sự đột ngột. Sự thay đổi của Vân “phệ” khiến chính những đàn em của hắn cũng phải ngỡ ngàng, mãi một thời gian sau mới vỡ lẽ thì ra Vân “phệ” thay đổi như thế là bởi hắn quyết định “xuất ngoại”, tìm đất làm ăn ở xứ người. Khi đó, Vân “phệ” đã trở thành một đối tượng nằm trong sổ đen của Công an Nghệ An. Biết khó có thể làm ăn ở đất này được nữa, hắn quyết định tìm đường ra nước ngoài kiếm sống.
Sau khi móc nối được với một đường dây chuyên đưa người ra ngước ngoài do hai băng nhóm xã hội đen hoạt động xuyên quốc gia của Trung Quốc và Đài Loan, Vân “phệ” cùng vài đầu gấu giang hồ khác lên đường xuất ngoại.
Trước khi đi, là một tên khôn ngoan, lọc lõi, khác hẳn với vẻ bề ngoài phỗn phệ của mình, Vân “phệ” thậm chí còn dọn sẵn đường để quay về nếu mọi việc không được như ý muốn. Trước khi đi, hắn đã giao toàn bộ “cơ nghiệp” của mình cho một tay đàn em tin cẩn là Bình “trắng” quản lý hộ, với lời gửi gắm, dặn dò tên này phải hết sức giữ gìn địa bàn do hắn quản lý, để nếu hắn có trở về vẫn còn có chỗ mà sinh sống.

Để kiếm ít “lộ phí” đi đường, Vân “phệ” còn thủ vài bánh heroin để mang sang nước ngoài bán. Bọn chúng bắt xe từ Vinh ra Hà Nội và thay đổi xe cũng như đổi chỗ nghỉ liên tục để phòng bị ai theo dõi. Tại Hà Nội, bọn chúng nhanh chóng được đưa đến nơi an toàn rồi đi bằng tàu sang Trung Quốc, từ đây đáp máy bay sang Nga. Nhờ vòi bạch tuộc của hai băng nhóm tội phạm xuyên quốc gia của Trung Quốc và Đài Loan, Vân “phệ” và nhiều tay anh chị người Việt khác đã thực hiện cuộc vượt biên ngoạn mục, qua mắt được lực lượng an ninh. Từ Nga, hắn đã được đồng bọn chờ sẵn rồi đưa sang Đức và bắt đầu cùng với đồng bọn của mình làm mưa làm gió ở Đức.
Ngay khi mới sang Đức, Vân “phệ” đã nổi tiếng là một tên khát máu. Dưới sự “bảo kê” của ông trùm người Việt Nguyễn Hải Nam, Vân “phệ” đã nhanh chóng trở thành một trùm xã hội đen ở Đức. Nguyễn Hải Nam là một ông trùm người Việt trong thế giới ngầm ở Nga. Với vỏ bọc một doanh nhân thành đạt, Nguyễn Hải Nam đã nhiều năm thực hiện các hoạt động ngầm mờ ám và làm giàu bất chính từ những hoạt động này. Địa bàn hoạt động của Nguyễn Hải Nam không chỉ ở Nga mà còn vươn sang cả Séc và Đức. Nói không ngoa nếu gọi hắn là ông trùm của những ông trùm xã hội đen ở đây.
Nguyễn Hải Nam có công ty ở Nga, có cửa hàng karaoke ở Đức và Séc. Hắn kiếm tiền từ hoạt động cho vay nặng lãi cho các tư thương người Việt ở nước ngoài, hoạt động kinh doanh, buôn lậu tân dược và kiêm luôn cả buôn bán ma túy. Hắn có thế đến nỗi luôn luôn xuất hiện với một đám lâu la, đàn em làm vệ sĩ và chỉ đi trên chiếc xe chống đạn của mình.
Là người gốc Nghệ An nên Nguyễn Hải Nam không lạ gì Vân “phệ”. Chính hắn là người gợi ý Vân “phệ” sang Đức và khi Vân “phệ” sang đến nơi, hắn nhanh chóng biến Vân “phệ” thành cánh tay phải đắc lực của mình trong các hoạt động tội ác để rảnh tay lo việc khác. Vân “phệ” là một tên biết việc, nên chỉ cần Nguyễn Hải Nam chỉ đạo từ xa đồng thời đứng ra bảo lãnh trong giới giang hồ là đủ để Vân “phệ” tranh hùng xưng bá nơi xứ người.
 Là một tên đầu gấu khét tiếng nổi tiếng hung bạo, dù sang xứ người, Vân “phệ” vẫn không hề cảm thấy xa lạ với các trận huyết chiến. Ngay khi mới chân ướt chân ráo sang đây, được ông trùm che chở, Vân “phệ” đã gây ra nhiều cuộc thanh toán đẫm máu, tranh giành địa bàn với các băng nhóm người Việt khác như băng nhóm “Quân khu 3” của Mạnh “bệu”, Toàn “hói”. Những cuộc đối đầu của những băng nhóm này không chỉ khiến bọn chúng bị tổn thương lực lượng mà còn khiến lực lượng Cảnh sát Đức chú ý.
Không muốn gây ra những chuyện ầm ĩ, cuối cùng bọn chúng đã ngồi lại với nhau thỏa thuận để phân chia địa bàn làm ăn. Cơ sở để phân chia địa bàn của các băng nhóm tội phạm Việt ở Đức cũng sặc mùi máu me, dựa vào “tỷ lệ chết hoặc thương tật” của mỗi băng. Băng của Vân “phệ” nhận được miếng mồi ngon, cai quản toàn vùng sát Berlin, vùng Dessau.
Ngay khi phân chia địa bàn làm ăn, Vân “phệ” đã nhanh chóng trở thành ông trùm của ông trùm trong giới xã hội đen ở Đức. Cái tên Vân “phệ” trở thành nỗi kinh hoàng với người dân lương thiện. Không chỉ bảo kê, cướp bóc trắng trợn, Vân “phệ” còn thực hiện các vụ đòi nợ thuê và chém giết xuyên quốc gia. Hắn đã từng cho người về Việt Nam giết người theo “hợp đồng” mà ông trùm Nguyễn Hải Nam giao cho hắn và thực hiện những vụ đòi nợ ở tận Nga, Ba Lan.

