Thứ Năm, 6 tháng 4, 2017

Đi tìm Triết lý tối ưu để hài hòa lợi ích Quốc gia - Dân tộc

Đi tìm Triết lý tối ưu để hài hòa lợi ích Quốc gia - Dân tộc

Trong mấy dòng email viết kèm vào bài dưới đây, tác giả Đinh Hoàng Thắng đã nhấn mạnh vào ý (mà đầu đề bài viết đó đã nêu): "Năm Đinh Dậu 2017 nhiều khả năng sẽ là năm tái xác định rõ hơn những đường nét lớn của thế kỷ 21, tuy nhiên cuộc tranh luận về các học thuyết mới và thực tiễn đa chiều của các học thuyết ấy chưa dễ đi đến thống nhất...". Và theo ý tác giả thì giới nghiên cứu chính trị nên chăng cần điểm qua một số điều chỉnh của các đối tác quan trọng hàng đầu đối với Việt Nam, nhất là Hoa Kỳ và Trung Quốc, để tìm ra câu trả lời". 

Đọc kỹ toàn bài Chủ blog tôi nhận thấy một ý mà hình như tác giả rất muốn tìm ra câu trả lời thích đáng, đó là hãy truy tìm cho được một Triết lý tối ưu để đem lại sự hài hòa cho những lợi ích cốt lõi cho Quốc gia - Dân tộc vào lúc này.  

Nhận thấy bài viết có nêu nhiều ý kiến và bình luận rất đáng suy nghĩ về mối quan hệ Triết lý - Quốc gia - Dân tộc trong tình hình các mố quan hệ quốc tế rất nhiều biến động như ngày nay, chủ Blog tôi xin đăng tải toàn văn bài viết như một nguồn tham khảo.

Vệ Nhi g-th

-------

Đinh Dậu 2017: Triết lý—Quốc gia—Dân tộc
Triết lý—Quốc gia—Dân tộc có thể xem như ba đỉnh của tam giác, đồng cấu với tam giác Nhận thức—Tổ chức—Quan hệ. Một đất nước tầm trung như Việt Nam, cần vượt thoát ảnh hưởng của lợi ích nhóm nhiều khi khoác áo ý thức hệ, hãy lấy cảm hứng chủ đạo từ triết lý của thời đại, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, tổ chức ươm mầm, vun đắp có chọn lọc các giá trị để cố kết toàn xã hội. Hãy tự trọng khi xây dựng quan hệ với thế giới bên ngoài, hãy tự cường trong việc hàn gắn mọi rạn nứt trong lòng quốc nội. Bởi vì nếu bên trong, “bầu bí” còn chưa thương nhau thì mọi cố gắng hội nhập sẽ gặp nhiều trở lực, thậm chí bị vô hiệu hóa. Nội trị và ngoại giao từ nay—xin được nhắc lại—là chiến lược tích hợp rất cần có sự đồng thuận của toàn dân tộc lẫn sự đồng điệu với thời đại.
ĐINH HOÀNG THẮNG
Triết lý—Quốc gia—Dân tộc là các phạm trù nền tảng trong cả quan hệ quốc tế ở hầu hết mọi thời đại. Xu thế chống toàn cầu hóa và sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan cùng với sự lên ngôi của làn sóng dân túy đã và đang làm sôi sục cả Á lẫn Âu trong năm cũ. Sang năm mới, các nhà quan sát từ khắp nơi trên hành tinh đang tập trung đánh giá, liệu Đinh Dậu này sẽ là năm mở đường để dẫn đến những chuyển hóa mang tính bước ngoặt trên thế giới hay chưa[1]? Vào lúc bàn cờ quốc tế, bàn cờ khu vực dường như đang được sắp xếp lại, vẫn bởi một số cường quốc chủ chốt thì các nước vừa và nhỏ có thể làm gì? Có ý kiến luận bàn, giờ đây, nhẫn để chờ thời là cái dũng của người quân tử, nhưng nếu nhẫn để mà cầu an hay thỏa hiệp vô nguyên tắc thì sớm hay muộn, chắc chắn sẽ chuốc lấy tai vạ khôn lường[2]…
Triết lý nào thay đổi?
Đinh Dậu nhiều khả năng sẽ là năm tái xác định rõ hơn những đường nét lớn của thế kỷ 21, tuy nhiên cuộc tranh luận về các học thuyết mới và thực tiễn đa chiều của các học thuyết ấy chưa dễ đi đến thống nhất. Hãy điểm qua một số điều chỉnh của các đối tác quan trọng hàng đầu đối với Việt Nam, nhất là Hoa Kỳ và Trung Quốc, để tìm câu trả lời. Trước hết, “chủ nghĩa hay học thuyết Trump” (Trumpism) là một triết lý lạ lẫm, xuất hiện từ sau mùa bầu cử ở Mỹ và chưa hề tồn tại trong bất cứ cuốn Từ điển nào xuất bản trước đấy. Bản thân tiền tố “Trump” như một danh từ riêng cũng mang các nội hàm đối nghịch: i) Đó là một từ cổ, với nghĩa ban đầu là âm thanh phát ra từ tiếng kèn trompet (the last trump hay the trump of doom là tiếng kèn báo ngày tận thế); ii) Nhưng trong các trò sát phạt đỏ đen, Trump là quân “át chủ bài” của cuộc chơi, còn ngoài đời thì đấy là người thành công vượt sự đón đợi[3]. Khi nâng hệ thống quan điểm của tân Tổng thống thành chủ thuyết hay triết lý (chủ nghĩa Trump), giới tinh hoa nào đó ở Mỹ đã mặc định thừa nhận hệ thống quan điểm ấy vượt qua được hai công đoạn đầu trong khoa học tư duy (giai đoạn khảo cứu và giai đoạn tiếp cận logic), với tham vọng không che dấu là nó sẽ xuất hiện như một trường phái tư tưởng cho kỷ nguyên tới đây của nền chính trị Hoa Kỳ và thế giới.
Nhưng sau tháng đầu tiên tại nhiệm của tân Tổng thống, dân Mỹ có vẻ như không mấy hào hứng trước học thuyết Trump. Tân Tổng thống muốn đảo ngược một số quyết sách lớn của chính quyền Obama trước đây, từ rút khỏi Hiệp định TTP đến bãi bỏ chế độ bảo hiểm “phù hợp với túi tiền”. Ông không ngần ngại thực thi những cách tiếp cận “phi truyền thống” trong nhiều khía cạnh đối nội và đối ngoại. Ông triệu tập họp báo bất thường và chỉ trích gay gắt truyền thông… Ngày 19/2, người dẫn chương trình trên Đài MSNBC (kênh tin tức cáp của Hoa Kỳ cung cấp tin tức chính trị phát rộng khắp tại Mỹ và thế giới) đã phải đáp trả lại kịch liệt: “Chỉ có một tổng thống “giả” mới tuyên bố Tu chính án thứ Nhất của nước Mỹ (Tu chính án bảo vệ quyền tự do ngôn luận của báo chí) là kẻ thù của nhân dân Mỹ”. Tình huống “nóng” do sắc lệnh nhập cư, cũng như kết quả thăm dò dư luận từ cả ba trung tâm (đều là của Mỹ) cho thấy, tỷ lệ dân chúng ủng hộ Trump trong cách điều hành công việc xuống chỉ còn 39%, mức thấp nhất so với các tổng thống trong năm nhiệm kỳ trước đó. Với sự “mất điểm” như thế cùng với thái độ “gây thù chuốc oán” với “đệ tứ quyền”, tân Tổng thống Trump đang đứng trước nhiều nan đề. Cuộc đụng đầu về pháp lý chắc còn tiếp diễn (các sắc lệnh của Tổng thống tiếp tục bị trì hoãn). Những đợt sóng ngầm bùng phát trong Nhà Trắng chưa hẳn sớm chấm dứt (Cố vấn An ninh quốc gia Flynn phải từ nhiệm). Tất cả… liệu đã đủ để Trump “ngấm” thế nào là giới hạn quyền lực của một tổng thống trong toàn bộ hệ thống chính trị Hoa Kỳ? Trump, qua nhiều năm liền bươn chải trong thương trường có thể đã biết cách lẫn tránh sự kiểm soát, nhưng trên chính trường, lần đầu tiên ông sẽ “ngộ ra” sự hạn chế của hành pháp trong thiết chế tam quyền phân lập. Đại nhật báo Le Monde (Pháp) ngày 14/2 xác nhận: Sau những tuần đầu của nhiệm kỳ, Donald Trump đã nhượng bộ về ngoại giao và đã chịu rót thêm nước vào ruợu của mình! Trump ủng hộ 100% Nhật Bản, tái khẳng định nguyên tắc “một nước Trung Hoa”, không xét lại thỏa thuận hạt nhân với Iran, không phê phán chính sách lấn đất của Israel[4]… Ông Trump sẽ làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại hay ông sẽ “trấn lột” chính nước Mỹ để trở thành mối đe dọa đối với thế giới như Chủ tịch Hội đồng châu Âu Donald Tusk vừa cảnh báo? Hy vọng nền dân chủ Mỹ đủ trưởng thành để nhận rõ phải trái (Kissinger năm 1972 mật đàm với Bắc Kinh theo sự ủy quyền của Tổng thống khác với Flynn trước khi nhậm chức đã vi phạm nguyên tắc tiếp xúc khi “cầm đèn chạy trước ô tô” trong điện đàm với đại sứ Nga). Đấy là chưa nói tới tình huống nghiêm trọng hơn khi dư luận đang đòi điều tra lại xem có ai nữa đứng đằng sau cuộc điện đàm với Nga của Flynn hay không? Thế giới mong đợi nền dân chủ Mỹ đủ mạnh để kiểm soát con tàu Donald Trump cùng với tân nội các không chệch khỏi đường ray. 