Cái chết bi thảm của ông trùm người Việt

4
Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa

Ở Đức, Vân “phệ” đã gây thù chuốc oán khắp nơi nên bị nhiều kẻ muốn xóa sổ gạch tên. Biết điều đó nên đi đâu Vân “phệ” cũng có đàn em kè kè bên cạnh bảo vệ. Hắn tuyệt nhiên không bao giờ ra ngoài mà không có vệ sĩ đi cùng. Nhưng cuối cùng cuộc đời tên trùm xã hội đen người Việt ở Đức này lại kết thúc một cách bi thảm và nhục nhã đến không ngờ.
Thời còn ở Việt Nam, Vân “phệ” không hề máu me với đàn bà con gái. Nhưng khi sang Đức, tính máu gái của hắn trỗi dậy. Có tiền trong tay, lại có uy danh của một anh chị giang hồ hàng đầu, Vân “phệ” nhanh chóng bao nhiều cô gái trẻ trung xinh đẹp để mua vui cho mình hàng đêm. Hắn không ngờ rằng, thói mê gái đã khiến hắn phải trả giá bằng cả tính mạng của mình.
Trước lễ noel, Vân “phệ” nhận được lời mời ngọt ngào từ một cô gái xinh đẹp người Việt mà hắn mới quen trước đó vài tuần. Cô gái này mới xuất hiện và xin phép được buôn thuốc lá lậu qua địa bàn của hắn. Thấy một em gái xinh tươi, trẻ trung, lại ngọt ngào hết mực với mình, nên Vân “phệ” vô cùng phổng mũi. Là một tên trùm đi đâu cũng đề phòng bị sát hại, thế nhưng lần này, vì mê gái đến mụ mị đầu óc, hắn đã nhận lời đi dự tiệc sinh nhật của người đẹp ở một nhà hàng nằm giữa trung tâm Berlin, cách địa bàn của hắn cả trăm cây số.
Suốt buổi tiệc đó, đàn em của Vân “phệ” vẫn luôn túc trực bên cạnh, sẵn sàng bảo vệ “ông trùm” của mình. Nhưng đến lúc tan tiệc, Vân “phệ” đi vệ sinh, thì cuộc đời hắn kết thúc. Không nghĩ có ai phục trong nhà vệ sinh để gây hại cho mình, Vân “phệ” đã cho đàn em xuống xe trước. Một lúc sau không thấy ông trùm xuống, đàn em của Vân “phệ” lo lắng chạy lên nhà hàng, xông vào nhà vệ sinh thì thấy Vân “phệ” đã trở thành cái xác không hồn. Hắn bị đâm nhiều nhát chí mạng, chết gục trên bồn vệ sinh.
Tên trùm giang hồ kết thúc cuộc đời một cách nhục nhã khi nằm trên một vũng máu trong một cái nhà vệ sinh bẩn thỉu, kết thúc những ngày tranh hùng tranh bá, làm mưa làm gió ở nước Đức. Cô gái xinh đẹp mời Vân “phệ” đi sinh nhật cũng biến mất không một chút sủi tăm. Biết vụ này do băng Quân khu 3 gây ra, nhưng phe cánh của Vân “phệ” không thể làm gì, đành cay đắng nhìn địa bàn làm ăn của mình rơi dần vào tay kẻ thù.
Cái chết của Vân “phệ” khiến phe “Quân khu 3” nổi như cồn và ngày càng chiếm ưu thế trong các băng đảng giang hồ người Việt ở Đức. Nó đã giáng một đòn đau vào ông trùm Nguyễn Hải Nam. Ngay lập tức, Nguyễn Hải Nam liền cho gọi cánh tay phải của Vân “phệ” ở Việt Nam là Bình “trắng” sang Đức, thay Vân “phệ” tiếp quản cái ghế còn trống.
Ở quê nhà, sau khi nghe tin đàn anh của mình chết một cách tức tưởi, Bình “trắng” đã cho đàn em tổ chức một lễ tang hoành tráng để bày tò sự tiếc thương với đàn anh của mình. Lễ tang Vân “phệ” xuất hiện đầy đủ đàn em râu ria của hắn một thời, tất cả đều mặc áo sơ mi đen, comple đen, đeo kính đen, đi giày đen, đứng dàn hàng ở nhà Vân “phệ”.