BOX-1: Giờ đây, nhẫn để chờ thời là cái dũng của người quân tử, nhưng nếu nhẫn để cầu an hay thỏa hiệp vô nguyên tắc thì chắc chắn sớm hay muộn, sẽ chuốc lấy tai vạ khôn lường…
Các nước lớn khác, đặc biệt là Trung Quốc và Nga dường như đang chuẩn bị cho những canh bạc mới. Đây là hai cường quốc được cho là đang đòi xét lại trật tự hiện hành. Tuy nhiên, cả hai đều không thừa nhận mình thuộc về các quốc gia đòi xét lại nguyên trạng (revisionist state), dù trên thực tế họ đều hành động như vậy. Nga chiếm bản đảo Crưm của Ukraina, Trung Quốc đang liên tục có nhiều hoạt động phá vỡ nguyên trạng tại Hoa Đông và Biển Đông. Nếu xẩy ra phân chia lại thế giới theo xu hướng này, chúng ta sẽ chứng kiến sự tái lập một thế giới đa cực, trong đó sự thống trị của Nga và Trung Quốc sẽ nổi lên. Nếu như sự hỗn loạn hoặc tư duy “đèn nhà ai nhà nấy rạng” vượt trội, sẽ đánh dấu sự biến đổi lớn của hệ thống quan hệ quốc tế tương lai. Thế giới có thể sẽ đi vào một khúc quanh mới của lịch sử. Theo Robert Kagan[5], Nga và Trung Quốc đều không mấy hài lòng với cấu hình phân bổ quyền lực hiện nay và cả hai đều muốn sớm khôi phục lại phạm vi ảnh hưởng truyền thống của họ cả ở phía Tây (đối với Nga) lẫn phía Đông – Nam (đối với Trung Quốc). Hai nước này đều muốn xóa bàn cờ từ đầu để chia lại thiên hạ. Luân Đôn sau Brexit cũng đang ve vãn Bắc Kinh để hình thành trục thứ ba. Mộng bá chủ của Trung Quốc, vì vậy ngày càng quyết liệt. Biển Đông với vị trí địa – chính trị và quân sự quan trọng, giai đoạn tới đây sẽ là nơi tranh chấp để các bên có thể trắc nghiệm một trật tự mới. Điều nan giải là Việt Nam làm thế nào để tránh trở thành trọng điểm của cuộc tranh chấp ấy. Do bờ biển dài hơn ba ngàn cây số, lại ở vị trí là cửa ngõ vào ra Thái Bình Dương, là con đường tiến xuống phía nam của Trung Quốc, Việt Nam đang phải đối diện với nhiều bất trắc. Trong “nguy” có “cơ” và ngược lại, nếu không tận dụng được “cơ” thì sẽ hứng đủ cái “nguy” từ cuộc tranh hùng mới! Giữ được độc lập, chủ quyền hay không sẽ là một thách đố lớn trong giai đoạn tới đây[6]. 
Trong thời điểm chuyển giao chính quyền ở Mỹ, Bắc Kinh toan tính gì? Cuộc điện đàm của hai nhà lãnh đạo Mỹ—Trung diễn ra chỉ vài giờ sau sự cố giữa máy bay Trung Quốc và máy bay Mỹ trên vùng trời gần bãi cạn Scarborough ở Biển Đông. Có cơ sở để phỏng đoán rằng ông Trump có thể đã nêu vấn đề này với ông Tập. Cũng không phải vô tình khi ông Trump công nhận chính sách “một Trung Quốc” chỉ vài giờ trước khi tiến hành cuộc gặp thượng đỉnh với Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe tại Washington. Ngay từ đầu tuần ấy, Trung Quốc đã cử lực lượng cảnh sát biển đến các vùng nước quanh quần đảo Điếu Ngư/Senkaku trên Hoa Đông, sau khi Bộ trưởng Mỹ Mattis khẳng định các cam kết đồng minh Mỹ – Nhật áp dụng với cả quần đảo này. Hiện vẫn còn nhiều lĩnh vực bất đồng giữa hai cường quốc Mỹ – Trung, như tiền tệ, thương mại, Biển Đông và Triều Tiên, chưa được đề cập đến trong các tuyên bố công khai về cuộc điện đàm giữa hai nhà lãnh đạo. Tính đến nay, thực tế cho thấy là nếu chính sách về Trung Quốc mới bắt đầu “có da có thịt”, thì đối sách liên quan đến Biển Đông của chính quyền Trump vẫn chưa được định hình rõ nét, về căn bản vẫn tạm đi theo hướng mà cựu tổng thống Obama đã vạch ra[7]. Mới đây, một đơn vị hải chiến của Mỹ, gồm chiến đấu cơ và hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson bắt đầu tuần tra tại Biển Đông từ ngày 18/2/2017. Hải quân Mỹ thông báo tin này vài ngày sau khi Bắc Kinh cảnh cáo Washington không nên thách đố chủ quyền biển đảo của Trung Quốc. Cũng như việc Trung Quốc chiếm giữ bất hợp pháp thiết bị lặn của Mỹ tại vùng biển quốc tế dịp cuối năm ngoái… tất cả chỉ là một phản ứng trong chiến lược bao quát hơn nhiều mà Trung Quốc theo đuổi trong thời gian tới nhằm thôn tính toàn bộ Biển Đông. Như vậy, riêng đối với vấn đề Biển Đông, triết lý “chơi rắn” của Trung Quốc cho đến nay chưa thấy có sự biến chuyển nào. Các hình ảnh chụp từ vệ tinh cho thấy, Trung Quốc đã xây dựng xong hàng loạt đường băng và củng cố các cơ sở hạ tầng phục vụ cho các máy bay quân sự tại ba hòn đảo nhân tạo là Vành Khăn, Su Bi và Chữ Thập, nơi cách đây vài năm chưa từng là đảo. Trung Quốc đã hoàn thành xong việc lắp đặt các hệ thống vũ khí trên cả 7 đảo mà nước này đã cưỡng chiếm và bồi đắp ở Trường Sa. Sau phán quyết của Tòa Thường trực Trọng tài (PCA), Trung Quốc dùng phép thử “mồi nhử” về kinh tế và ngoại giao, kêu gọi hợp tác với một số nước trong khu vực trong khi vẫn giữ nguyên áp lực lên một số nước chưa chịu khuất phục.
Lợi ích quốc gia trên hết

Trung tâm nghiên cứu an ninh và địa – chính trị trên thế giới (Stratfor) cảnh báo, cán cân quyền lực ở Đông Nam Á đang âm thầm dịch chuyển theo hướng có lợi cho Trung Quốc và có lẽ không một quốc gia nào cảm nhận điều bất lợi ấy đối với mình rõ như Việt Nam. Trung tâm nghiên cứu này cho rằng Việt Nam cố gắng mềm mỏng hơn trong những lời chỉ trích Trung Quốc và tiếp tục các bước đi hàn gắn với Bắc Kinh. Thay vì đối đầu trực diện, Hà Nội đã bắt đầu theo đuổi các tuyên bố chủ quyền lãnh hải một cách tế nhị và liên minh với các đối tác mạnh hơn, để ngỏ các khả năng kháng cự cũng như sẵn sàng phòng thủ. Tổ chức này phân biệt rõ, không giống như các quốc gia khác, Việt Nam không thể chống lại, hay chấp nhận sức mạnh gia tăng của Trung Quốc trên biên giới phía Bắc. Stratfor dẫn việc Philippines và Malaysia “hồ hởi gia nhập các cơ chế xử lý tranh chấp cũng như các khối thương mại do Trung Quốc dẫn đầu”, hay việc “Nhật Bản và Singapore mạnh mẽ ủng hộ vai trò của Washington ở khu vực”. Trong khi ấy, Việt Nam phải luôn luôn khôn khéo cân bằng giữa quan hệ với Trung Quốc và với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong bối cảnh khu vực phải thay đổi để thích nghi với các thực tế địa – chính trị mới, Hà Nội ngày càng khó khăn hơn trong việc thực thi chiến lược đó.
BOX-2: Cuộc chiến mà Trung Quốc tiến hành chống Việt Nam từ ngày 17/2/1979 không phải là ngoại lệ của sự giả dối chính trị, bởi chính nó được khoác chiêu bài “phản kích tự vệ” trong khi người Việt không hề xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc. Không khuyến khích thói dối trá, song không nên ngăn chặn người dân biết nhận diện sự giả dối, biết cảnh giác đề phòng những kẻ vốn có truyền thống lịch sử lâu đời về giả dối.
Theo giới quan sát, ở Đông Nam Á, tới đây, Nhật sẽ có vai trò giống như là Mỹ đã từng đóng. Các nước khu vực, trừ một vài ngoại lệ hiếm hoi, hầu hết đều không muốn nhờ cậy Trung Quốc về an ninh. Nếu có nước nào bị bắt buộc phải làm thế là vì, họ không có sự lựa chọn khác. Và khi Nhật Bản tiến lên một bước trong vị thế lãnh đạo khu vực, các nước Á châu ủng hộ ngay. Đấy là nhận xét của GS. Pongsudhirak, một trong những tác giả của bản báo cáo từ Quỹ châu Á (Asia Foundation) về “Quan điểm đối với vai trò của Mỹ ở khu vực”[8]. Thái Lan và Philippines có dấu hiệu “giãn dần” quan hệ đồng minh với Mỹ, vì họ thất vọng và buộc phải tìm đến Trung Quốc. Trên cương vị hiện nay, ông Trump sẽ phải dựa vào các báo cáo, tư vấn của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Cục Tình báo Trung ương để làm mới chính sách đối ngoại. Hiện nay, cả ba cơ quan này đều ủng hộ chính sách “tái cân bằng”, nhưng không hài lòng với cách tiếp cận quá mềm mỏng của Obama, chưa tạo được sức nặng răn đe đối với Trung Quốc. Có thể Mỹ sẽ thể hiện quan điểm và hành động quân sự tại khu vực một cách trực diện hơn so với thời Tổng thống Obama thông qua sự hiện diện và tăng cường quan hệ với các đồng minh chiến lược, để duy trì lợi ích của Mỹ tại khu vực.
Để ứng phó với các biến động có thể ập đến bất ngờ, nếu Việt Nam vẫn giữ tư duy cũ và cách làm cũ, các chủ trương hiện nay về ngoại giao và an ninh sẽ gặp khó khăn trong hoàn cảnh mới. Chính sách “giữ cân bằng mang tính cơ học” từ trước đến nay sẽ phải trả giá nếu giữa Trung Quốc và Mỹ xuất hiện tình huống đổi chác hay những cuộc đi đêm như đã từng xẩy ra trong lịch sử. Chính sách “ba không” sẽ bế tắc nếu có hữu sự ở Biển Đông hay trên các tuyến biên giới, cả phía Bắc lẫn phía Tây Nam (xem Tuyên bố chung nhân chuyến thăm của Thủ tướng Hun Sen tại Hà Nội từ 20-21/12/2016). Trong cục diện phức tạp và hiểm nguy như hiện nay, chủ quyền quốc gia và độc lập dân tộc giờ đây chỉ có thể gắn với hội nhập quốc tế một cách toàn diện và triệt để (xem Nghị quyết 22 của Bộ Chính Trị ngày 10/4/2013). Để tránh tình thế “tứ bề thọ địch”, không chỉ do các nước lớn chèn ép mà bị ngay chính các nước nhỏ, từng có quan hệ đặc biệt, qua mặt, thì đất nước phải chủ động hội nhập sâu rộng với “bên thứ ba” như là một tập hợp lực lượng mới ở cả khu vực lẫn toàn cầu. Các kết nối về ngoại giao và an ninh giữa Việt Nam với Nhật Bản – Ấn Độ – Ốtxtrâylia là cơ hội hiếm hoi mà chúng ta đã và cần phải tham gia sâu rộng hơn nữa, thực chất hơn nữa. Chuyến thăm cấp nhà nước của Nhật Hoàng tới đây, các mối liên hệ toàn diện, đặc biệt là sự hợp tác về an ninh, giữa Việt Nam với Nhật Bản – Ấn Độ – Ốtxtrâylia là những cột mốc đối ngoại vượt trên các ý nghĩa biểu tượng.