Quét sạch xã hội đen

Ngay sau khi Vân “phệ” chết, được lệnh của ông trùm Nguyễn Hải Nam, Nguyễn Hải Bình (tức Bình “trắng”) lên đường sang Đức nhận cái ghế do Vân “phệ” bỏ lại với quyết tâm báo thù cho đàn anh, đồng thời giành lại thị phần làm ăn ở khu vực Dessau. Đi theo Bình “trắng” còn có Cường “điên”, tên sát thủ hung bạo nhất dưới trướng Vân “phệ” và Bình “trắng” ở trong nước.
Chỉ sang Đức chưa đầy 1 năm, Bình “trắng” đã trở nên khét tiếng trong thế giới ngầm ở đây. Hắn được ông trùm Nguyễn Hải Nam đặc biệt tin cẩn, thậm chí còn hơn cả Vân “phệ” trước đây bởi hắn tỏ ra rất được việc trong những vụ ông trùm Nguyễn Hải Nam nhờ vả. Địa bàn hoạt động của hắn cũng rộng hơn Vân “phệ”, lan sang cả Nga và Séc. Nhờ có Bình “trắng”, Nguyễn Hải Nam dần lấy lại uy thế đã mất ở Đức.
Sự tàn bạo của Bình “trắng” vượt rất nhiều lần Vân “phệ”, khiến những băng đảng ở Đức và Nga cũng phải toát mồ hôi lạnh vì kinh hãi. Có lần, Nguyễn Hải Nam giao cho Bình “trắng” đi đòi nợ một con nợ của vợ Nguyễn Hải Nam tên là H. Người phụ nữ này vì thiếu nợ vợ ông trùm nên đã trốn chạy vì quá sợ hãi. Bình “trắng” sau khi cho đàn em về Việt Nam đòi nợ gia đình H không được đã cho người lùng sục khắp nơi, bắt bằng được H. Khi tìm được “con nợ”, hắn đã cho đàn em giết chết H không ghê tay, rồi chặt một cánh tay nạn nhân gửi về gia đình nạn nhân để “đánh tiếng”.
Vẫn với thủ đoạn ghê rợn này, có lần khi đòi nợ một lái xe taxi ở Đức vay tiền không trả, Bình “trắng” đã bắt cóc người lái xe taxi này, chặt đứt hai ngón tay của nạn nhân rồi cho nạn nhân gọi điện về gia đình, ép cha mẹ con nợ của mình phải giao tiền. Nhà nghèo, không biết kiếm đâu tiền để trả nợ cho con khi mà lãi mẹ đẻ lãi con, mẹ của nạn nhân đã đến báo công an, nhờ sự giúp đỡ. Với sự phối hợp giữa Interpol Việt Nam và Cảnh sát Đức, con tin này đã được giải thoát nhưng trong tình trạng suy sụp hoàn toàn về thể chất và tinh thần, hai ngón tay đã bị chặt đứt. Tất cả vụ việc này đều do đàn em của Bình “trắng” thực hiện.
Nuôi mộng trả thù cho đại ca Vân “phệ” của mình, nên Bình “trắng” nhiều phen mất ăn mất ngủ, cho đàn em đi lùng sục tung tích kẻ thù để báo oán. Năm 1997, khi nhận được tin “cô gái bí ẩn” mời Vân “phệ” đi sinh nhật cùng với vài tên của băng “Quân khu 3” đang ở trong một ký túc xá sinh viên người Việt, Bình “trắng” đã tập hợp đàn em, ăn mặc nai nịt, súng ống đầy người thẳng tiến đến ký túc xá này.
Đến nơi, giữa đám đông hỗn loạn đang rối lên vì sợ hãi, Bình “trắng” thản nhiên nã đạn, tạo ra cuộc thảm sát đẫm máu khiến Cảnh sát Đức tím mặt vì giận. Tất cả những người có mặt ở đó đều chết. Cô gái khiến Vân “phệ” bỏ mạng bị ăn nhiều đạn nhất với 2 băng tiểu liên và một băng đạn súng ngắn, thi thể nát nhừ khiến cảnh sát vô cùng khó khăn mới nhận dạng được. Sau vụ án này, báo thù cho đàn anh xong, Bình “trắng” mở tiệc “khao quân” rồi lặn mất tăm, tránh sự truy lùng của cảnh sát và sự trả thù của băng “Quân khu 3”.
Trong một lần nhận được tin đàn em của Bình “trắng” trở về Vinh, lực lượng Công an đã bắt gọn tên này, buộc hắn khai ra nơi ở của Bình “trắng” ở Đức. Chỗ ở của Bình “trắng” được báo cho Cảnh sát Đức. Nhưng khi Cảnh sát Đức chưa kịp hành động thì Bình “trắng” đã bỏ mạng.
Hôm đó, Bình “trắng” đến nhà một người bạn cũ để ăn bữa cơm thân mật ở ngoại ô thủ đô Berlin. Khi đến nơi, gọi mãi không có người mở cửa, hắn đã linh cảm có chuyện không lành và lệnh cho đàn em rút lui. Nhưng chưa kịp tháo chạy thì đạn từ trong nhà đã bắn ra xối xả. Bình “trắng” chết ngay sau đó với hàng chục phát đạn găm vào người.
Trước sự lộng hành của các băng nhóm người Việt, một chiến dịch truy quét mang tên “tử thần” đã được Cảnh sát Đức lập ra. Không thể để các băng nhóm tội phạm người Việt tiếp tục gây ra những cuộc thanh toán đẫm máu nữa, Cảnh sát Đức đã phối hợp với cảnh sát các nước Nga, Séc bắt giữ toàn bộ băng nhóm của Bình “trắng”. Tên trùm Nguyễn Hải Nam cũng sa lưới khi đang ở Séc. Những tàn dư còn lại của các băng nhóm khác một thời là đối thủ sát phạt với băng Vân “phệ” – Bình “trắng” cũng bị truy quét triệt để, trả lại sự bình yên và trong sạch cho cộng đồng người Việt ở Đức, Nga, Séc.
Nhờ có sự hỗ trợ của lực lượng Cảnh sát Đức và Công an Việt Nam, các băng nhóm tội phạm người Việt khét tiếng ở Đức đã sa lưới pháp luật. Cái tin các băng nhóm giang hồ ở Đức bị xóa sạch khiến nhiều người Việt Nam sinh sống và làm ăn ở đây thở phào nhẹ nhõm vì thoát khỏi một mối họa lớn. Không còn bị đe dọa bởi các anh chị, đầu gấu, người Việt Nam ở đây có thể yên tâm làm ăn, sinh sống lương thiện, không lo bị trả thù hay sát hại như trước. Các băng nhóm xã hội đen người Việt đã bị đập tan. Nhưng trước lúc đó, thì hai trùm xã hội đen người Việt từng khét tiếng thành Vinh một thời cũng phải bỏ mạng nơi xứ người và đều kết thúc cuộc đời một cách vô cùng thê thảm. Đó là cái giá của tội ác mà chúng đã gây ra cho cộng đồng người Việt ở châu Âu.

Lê Quang – Chuyên đề CSTC tháng số 34

Thứ Năm, 2 tháng 3, 2017

Thờ Mẫu & Hầu bóng

Thờ Mẫu & Hầu bóng

Đầu tháng 12/2016 năm ngoái khi UNESCO công nhận tín ngưỡng thờ Mẫu ở VN thì cũng có những ý kiến chưa tán đồng hoặc thậm chi là trái chiều. 