Một chuyên gia hàng đầu về kinh tế của Việt Nam từng phát biểu, sau 30 năm Đổi mới và 10 năm tham gia WTO, chưa bao giờ chúng ta lại khát khao một cuộc Đổi mới lần thứ hai, thực chất là một cuộc Cách mạng về thể chế như hiện nay để đưa đất nước đi lên trong những năm tới[9]. Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Dy cũng hoàn toàn có lý khi đưa ra lời kêu gọi đã đến lúc phải “kiểm toán” chính sách đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ “hậu Thành Đô” (1990-2016), trên cơ sở thành công hay thất bại[10]. Qua mấy thập kỷ, Việt Nam đã bị lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc, cả về kinh tế, chính trị và đối ngoại, vì vướng phải cái vòng “kim cô” ý thức hệ. Muốn khắc phục những hệ lụy to lớn và lâu dài đó, Việt Nam phải đổi mới thể chế toàn diện, cả về kinh tế lẫn chính trị, cả về đối nội lẫn đối ngoại. Nếu coi lợi ích quốc gia là tối thượng, các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam sẽ không phải “bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nước”. Ba tiêu chí cơ bản, như ba giá trị cốt lõi của chính sách đối ngoại giai đoạn mới sẽ là những định hướng cho tương lai. Tuy nhiên, từ những định hướng ấy để triển khai thành các chủ trương cụ thể: độc lập trưởng thành (mature independence), tái cân bằng tích cực (active rebalance) và chủ động hội nhập (proactive integration), thiết nghĩ phải có những bước đột phá về tư duy chiến lược và hoạt động thực tiễn, cả trong đối nội lẫn đối ngoại. Muốn có giải pháp hiệu quả cho những tình huống mới, nhiều khi còn bất định và bất toàn, không thể dựa vào các phương pháp cũ, tư duy cũ, dẫu đó là những phương pháp và tư duy đã dẫn đến những thành công nhất định.    
Dân tộc phải trưởng thành
Cả Á lẫn Âu đang sục sôi trước thay đổi. Bảy năm sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhiều nền kinh tế vẫn chưa hồi phục. Nền kinh tế châu Âu tiếp tục đi xuống, với “đường đứt gãy” từ nước Ý đe dọa tạo ra cơn địa chấn khắp “lục địa già”. Niềm tin vào các thể chế đều có nguy cơ lụi tàn ở cả Á lẫn Âu và quan hệ giao thương giữa các nước có nguy cơ bị xói mòn, khi các nhà xuất khẩu rời bỏ các thị trường truyền thống. Sự lan rộng của chủ quyền quốc gia có thể là một hướng đi tích cực, nếu điều đó dẫn đến xu hướng mà kinh tế gia Larry Summers từ Đại học Harvard gọi là “chủ nghĩa dân tộc có trách nhiệm”. Các chính phủ khu vực đồng tiền chung Euro sẽ cần phục vụ công dân của họ hơn là các ý tưởng trừu tượng về châu Âu và trưởng thành với các nguyên tắc của hòm phiếu và thị trường. Không thể giải quyết những vấn đề mới bằng cách bám vào các phương pháp lỗi thời. Đó là chân lý trong kỷ nguyên tư duy đột phá. Tuy nhiên, từ thời “mưa Âu, gió Mỹ” này, mỗi khi nhớ về thế đứng chông chênh của cách mạng Việt Nam thuở còn trong trứng nước, chúng ta không thể không nhắc lại một tinh thần đầy minh triết, khi Nghị quyết của ĐCS Đông Dương lúc bấy giờ (2/1951) đã xác tín: ngoại giao của ta phải có tính dân tộc và dân chủ.
Ngày nay, muốn tôn vinh các giá trị dân tộc không thể thiếu môi trường dân chủ. Muốn mạnh bên trong không thể thiếu “đối tác chiến lược” với bên ngoài. Tương quan giữa hai hằng số P, tức xây dựng hệ thống “đối tác chiến lược” (Strategic Partnership)  với D, tức là tiến trình thúc đẩy “dân chủ hóa” trong nước (Democratisation) chưa bao giờ tương sinh tương khắc như thời điểm hiện nay. Ngoại giao và nội trị giờ đây là hai mặt của một đồng tiền, là các thành tố tích hợp trong một chiến lược phát triển tổng thể, theo mô thức P&DOWN[11]. Bài học quốc gia khởi nghiệp của Israel (start-up nation) là gì nếu không phải là hệ sinh thái khởi nghiệp chỉ có thể ươm tạo và nở rộ trong một môi trường dân chủ và tự do, theo Eryadi K. Masli, giảng viên tại Đại học Swinburne (Áo). Trước đây, thế giới không mấy chú ý đến thị trường khởi nghiệp tại Việt Nam, nhưng hiện tượng Flappy Bird[12] đang dần thay đổi quan điểm này. Con người Việt Nam thông minh, nếu có thể chế và môi trường pháp lý phù hợp thì dòng vốn của các quỹ đầu tư có thể giúp Việt Nam sớm trở thành điểm đến cho các công ty khởi nghiệp. Các nhà startup được ươm tạo, các khu công nghệ cao đã vài chục tuổi, quyết không thể là những cộng đồng sinh ra để “bú mớm”. Tất cả chỉ có thể lớn lên trên nền của môi trường tự do và sáng tạo trong lòng một quốc gia—dân tộc trưởng thành.
BOX-3: Quốc gia phải tự do, nghĩa là không bị trói buộc vào bất cứ lợi ích nhóm độc tôn hay ý thức hệ lỗi thời nào cả. Dân tộc phải trưởng thành, thể hiện ở khả năng hòa hợp và hòa giải thực sự. Có như thế mới hy vọng tiệm cận được các triết lý về phát triển, có thể tự trọng khi xây dựng quan hệ với thế giới bên ngoài, mới tự cường trong việc hàn gắn mọi vết nứt trong lòng quốc nội.
Một biểu hiện mới về sự trưởng thành của dân tộc là truyền thông “lề phải” năm nay dành được quyền công khai kỷ niệm cuộc chiến tranh biên giới tháng 2/1979 trên một số trang báo. Tuy nhiên, chủ trương đối với việc tưởng niệm các liệt sĩ đã ngã xuống vì Tổ quốc vẫn bất nhẫn, vẫn lặp đi lặp lại những sai lầm cũ. Sự xuất hiện một thương binh ngồi xe lăn từng chiến đấu trong cuộc chiến năm 1979 tại buổi lễ tưởng niệm hôm 17/2 dưới chân tượng đài Lý Thái Tổ, Hà Nội khiến cả cộng mạng đồng hết sức xúc động. Đúng là sòng phẳng với lịch sử không phải là nuôi dưỡng hận thù[13]. Muốn có hòa bình phải chuẩn bị cho chiến tranh[14]. Một giảng viên đại học Nhật Bản từng 15 lần bỏ tiền túi đi lại giữa Tokyo—Hà Nội—Lạng Sơn để phỏng vấn trực tiếp các nhân chứng sống còn sót lại từ cuộc chiến năm 1979. Sỡ dĩ anh đi liên tục trong vội vàng, vì theo anh, các nhân chứng sống ấy ngày càng ít đi. Anh lo với thời gian và cung cách ở Việt Nam hiện nay, mọi chuyện dễ rơi vào quên lãng. “Quên sự đóng góp của người dân, sau này động viên họ sẽ rất khó”[15].  Người viết bài này còn nhớ rõ nét mặt đau khổ của Tổng Biên tập “Tuần Việt Nam” trong một lần đặt bài để tưởng niệm cuộc chiến 17/2, nhưng ông nói có lệnh trên là không được nhắc lại việc “Trung Quốc trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược”. Vượt qua cái cái lệnh ngang xương như vậy, “Tuần Việt Nam” năm ấy vẫn dũng cảm đăng bài để nhớ về về cuộc chiến mà một số người đang muốn xóa đi khỏi ký ức của dân tộc[16]. Nhà xã hội học nổi tiếng, Giáo sư Zygmunt Baumaneorges có lần nói rằng, giả dối là nguyên tắc, sự thật là ngoại lệ[17]. Cuộc chiến mà Trung Quốc tiến hành chống Việt Nam từ ngày 17/2/1979 không phải là ngoại lệ của giả dối chính trị bởi chính nó được khoác chiêu bài “phản kích tự vệ” trong khi người Việt không hề xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc. Không khuyến khích thói dối trá, song không nên ngăn chặn để người dân biết nhận diện được sự giả dối, biết cảnh giác đề phòng những kẻ vốn có truyền thống lịch sử lâu đời về sự giả dối.