Đến mức vậy thì có thể có một sự lầm lẫn ở đây giữa tín ngưỡng thờ Mẫu mà VN trình lên Unessco xem xét & công nhận và tục hát lên đồng (hầu đồng, đồng bóng) có sự biến tướng để cầu lợi và gây tốn kém  ho một bộ phận con người tham gia. Nếu như thế thì nguy cơ các hoạt động nghi lễ về tôn giáo ở các đền thờ Mẫu sẽ có thể biến dạng thành một thứ tập tục có màu sắc mê tín dị đoan mà chúng ta cần đề phòng và chung lưng gạt bỏ chúng ra khỏi đời sống cộng đồng...

Xin đưa ra vài bài viết về chủ đề này để bà con đọc blog và bạn bè trong ngành ngoại giao, đối ngoại đọc tham khảo, chia sẻ.

Vệ Nhi/Nguyễn Vĩnh

------



Lại bàn về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

Huỳnh Thiệu Phong
 



(1) Thờ Mẫu là một hiện tượng văn hóa xã hội rất đặc biệt của Việt Nam. Sự hình thành của nó khởi phát cũng không nằm ngoài bối cảnh chung của sự hình thành tôn giáo, tín ngưỡng của nhân loại.
Con người là một động vật bậc cao, có khả năng nhận thức và tư duy. Tuy nhiên, khi trình độ khoa học kĩ thuật chưa hình thành, trước thiên nhiên hùng vỹ và vũ trụ bao la, con người chưa có khả năng lí giải chúng từ góc độ khoa học. Họ chỉ mới có khả năng nhận thức mối đe dọa của chúng đối với sự sống của bản thân và cộng đồng của mình. Do đó, những hiện tượng tự nhiên đã được nhìn nhận qua lăng kính “siêu nhiên”. Và vì nhìn nhận chúng dưới lăng kính siêu nhiên, chưa thể lí giải được nên con người phải tôn thờ các đối tượng và lực lượng ấy thông qua những nghi lễ (tôn giáo). Do được tôn thờ nên chúng cũng được nhân loại gắn cho tính thiêng.
Trải qua giai đoạn dài với sự biến thiên của lịch sử, văn hóa, xã hội, niềm tin vào sự linh thiêng của các đối tượng siêu nhiên ấy vẫn không thuyên giảm mà vẫn tồn tại trong tư duy, nhận thức của con người. Đấy chính là tiền đề để tôn giáo, tín ngưỡng ra đời trong đời sống của nhân loại. Vì lẽ đó, bản chất của mọi tôn giáo, tín ngưỡng chính là niềm tin, là sự ngưỡng vọng của con người vào các đối tượng được sùng bái. Các thiêng ở đây chính là sự đối lập với cái trần tục trong đời sống xã hội. Trong nhiều loại niềm tin, niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng chính là niềm tin linh thiêng nhất. Nó là biểu hiện cho sự xác tín, sự đảm bảo của các lực lượng siêu nhiên đối với một cuộc sống bình yên cho cộng đồng.
(2) Nhận thức và tư duy của người Việt hiển nhiên cũng không nằm ngoài qui luật vận động ấy. Với người Việt, đời sống tinh thần của họ đã phản ánh một thế giới quan, nhân sinh quan đậm chất nhân văn. Vì lẽ đó, nhiều loại hình tín ngưỡng đã được hình thành. Chúng chính là tấm gương phản ánh tinh thần nhân văn và sâu sắc của cộng đồng. Tín ngưỡng thờ Mẫu chính là một biểu hiện rõ nét cho tinh thần nhân văn ấy của người Việt.
Từ thuở xa xưa, đàn ông là người phụ trách công việc đi săn bắn, tìm kiếm nguồn lương thực chủ yếu trong mỗi gia đình. Song nguồn thực phẩm này rất bấp bênh vì không phải lần đi săn nào cũng thu được kết quả. Trong khi đó, người phụ nữ lại ở nhà phụ trách việc trồng tỉa chăn nuôi (hoặc đi hái lượm hoa quả trong thời tiền sử). Do đó, mặc dù nguồn lợi thực phẩm không dồi dào như đi săn, nhưng nó lại đảm bảo sự ổn định. Ta có thể xem đó là yếu tố tiên quyết, là nguồn gốc sâu xa của việc con người ngày trước chỉ biết có mẹ mà không biết đến cha vì vai trò của người đàn ông rất mờ nhạt.
Trong rất nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo hiện diện ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ Mẫu là một dạng thức tín ngưỡng rất đặc sắc. Nó đặc sắc ngay từ cách gọi tên dạng thức tín ngưỡng này. “Mẫu” (母)[1]là một danh từ gốc Hán-Việt, mang nghĩa chỉ: mẹ, mụ, mạ, mế, tức dùng để gọi người phụ nữ sinh ra mình.Tại Việt Nam, cũng nằm trong xu thế phát triển trong tư duy của nhân loại, ở một trình độ cao hơn, có lý thuyết khoa học chỉ đạo, có các nhà tư tưởng, các nhà khoa học phân tích, nghiên cứu và nâng lên thành lý thuyết triết học. Nhưng con người ở thời kỳ cổ đại chưa có tư duy như vậy. Vì lẽ đó, từ tư duy “hồn nhiên” như vậy, con người chỉ đủ sức lý giải nó ở phạm trù nhận thức là biến nó thành tín ngưỡng mà thôi. Kể từ đó, các mẹ trở thành đối tượng được sùng bái [1, tr.13].Vai trò của người mẹ đã được GS. Vũ Ngọc Khánh đề cập trong công trình Tục thờ Thánh – Mẫu ở Việt Nam: “Mẹ sáng tạo ra con, chăm sóc con từ ngày con ở trong nôi cho đến lúc mẹ từ giã cõi đời. Những ngày đầu tiên của lịch sử nhân loại, con người chỉ biết có mẹ, không biết có cha. Xã hội hình thành cũng phải trải qua chặng đường đầu tiên là thời kỳ mẫu hệ. Do đó trong quan niệm của loài người, không thể thiếu hình ảnh người mẹ” [1, tr.11]. Về sau, quan niệm ấy dần được mở rộng hơn về phạm vi. Con người ai cũng có mẹ, vậy thì ông Trời mặc dù là đấng tối cao, nhưng cũng phải có mẹ; rồi vạn vật trên trái đất này đều có mẹ, tất cả đều phải tuân theo quy luật đó. Và từ những quan niệm đó thì những yếu tố và hiện tượng tự nhiên như: Mây, mưa, nước, núi, đất, … cũng đã “có” mẹ.Trong công trình Bản sắc văn hóa Việt Nam, học giả Phan Ngọc đã đánh giá rất cao cách sử dụng thuật ngữ “tục thờ Mẫu” vì ông cho rằng người Việt đã khái niệm hóa rất thành công một dạng tín ngưỡng vốn đã được tích hợp từ nhiều tín ngưỡng khác theo bốn yêu cầu: Tổ quốc – gia đình – thân phận – diện mạo. Bốn yêu cầu ấy chính là biểu hiện của tâm thức dân tộc; nó đã lý tưởng hóa thế giới siêu nhiên để thỏa mãn nhu cầu của đời sống hiện thực thông qua một hình ảnh rất gần gũi của con người – hình ảnh người Mẹ [3, tr.291].(3) Nhìn nhận sự hình thành của tín ngưỡng thờ Mẫu tại Việt Nam nói chung và tại Nam Bộ nói riêng, trên cơ sở thống nhất việc sử dụng bộ ba C-K-T (tức định vị sự hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu từ ba chiều kích), tác giả xét đến ba góc độ: C –K –T. Như vậy mới có thể có cái nhìn bao quát.Xét tổng thể trên không gian văn hóa Việt Nam (tức yếu tố K), Việt Nam nằm ở ngã ba đường, nơi tiếp nhận và hội tụ các nền văn hóa trên thế giới, đặc biệt là ảnh hưởng từ văn minh Trung Hoa và văn minh Ấn Độ. Một khi có sự tiếp nhận các yếu tố ngoại sinh vào nền văn hóa bản địa thì chắc chắn sẽ có nhiều yếu tố mới được hình thành; theo Nguyễn Quang Lê, mối quan hệ tương giao kiểu như vậy là khá phổ biến. Chính vì vậy đã tạo cho nền văn hóa bản địa một sức sống mới, tràn đầy sinh lực và phù hợp với thời đại [2, tr.21]. Mặt khác, môi trường tự nhiên chủ đạo của Đông Nam Á là môi trường rừng núi, chính vì vậy mà nó cũng chi phối rất nhiều đến sự cấu thành các hình thức tín ngưỡng. Tín ngưỡng thờ Mẫu cũng vậy, vì theo lý thuyết “Giới và Tôn giáo” của Richley H. Crapo thì: “Có nơi, có lúc các nam thần và nữ thần được xem là một thế lực lớn mạnh khuôn đúc thái độ và giá trị con người Trong những xã hội do nam giới thống trị, những thứ có liên hệ với phụ nữ được coi là nguy hiểm, mang tính siêu nhiên và có nguy cơ đối với nam giới. Thần linh và nữ thần là những thực thể tối thượng” [12, tr.12], do đó mà: “Người Việt có xu hướng nữ tính hóa các hiện tượng tự nhiên, biến các thần tự nhiên thành các nữ thần và tôn phong nhiều vị nữ thần là Mẹ/Mẫu” [6, tr.12].
Mặt khác, xét từ khía cạnh của chủ thể C (tức cộng đồng người Việt), Việt Nam là quốc gia có văn hóa gốc nông nghiệp lúa nước. Sự sinh sản của Đất-Nước-Lúa gắn với biểu tượng Mẹ – Nữ thần. Điều này đã dẫn đến chất âm tính trong hầu hết các khía cạnh của văn hóa Việt. Do vậy mà nó đã kéo theo nhiều đặc tính văn hóa, có thể phân biệt được với văn hóa gốc du mục. Trần Ngọc Thêm cho rằng chất âm tính của văn hóa nông nghiệp dẫn đến hậu quả trong quan hệ xã hội là lối sống thiên về tình cảm, trọng phụ nữ, và trong tín ngưỡng là tình trạng các nữ thần chiếm ưu thế. Và vì cái đích mà người nông nghiệp hướng tới là sự phồn thực, cho nên nữ thần của ta không phải là các cô gái trẻ đẹp, mà là các Bà Mẹ, các Mẫu.




Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt chính là một sản phẩm mới được hình thành trên cơ sở của Đạo giáo Trung Hoa, kết hợp thêm với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên, tín ngưỡng phồn thực, Phật giáo và Nho giáo [7], [10]. Vì vậy, ta có thể lí giải được một thực tế là mặc dù mang dáng dấp của Đạo giáo Trung Hoa, song nếu với Đạo giáo Trung Hoa, các vị thần linh hầu như là nam giới thì trái lại, với thiên đường Đạo giáo của Việt Nam (biểu hiện bằng tín ngưỡng thờ Mẫu), hầu như đều là các nữ thần.Xét từ góc nhìn lịch sử (tức yếu tố T), đã có một thời gian, sự ảnh hưởng của Nho giáo đã làm giảm đi giá trị và hình ảnh của người phụ nữ Việt vì những quan niệm như: “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, “Tại gia tòng phụ, xuất gia tòng phu, phu tử tòng tử”, “Chỉ hạn đàn bà và tiểu nhân là khó dạy. Gần thì họ nhờn, xa thì họ oán…” (Luận Ngữ). Và thực tiễn cũng cho thấy sự chuyển đối vị thế của yếu tố giới trong gia đình. Do đó: “Tín ngưỡng dân gian nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu nói riêng là sản phẩm văn hóa của người Việt trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội mà nền tảng là chế độ nông nghiệp lúa nước với gia đình tiểu nông phụ quyền làm trung tâm trong một môi trường làng xã khép kín” [11, tr.1].Cá biệt, khi xét đến nguồn gốc hình thành của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ, còn cần phải lưu ý đến yếu tố xã hội đúng như quan điểm của Philip Taylor [4]. Sự hẫng hụt[2] về thân phận của người dân Nam Bộ như không được chia ruộng công, tổ chức làng xã bị (thực dân) xáo trộn, không có truyền thống văn hóa để gắn kết… đã khiến cho tín ngưỡng thờ Mẫu trở thành một trong những công cụ, điểm tựa mang ý nghĩa tinh thần to lớn. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà vị thế tọa lạc của hai vị Mẫu có tầm ảnh hưởng lớn nhất ở Nam Bộ là Bà Chúa Xứ và Bà Đen lại nằm ở những vị trí trọng yếu (hai ngọn núi cao ở Nam Bộ và gần với biên giới). Vị trí tọa lạc ấy phản ánhtâm thức của người dân về nhu cầu, khát vọng về cuộc sống bình an, hạnh phúc. Khát vọng đó nói lên tư duy sáng tạo, bắt nguồn từ yếu tố địa-chính trị, địa-lịch sử và địa-văn hóa của Nam Bộ.
(3) Truy nguyên diễn trình phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu chính là minh chứng cho luận điểm: tín ngưỡng thờ Mẫu là một thực thể mang tính lịch sử, tức nó thuộc về phạm trù lịch sử. Vì vậy, diễn trình phát triển của nó cũng chứa đựng nhiều biến đổi trong các giai đoạn khác nhau, có lúc lắng đọng, có lúc hiển lộ và thăng hoa trong đời sống tinh thần của cộng đồng. Ở tín ngưỡng thờ Mẫu (đặc biệt là vùng đất Nam Bộ), ta vừa thấy có những yếu tố truyền thống, vừa có những yếu tố hiện đại, tức nó vừa cũ lại vừa mới.
Con đường phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu từ khởi thủy đến sự du nhập vào Nam Bộ với biểu tượng quyền năng nhất, linh thiêng nhất là Bà Chúa Xứ núi Sam, về đại thể có thể được đánh dấu bởi những cột mốc đáng lưu ý theo sơ đồ sau:
Diễn trình hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ
(Nguồn: Huỳnh Thiệu Phong)
Căn cứ vào hình 2.1, ta có thể hình dung một cách khái quát diễn trình phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu được chia làm 3 giai đoạn: (1) Con đường hình thành của tục thờ Mẫu thần từ tục thờ nữ thần; (2) Tục thờ Mẫu thần chuyển hóa thành tín ngưỡng thờ Tam phủ – Tứ phủ; (3) tín ngưỡng Tam phủ – Tứ phủ sau đó theo chân những lưu dân vào Nam và hình thành nên các hình tượng Mẫu mới mà cũ, đó là các Chúa Xứ Thánh Mẫu, Linh Sơn Thánh Mẫu…
Ở giai đoạn thứ nhất, nhận thức được vai trò của người phụ nữ trong đời sống văn hóa của dân tộc, người Việt đã có một bước chuyển biến mang tính sáng tạo trong việc đưa những nữ thần sang một vị thế mới: Mẫu thần với danh xưng “Thánh Mẫu”. Sự chuyển biến này là do dạng thức tín ngưỡng bản địa này đã tiếp nhận yếu tố của Đạo giáo (Phù thủy). Trong một công trình gần đây của mình, tác giả đã chỉ ra những đặc trưng nhất định trong việc phân biệt các “Thánh Mẫu” của Bắc Bộ và Nam Bộ[3]; hay nói theo Ngô Đức Thịnh: “Mẫu đều là Nữ thần nhưng không phải tất cả Nữ thần đều là Mẫu thần, mà chỉ một số Nữ thần được tôn vinh là Mẫu thần…” [9, tr.29]. Bước thay đổi trong tư duy này đã giúp cho tín ngưỡng thờ Mẫu trở thành một dạng tín ngưỡng độc nhất vô nhị trên thế giới, bởi lẽ trong văn hóa của nhiều quốc gia đều có tôn thờ nữ thần, song đưa nữ thần lên tôn thờ như một người Mẹ (Mẫu) thì chỉ có ở Việt Nam.
Ở giai đoạn thứ hai, trên cơ sở tồn tại của tín ngưỡng thờ Mẫu, người Việt sau đó tiếp nhận sự du nhập của Phật giáo và sự giao lưu và tiếp biến văn hóa đã diễn ra như một quy luật. Lúc ấy, tín ngưỡng thờ Mẫu lại bước gần hơn trên con đường biến chuyển thành một tôn giáo sơ khai, với sự xác lập một hệ thống thần linh và điện thờ có lớp lang rõ ràng. Thờ Tứ pháp ở Bắc Bộ là một biểu hiện của sự giao lưu văn hóa giữa tín ngưỡng thờ Mẫu với văn hóa Phật giáo rất rõ nét. Đó là dấu hiệu cho thấy việc tôn thờ tự nhiên, phụ nữ và kết hợp với Phật giáo. Các Mẫu thần lúc này chính là một sự hiện sinh cho tầm ảnh hưởng to lớn của người Mẹ Việt Nam mà theo Phạm Đức Mạnh, ông gọi đấy là sản phẩm của yếu tố nội sinh và ngoại sinh từ Phật giáo và Đạo giáo. Vì vậy, có thể xem đây là một hệ thống phát triển cao hơn, trên cơ sở thờ nữ thần, Mẫu thần bản địa và tiếp nhận các hưởng về quan niệm vũ trụ luận và hệ thống thần linh của Đạo giáo Trung Hoa.
Giai đoạn thứ ba khởi phát từ những biến thiên của lịch sử. Trên bước đường di cư, những lưu dân Việt từ Bắc Bộ – địa bàn phát tích của tín ngưỡng này đã đem theo hành trang là tâm thức tôn thờ các Mẫu để vào vùng đất mới Nam Bộ. Trên bước đường di cư ấy, cộng đồng người Việt phải đi qua “một trạm trung chuyển”, đó là vùng (duyên hải) Nam Trung Bộ. Tại đây, họ đã tìm thấy điểm chung với cộng đồng người Chăm trong tục thờ Mẫu. Vì vậy mà một vị Mẫu mới đã xuất hiện – Thiên Yana Thánh Mẫu (Diễn Ngọc Phi). Đây là vị Mẫu thần của hai tộc người Việt – Chăm được hình thành trên cơ sở tích hợp hình tượng Yang Po Inư Nâgar (“Mẹ Xứ sở” của người Chăm) với tâm thức thờ Mẫu của người Việt.
Hơn nữa, khi đến vùng đất mới, tâm thức ấy (vốn đã tiếp thu tâm thức thờ Mẫu của người Chăm) lại tiếp tục giao thoa thêm một lần nữa với các vị nữ thần của người Khmer (như nữ thần Neang Khmau), sau này có thêm người Hoa (Thiên Hậu Thánh Mẫu) để rồi các Bà Chúa Xứ, Bà Đen – những vị Mẫu thần mới đã được hình thành. Vì lẽ đó, có thể xem Bà Chúa Xứ chính là biểu hiện của tín ngưỡng cổ sơ “Cha Trời, Mẹ Đất” nằm trong truyền thống lâu đời của dân tộc nhưng cũng rất mới vì có sự giao lưu và tiếp biến văn hóa với các tộc người khác. Đây là lí do dẫn đến hệ thống thờ Mẫu Tam phủ – Tứ phủ ở đây rất mờ nhạt.
Tuy nhiên, có một điểm khá khác biệt trong cách gọi các Mẫu của người dân Nam Bộ so với Bắc Bộ mà ta cần lưu ý, bắt nguồn từ tính cách thoáng đạt của người dân Nam Bộ đó là cách gọi “các Mẫu” là “các Bà” đúng như nhận xét của học giả Phan An, đó là “ở Nam Bộ không có thờ Mẫu mà là thờ Bà. Quả thật, trên vùng đất Nam Bộ, có lẽ là nơi có nhiều Bà được thờ cúng nhất trong cả nước ta…”[7, tr.13].