Trên con đường trở nên dân tộc trưởng thành, nhiều nước trong khu vực từng ngưỡng mộ Singapore như một quốc gia có quyết tâm vươn lên với ý chí tự chủ và tự cường. Hai chính sách căn bản của cố Thủ tướng Lý Quang Diệu từ giai đoạn lập quốc được cho là nền tảng đem lại chính sách đối ngoại độc lập. Thứ nhất,  không chọn tiếng Hoa mà chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ phổ biến. Thứ hai, thiết lập ngay từ đầu quan hệ ngoại giao với nước Mỹ (năm 1965), nhưng mãi gần ba thập kỷ sau, mới thiết lập bang giao với Trung Quốc (năm 1990). Singapore là một quốc đảo, 75% dân số là người gốc Hoa khi tách khỏi Malaysia. Nếu chọn tiếng Hoa làm ngôn ngữ phổ biến trong giao tiếp xã hội thì cũng là một sự hợp lý lúc bấy giờ. Nhưng ông Lý Quang Diệu đã chọn tiếng Anh, nên vị thế của cộng đồng người Hoa đối với Singapore không còn là nhân tố độc tôn nữa. Điều đó cho thấy quốc gia này kiên quyết lựa chọn hướng đi độc lập với Trung Quốc. Và bang giao với Mỹ là một trong những mối quan hệ quốc tế đầu tiên và quan trọng nhất của Singapore từ thời lập quốc đến nay. Một quốc gia, không kể lớn hay nhỏ, như Singapore hay Israel, được thế giới kính nể, coi là một dân tộc đã trưởng thành, nhờ những chủ trương thông minh trong những thời khắc quyết định của lịch sử.
*
Vẫn biết mọi lý thuyết dù hay mấy cũng chỉ là màu xám, vấn đề là cây đời[18]… Nhưng trên mỗi chặng đường phát triển, không thể không đi tìm kiếm hình hài của một triết lý tối ưu (dù vẫn có khía cạnh bất toàn) như cách thức để ứng phó linh hoạt trong thời buổi cả quốc tế lẫn quốc nội đều diễn ra những thay đổi đến chóng mặt. Triết lý—Quốc gia—Dân tộc đều có thể xem như ba đỉnh của tam giác, đồng cấu với tam giác Nhận thức—Tổ chức—Quan hệ. Một đất nước tầm trung như Việt Nam, cần vượt thoát càng sớm càng tốt khỏi ảnh hưởng các lợi ích nhóm nhiều lúc đội lốt ý thức hệ, lấy cảm hứng chủ yếu từ triết lý của thời đại, đặt lợi ích quốc gia—dân tộc lên trên mọi lợi ích đảng phái, tổ chức ươm mầm, vun đắp có chọn lọc các giá trị để cố kết toàn xã hội. Quốc gia phải tự do, nghĩa là không bị trói buộc vào bất cứ lợi ích nhóm độc tôn hay ý thức hệ lỗi thời nào cả. Dân tộc phải trưởng thành, thể hiện ở khả năng hòa hợp và hòa giải thực sự. Có như thế mới hy vọng tiệm cận được các triết lý về phát triển, có thể tự trọng khi xây dựng quan hệ với thế giới bên ngoài, mới tự cường trong việc hàn gắn mọi vết nứt trong lòng quốc nội. Bởi vì, nếu bên trong, “bầu bí” còn chưa thương nhau thì mọi cố gắng hội nhập sẽ gặp nhiều trở lực, có khi bị vô hiệu hóa hay bỏ nhỡ thời cơ. Nội trị và ngoại giao từ nay—xin được nhắc lại—là chiến lược tích hợp rất cần có sự đồng thuận của toàn dân tộc lẫn sự đồng điệu với các xu thế tiến bộ của thời đại./.