Nói tóm lại, tín ngưỡng thờ Mẫu là sản phẩm văn hóa độc đáo của sự giao lưu văn hóa, có sự kết hợp yếu tố nội sinh (tục thờ Mẹ nguyên thủy) với các yếu tố ngoại snh (văn hóa Đạo giáo phù thủy, Phật giáo). Bên cạnh đó, do ảnh hưởng từ môi trường địa lí, văn hóa, xã hội mà do vậy, tuy có sự tương đồng về ý nghĩa tâm linh nhưng tên gọi cũng như vai trò, vị trí của các Mẫu ở Nam Bộ có sự khác biệt rõ rệt so với các Mẫu ở Bắc Bộ (ví dụ như: Tứ Pháp ở Bắc Bộ trở thành Ngũ Hành Nương Nương ở Nam Bộ).
(4) Sự hiện sinh của các Mẫu trong đời sống văn hóa của người Việt là thiên biến vạn hóa. Nó được biểu hiện qua sự đa dạng trong hình tượng của các Mẫu. Tuy nhiên, có mấy vai trò và chức năng nổi bật đáng lưu ý của các Mẫu có thể kể đến sau đây:
Một là, các Mẫu có thể vừa đảm nhiệm nhiều vai trò như một vị Thành hoàng, một vị Địa Mẫu (theo hệ thống thờ Mẫu Tam phủ – Tứ phủ) hay một vị thần ban phát tài lộc cho con người.Vai trò của các Mẫu phụ thuộc vào nhận thức của cư dân từng địa phương.
Hai là, các Mẫu có mối liên hệ mật thiết với cộng đồng cư dân địa phương và môi trường sinh thái. Do đó, có thể xem vai trò này chính là biểu hiện của sự thích nghi sinh thái[12]. Tùy thuộc vào điều kiện môi sinh, các Mẫu sẽ có những vai trò tương thích với môi sinh đó. Chẳng hạn như, thông qua nghiên cứu điền dã, Phan Thị Yến Tuyết đã cho rằng: “Đối với vùng biển Nam Bộ không có nhiều miếu Bà Chúa Xứ như vùng nông nghiệp (không giáp biển) Nam Bộ” [12, tr.382]. Điều này là có thể lý giải vì suy cho cùng, Bà Chúa Xứ là một thổ thần (tức Địa Mẫu) chứ không phải là hải thần.
Ba là, tín ngưỡng thờ Mẫu là minh chứng của sự bình đẳng giới, bởi vì hình tượng của Đất, của Nước, của Hồn dân tộc đã len lỏi vào từng giá trị văn hóa của tín ngưỡng thờ Mẫu. Những giá trị đó đã trải qua một quá trình tích hợp lâu dài, trở thành một phần của nền tảng tinh thần người Việt, góp phần vào sự hình thành, tồn tại và phát triển của văn hóa dân tộc. Mặt khác, ý nghĩa về bình đẳng giới của dạng thức tín ngưỡng này cũng có thể được xem như một hồi chuông để cảnh báo cho sự phân biệt giới đã từng một thời tồn tại trong tư duy và nhận thức của người Việt vì ảnh hưởng từ sự tiếp nhận Nho giáo.
Bốn là, nói như học giả Ngô Đức Thịnh, tín ngưỡng thờ Mẫu là một thứ chủ nghĩa yêu nước đã được tâm linh, tín ngưỡng hóa. Vì lẽ đó, nội dung của tín ngưỡng thờ Mẫu chứa đựng trong đó những triết lí sống mang chức năng giáo dục rất cao. Con người tìm đến các Mẫu phải đến với với cái tâm hướng thiện. Ở khía cạnh khác, các tín đồ không tìm đến các Mẫu với những ý niệm siêu phàm, mà trái lại, đó là những ước mong mang tính hiện thực. Vì thế mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng tín ngưỡng thờ Mẫu đang được “trẻ hóa” và có thể tồn tại vững chắc trong xã hội đương đại, tiêu biểu là nhận định của Nguyễn Hữu Thụ khi ông cho rằng: “Tín đồ theo các Mẫu không hề suy giảm trong lịch sử bởi lẽ Mẫu không mang trong mình tính sáng thế mà chỉ mang ý nghĩa đùm bọc, chở che, bao dung, nuôi dưỡng con người và vạn vật mà thôi” [11].
Năm là, ngoài chức năng giáo dục, tín ngưỡng thờ Mẫu còn giữ một chức năng quan trọng khác nữa, đó là chức năng cố kết cộng đồng với 4 yếu tố: cộng cư – cộng lợi – cộng mệnh – cộng cảm. Chẳng hạn như ở Nam Bộ, sự tích hợp các giá trị văn hóa của người Việt, người Chăm, người Khmer, người Hoa đã sáng tạo nên những hình tượng Mẫu mới. Đó cũng đồng thời cho thấy sự đoàn kết, chấp nhận để dung hợp lẫn nhau khi có sự hỗn cư giữa các tộc người. Nhờ vậy mà bao đời nay, các tộc người thiểu số đã cùng với người Việt tạo nên một vùng đất Nam Bộ đầy yên bình.
Nói tóm lại, vai trò và chức năng của tín ngưỡng thờ Mẫu thể hiện một tầm nhìn văn hóa vì nó chứa đựng nhiều quan niệm, tư tưởng liên quan đến thiên nhiên (sự đa dạng về vai trò của các Mẫu), con người (khẳng định tính đúng đắn về bình đẳng giới và chủ nghĩa yêu nước đặc trưng của người Việt), cũng như mối quan hệ giữa con người với tự nhiên (thích nghi sinh thái), giữa con người với con người (cố kết cộng đồng). Tầm nhìn văn hóa ấy góp phần vào sự định hình hệ giá trị văn hóa bền vững, mang bản sắc văn hóa của vùng Nam Bộ./.
H.T.P
Sài Gòn, 18/2/2017
(Nội dung trích từ một phần Luận văn tốt nghiệp ngành Việt Nam học:
“Khai thác giá trị văn hóa của Miếu Bà Chúa Xứ núi Sam trong phát triển du lịch tâm linh tỉnh An Giang” – Huỳnh Thiệu Phong (2017))