[1] Bản mới bổ sung gần đây nhất (Revised Edition) được tác giả gửi tới vinhnv43.blogspot.com; xin hân hạnh giới thiệu với bạn đọc. Trước đây, bản cũ từng được đăng tải tại “Văn Nghệ” (Cơ quan Ngôn luận của Hội Nhà văn Việt Nam) http://baovannghe.com.vn/dinh-dau-2017-triet-ly-quoc-gia-dan-toc-16103.html?vip=bvn, Tạp chí “Văn hóa Nghệ An” (Cơ quan của Sở Văn hóa và Thông tin Nghệ An) https://vanhoanghean.com.vn/van-hoa-va-doi-song27/cuoc-song-quanh-ta46/dinh-dau-2017-triet-ly-quoc-gia-dan-toc, Tạp chí “Thông tin và Phát triển” (Cơ quan của Bộ Khoa học & Công nghệ) và Tập san “Lý luận & Phát triển” (Diễn đàn của Viện các vấn đề Phát triển / VIDS).
[6] Trong Hội nghị Ngoại giao lần thứ 29 từ 22—26/8/2016 tại Hà Nội, Ngoại trưởng Phạm Bình Minh thừa nhận các điều kiện quốc tế của Việt Nam là khá nghiệt ngã: “Ở bên ngoài, môi trường chiến lược của nước ta đã và đang nổi lên nhiều thách thức chưa từng có, tác động trực tiếp đến các lợi ích an ninh và phát triển”. Mời xem tại: http://baovannghe.com.vn/tu-hoi-nghi-ngoai-giao-lan-thu-29-suy-nghi-ve-van-nuoc-hom-nay-851.html?vip=bvn
[11] P&DOWN là tổ hợp thống nhất năm biện pháp trong một mô thức tương sinh—tương khắc nhằm đạt tới “giải pháp cả gói” (package deal), bao gồm: 1) Bồi đắp hệ thống đối tác (Partnership) với các cường quốc bên ngoài, 2) Thúc đẩy tiến trình dân chủ hóa bên trong (Democratisation) để “tái cấu trúc” kinh tế và xã hội, 3)Tổ chức kết hợp cuộc chiến pháp lý (COC) với cuộc chiến truyền thông nhằm bảo vệ độc lập chủ quyền, 4) Tìm cách tiếp cận minh triết để “định chế hóa” mọi nỗ lực (Wisdom) và 5) Tận dụng tối đa mạng lưới tự do hóa thương mại khu vực lẫn toàn cầu (Networking) để ra với thế giới. Mời tham khảo: https://anhbasam.wordpress.com/2015/10/16/5472-thach-thuc-moi-o-ien-dong-qua-ky-hoi-thao/ hoặc: http://gabsdinhhuong.blogspot.com/ hoặc xem tại: http://vinhnv43.blogspot.com/2015/10/mot-cach-tiep-can-moi-ve-bien-ong-trong.html
[14] https://vi.wikipedia.org/wiki/Si_vis_pacem,_para_bellum “Nếu bạn muốn hòa bình, hãy chuẩn bị cho chiến tranh” là     một câu tục ngữ tiếng Latinh, có thể được viết vào khoảng chừng năm 390.
[18] “Mọi lý thuyết đều là màu xám, chỉ cây đời là mãi mãi xanh tươi” (Goethe).







Thứ Năm, 30 tháng 3, 2017

Một góc nhìn về mối quan hệ Việt - Mỹ qua Giáo dục

 Một góc nhìn về mối quan hệ Việt - Mỹ qua Giáo dục
(Bài viết mới về quan hệ Việt - Mỹ)

Vừa đây cây bút Nguyễn Quang Dy gửi cho blog tôi một bài mới mà ông nói là viết "về quan hệ Mỹ-Việt, bình luận về hợp tác giáo dục, nhân đọc bài diễn văn của chủ tịch Harvard". Tác giả gửi cho chủ blog cả bản tiếng Việt và bản tiếng Anh cốt để đăng cả 2, hầu giúp các bạn đọc có thêm văn bản ở 2 ngữ để đối chiếu, tham khảo.

Ngay sau đó ông gửi thêm lời nhắn rằng, "nếu như blog chưa đăng ngay được thì xin chuyển tiếp đây 'file mới' trong đó bổ xung và chỉnh sửa vài chỗ so với 'file cũ', những chi tiết này chắc bạn đọc làm công việc đối ngoại, ngoại giao sẽ quan tâm"...

Xin trân trọng giới thiệu bài viết mới nói trên của nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Dy.