*Tài liệu tham khảo:
[1]                   Vũ Ngọc Khánh (2012), Tục thờ Thánh – Mẫu ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin.
[2]                   Nguyễn Quang Lê (2014), Bản sắc văn hóa qua lễ hội truyền thống người Việt, Nxb Khoa học Xã hội.
[3]       Phan Ngọc (2006), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học.
[4]       Philip Taylor (2004), Gooddess on the Rise: Pilgrimage and Polular Religion in Vietnam, Honolulu, University of Hawaii Press.
[5]       Huỳnh Thiệu Phong (2015), Tương đồng và dị biệt trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ và giá trị của nó đối với hoạt động văn hóa du lịch (Khóa luận tốt nghiệp Cao đẳng Việt Nam học), Đại học Sài Gòn.
[6]       Nguyễn Minh San (1998), Tiếp cận tín ngưỡng dân dã Việt Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc.
[7]       Võ Văn Sen, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Văn Lên (Đồng chủ biên) (2014), Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Nam Bộ – Bản sắc và Giá trị”, Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
[8]       Ngô Đức Thịnh (2014), Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, Nxb Dân trí.
[9]       Ngô Đức Thịnh (2009), Đạo Mẫu Việt Nam (tập 1), Nxb Tôn giáo.
[10]    Nguyễn Hữu Thụ (2010), “Dấu ấn của sự giao lưu văn hóa trong quá trình hình thành và phát triển tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt”, in trongKỷ yếu Hội thảo Khoa học “Văn hóa tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa”, tr.325 – 336.
[11]    Nguyễn Hữu Thụ (2008), “Về thái độ ứng xử của người Việt với tự nhiên trong tín ngưỡng thờ Mẫu”, in trong Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần 3, bản PDF.
[12]    Phan Thị Yến Tuyết (2016), Đời sống xã hội – kinh tế văn hóa của ngư dân và cư dân vùng biển Nam Bộ, Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