Vệ Nhi

-----



Nghịch lý Quan hệ Việt-Mỹ: Di sản Chiến tranh hay Hậu Lịch sử


Nguyễn Quang Dy


“Chúng ta phải tìm cách làm thay đổi các định kiến, làm cho những gì quen thuộc trở thành xa lạ…làm cho giới trẻ lạc hướng và giúp họ tìm cách định hướng lại mình…” (Drew Gilpin Faust, Chủ tịch Harvard, Diễn văn Khai giảng năm 2009).
Khi Drew Gilpin Faust lên thay Larry Summers làm chủ tịch Harvard (năm 2007) vì phát ngôn của ông ấy bị coi là xúc phạm phụ nữ, nhiều người cho rằng sự thay đổi đó là vì lý do chính trị. Nhưng khi đọc bài diễn văn của bà Faust (năm 2009) tôi rất ấn tượng bởi quan điểm của bà ấy, phản ánh sự thay đổi to lớn trong tư duy giáo dục của Mỹ. 
Nay đọc xong bài diễn văn mới của bà Faust (Hệ quả: Chiến tranh, Ký ức và Lịch sử, Saigon, 23/3/2017), tôi cảm thấy hơi băn khoăn, không phải vì Stephen Bannon là sản phẩm của trường Kinh doanh Harvard. Lẽ ra tôi phải cảm thấy phấn khởi vì bà Faust là chủ tịch Harvard đầu tiên đến thăm Việt Nam nơi có trường Đại học Fulbright (FUV) cũng như FETP. Tuy đã có ba Tổng thống Mỹ đến thăm Việt Nam từ sau chiến tranh (Bill Clinton năm 2000, George Bush năm 2006, Barrack Obama tháng 5/2016), nhưng chưa có chủ tịch Harvard nào đến thăm Viêt Nam, tuy giáo dục là chìa khóa cho tương lai quan hệ Việt-Mỹ.  
Năm ngoái, khi tổng thống Obama đến thăm Viêt Nam và chính thức khai trương trường Đại học Fulbright, có Ngoại trưởng John Kerry tháp tùng, nhưng không có chủ tịch Harvard, tuy FUV cũng như FETP là dự án được đồng bảo trợ và quản trị bởi trường JFK của Harvard hơn hai chục năm qua. Dù sao thì muộn còn hơn không! Tuy bài diễn văn của chủ tịch Harvard đề cập đến mối liên quan giữa Viêt Nam và Mỹ (vì di sản chiến tranh), chuyến thăm Viêt Nam của bà là một phần của chuyến thăm khu vực, bao gồm tham dự sự kiện gây quỹ cho Harvard tại Singapore trước đó và chương trình thăm Hong Kong sau đó.   
Câu chuyện hợp tác đào tạo Viêt-Mỹ bắt đầu cách đây gần ba thập kỷ khi Tom Vallely sáng lập Vietnam Program (tại Harvard, 1989) và lập ra trường FETP (tại Saigon, 1994) như một chương trình hợp tác giữa trường JFK của Harvard và trường Đại học Kinh tế Saigon. Nay trường Đại học Fulbright Vietnam (FUV) sắp trở thành “trường Đại học tư thục phi lợi nhuận đầu tiên của Việt Nam” dựa trên các nguyên tắc “chịu trách nhiệm giải trình, dựa trên năng lực, minh bạch, tự quản, tôn trọng lẫn nhau và cởi mở về nghiên cứu”, được tài trợ bởi quỹ ủy thác “Trust for University Innovation Vietnam” (có trụ sở tại Massachusetts).
Nếu giáo dục thực sự là chìa khóa cho tương lai, thì FETP chính là tiền đề cho trường Đại học Fulbright Vietnam, với sự ủng hộ cao của ngoại trưởng John Kerry và tổng thống Barrack Obama. Tuy nhiên, những người ủng hộ FETP (và FUV) hiểu rõ khó khăn thế nào để duy trì hoạt động của dự án FETP trước những ý định muốn loại bỏ nó (vì lo ngại “âm mưu diễn biến hòa bình”). Trong khi Vietnam Program và FETP cuối cùng đạt được mục tiêu, thì VEF không thành công (nay phải chuyển quỹ cho FUV). Mục tiêu của VEF là bảo trợ cho một trung tâm khoa học hàng đầu tại Việt Nam (chứ không chỉ cấp học bổng).
Tuy Đại học Fulbright đã trở thành một biểu tượng, nhưng nó không phải là dự án giáo dục duy nhất. Qua nhiều năm, có nhiều dự án mới và ngày càng nhiều sinh viên Viêt Nam sang Mỹ du học, đóng góp cho nguồn nhân lực và sức mạnh mềm của Việtnam. Nhưng nhiều sinh viên sau đó không muốn trở về Viêt Nam, dẫn đến chảy máu chất xám.    
Chỉ từ tháng 7 đến tháng 11/2015, số sinh viên Viêt Nam tại Mỹ đã tăng lên 18,9%, chỉ sau India (20,7%) và China (19,4%), làm tổng số sinh viên Viêt Nam tại Mỹ tăng lên 28,883 người (năm 2016). Viêt Nam đứng thứ 6 trong số các nước có sinh viên đông nhất tại Mỹ, và Mỹ đã vượt qua Australia (có 28,524 sinh viên Viêt). Tuy sinh viên Việt đã có tại 50 bang của Mỹ, nhưng 10 bang có số sinh viên Việt đông nhất là California, Texas, Washington, Massachusetts, New York, Pennsylvania, Florida, Virginia, Illinois and Georgia. Số sinh viên Việt tại 10 bang này là 20,797, chiếm 72% tổng số sinh viên Việt tại Mỹ. 
Là một nhà sử học, bà chủ tịch Harvard đã dành nhiều thời gian nói về Nội chiến Mỹ trong mối liên quan đến Việt Nam và những bài học lịch sử. Bà đã đúng khi đề cập đến Viêt Nam như “Một đất nước, chứ không phải một cuộc chiến ” với “tất cả sự phức hợp, vẻ đẹp, lịch sử, sống động và đầy triển vọng”, trong khi thừa nhận Viêt Nam đã ấn định thảm kịch của thời đại đó, khi 3 triệu tấn bom đạn và 11 triệu thùng chất độc diệt cỏ đã được ném xuống đó, nơi 58,220 lính Mỹ, và 3 triệu người Việt, cả quân sự và dân sự, đã chết.  
Đến tận bây giờ, bóng ma Viêt Nam vẫn còn sống, đang ám ảnh cả người Mỹ và người Việt. Hơn bốn thập kỷ sau cuộc chiến tranh, di sản Viêt Nam vẫn hủy hoại sự nghiệp chính trị của những người như Bob Kerrey (là chủ tịch FUV), và làm cho hòa giải giữa người Việt với nhau còn khó hơn nhiều so với giữa Viêt Nam và Mỹ. Bà chủ tịch Harvard nói lịch sử “giúp chúng ta đối mặt với những bóng ma và quỷ sứ mà thảm kịch của quá khứ đã để lại di sản cho chúng ta đến tận bây giờ. Nó soi sáng sự mù quáng và tàn bạo đã tạo ra chiến tranh, và giúp chúng ta nỗ lực vì hòa bình”.  Trong cùng bài diễn văn đó, bà Faust nhận xét, “Cuối cùng, chúng ta quay lại với từ “Veritas” – là cam kết của Harvard sẽ sử dụng tri thức và nghiên cứu để nhìn thấu những ảo tưởng, sự lừa dối, định kiến , và lòng vị kỷ. Sự thật sẽ đến cùng với những khám khá khoa học không bị trói buộc bởi ý thức hệ và chính trị…”
Tôi tin sẽ có ý nghĩa hơn nếu bà chủ tịch Harvard dành nhiều thời gian hơn để nói về tương lai quan hệ giữa hai nước, nay đang đứng trước những thách thức không phải chỉ từ di sản của chiến tranh trong quá khứ (mà người ta đã quen) mà còn từ nghịch lý của “hậu Lịch sử” và Trumpism (mà nhiều người còn bị bất ngờ). Không ai biết rõ điều gì đang diễn ra trong Nhà Trắng lúc này, và những hệ quả không thể lường trước. Những cố gắng vận động Washington vào lúc này có thể là quá yếu, quá chậm vì thời cơ đã qua rồi.  
Tuy hai quốc gia cựu thù đã bình thường hóa quan hệ từ năm 1995, nhưng Mỹ mới hoàn tất quá trình đó năm ngoái khi tổng thống Obama bỏ cấm vận vũ khí và chính thức khai trương Đại học Fulbright. Đó là động tác tượng trưng ủng hộ Viêt Nam đang bị đè bởi cái bóng đen hiếu chiến của con rồng Trung Quốc, đang quyết thống trị Biển Đông. Nay không ai biết rõ làm thế nào để ngăn cản Trung Quốc biến vùng biển này thành cái ao của họ, trước định hướng chính sách thất thường của chính quyền Trump về Trung quốc và Đông Á.
Lịch sử đang lặp lại và thế giới “hậu Lịch sử” đang đổ vỡ, làm xổng những bóng ma của quá khứ từ các hầm mộ. Trong khi quan hệ chính trị giữa hai chính phủ có thể biến động khó lường, quan hệ văn hóa giáo dục giữa hai quốc gia thường bền vững sống lâu hơn các chính phủ đang cầm quyền, vượt qua ý thức hệ và trò chơi chính trị. Nhưng quy luật “hệ quả không định trước” sẽ phát huy tác dụng chỉ khi nào hai cựu thù của cuộc chiến sai lầm biết cách biến gánh nặng quá khứ thành lợi thế tương lai, cho một thế giới tốt đẹp hơn.