Chú thích: 
[1]Chữ “An” (安) được hợp thành từ bộ “miên”(宀) có nghĩa là “mái che” và chữ “nữ” (女)có nghĩa là “người phụ nữ”; mang ý nghĩa “phúc đức tại mẫu”, trong gia đình, vai trò của người phụ nữ là rất quan trọng.
[2]“Frustration” (từ dùng của nhà nghiên cứu Phan Ngọc trong công trình Bản sắc văn hóa Việt Nam).
[3]Ở Nam Bộ, danh xưng “Thánh Mẫu” là phổ biến hơn Bắc Bộ. Điều này do ành hưởng từ Trung Hoa. Một số vị Mẫu ở Bắc Bộ thực chất chính là Thánh Mẫu, song những vị Mẫu đó lại không có danh xưng là “Thánh Mẫu”. Trái lại, ở Nam Bộ, điều này là phổ biến hơn cả. Thông qua danh xưng, ta có thể dễ dàng phân biệt các nữ thần nào là Mẫu thần [5].



 -----

Đọc Tham khảo:
http://vov.vn/di-san/tin-nguong-tho-mau-duoc-unesco-cong-nhan-la-niem-tu-hao-574389.vov



VỀ HỘI LÀNG   8 tháng 3 Âm lịch hằng năm là ngày Hội làng truyền thống quê tôi. Năm nay ngày hội rơi vào 2 ngày Nhà nước quy định Quốc tang ...