NQD. 28/3/2017

-----

 Bản tiếng Anh (do chính tác giả viết thẳng bằng Anh ngữ)


The Paradox of US-Vietnam Ties: War Legacy or Post-History


Nguyen Quang Dy

“We seek to unsettle presumptions, to defamiliarize the familiar… to disorient young people and to help them to find ways to reorient themselves…”  (Drew Gilpin Faust, president of Harvard, 2009 Commencement Speech).


When Drew Gilpin Faust replaced Larry Summers as the president of Harvard (in 2007) as some of his remarks were considered offensive to women, many people thought the change was for a political reason. But when I read her speech (in 2009) I was so impressed by her arguments indicating a major change in American thinking on education.  
Now having read Drew Gilpin Faust’s new speech (Aftermath: War, Memory and History, Saigon, March 23, 2017), I felt a bit unsettled, not because Stephen Bannon was a product of Harvard Business School. In fact, I should have felt upbeat as she was the first president of Harvard to visit this country where the Fulbright University Vietnam (FUV) as well as the FETP is located. While three US presidents visited Vietnam since the War (Bill Clinton in 2000, George Bush in 2006, Barrack Obama in May 2016), no Harvard president had done so, though education should be the key to future US-Vietnam relations.
Last year, when president Obama visited Vietnam and formally opened the Fulbright University Vietnam, he was accompanied by Secretary of State John Kerry, not by the Harvard president, though the FUV as well as the FETP is a project co-sponsored and run by Harvard JFK School for the last twenty years or so. Anyway, better late than never! Though the Harvard president’s speech touched on the connections between Vietnam and the US (war legacy), her visit to Vietnam was part of a regional trip including a Harvard Campaign fundraising event in Singapore earlier and her appointments in Hong Kong later.    
The saga of US-Vietnam education cooperation began nearly three decades ago when Tom Vallely founded Vietnam Program (at Harvard, 1989) and then established FETP (in Saigon, 1994) as a partnership program between Harvard Kennedy School and University of Economics in Saigon. Now, the Fulbright University Vietnam (FUV) is supposed to be the “first private, non-profit Vietnamese university” founded on the principles of “accountability, meritocracy, transparency, self-governance, mutual respect and open inquiry”, financed by the Trust Fund for University Innovation in Vietnam (based in Massachusetts).
If education is really the key to the future, the FETP stands out as the genesis for the Fulbright University concept, given high-profile support from Secretary of State John Kerry and President Barrack Obama. However, supporters of the FETP (and FUV) know how difficult it was to keep this academic project alive against attempts to shoot it down (for fear of “peaceful evolution” hoax). While Vietnam Program (and FETP) eventually achieved its goal, the VEF program did not (and finally had to transfer its fund to FUV). The VEF was supposed to sponsor a science center of excellence in Vietnam (not just giving out scholarships).
Fulbright University Vietnam has become a symbol, but it is not the only educational project. Over the years, new projects and more Vietnamese students have come to the US for education, building human capital and soft power for Vietnam’s future. But so many of them would not come back to Vietnam, leading to a growing brain drain. 
Between July and November 2015, the number of Vietnamese students in the US increased by 18.9%, after India (20.7%) and China (19.4%), raising the total number of Vietnamese students in the US to 28.883 (by 2016). Vietnam ranked 6th among countries having the largest numbers of students there, and the US has bypassed Australia (having 28.524 Vietnamese students). While Vietnamese students are found in all 50 states in the US, the top 10 states having the largest numbers are California, Texas, Washington, Massachusetts, New York, Pennsylvania, Florida, Virginia, Illinois and Georgia. The number of Vietnamese students in these 10 states was 20.797, or 72% of the total number in the US. 
As a historian, president Faust spent a lot of time talking about the American Civil War in connection with Vietnam and history lessons. She was right when referring to Vietnam as “A Country, Not a War” with “all its complexity, its beauty, its history, its vibrancy, and its promise”, while recognizing that Vietnam defines the trauma of that era, when 3 million tons of bombs and 11 million gallons of toxic defoliants were dropped, and 58.220 American troops and 3 million Vietnamese soldiers and civilians died.
Even now, the ghosts of Vietnam are still alive, haunting Americans and Vietnamese alike. Over four decades after the War, the legacy of Vietnam still ruined the political life of people like Bob Kerrey (as Chairman of FUV), and makes reconciliation among the Vietnamese even more difficult than between Vietnam and the US. President Faust said history “helps us confront the ghosts and demons that the tragedies of the past leave as legacy to the present. It illuminates the blindness and cruelty that enable war, and equips us to strive for peace”.  In the same speech, she noted, “So in the end, it comes back to “Veritas” - the commitment to use knowledge and research to penetrate delusion, cant, prejudice, self-interest. That truth may come in the form of scientific insights freed from ideology and politics…”
I believe it would make more sense if she spent a bit more time talking about the future of relations between the two nations, now facing new challenges, not only from the legacy of the past War (that people are familiar with) but also from the paradox of “post-History” and Trumpism (that most people are caught off guard). Nobody knows for sure what is going on in the White House right now and unintended consequences. New efforts to lobby Washington right now may be too little too late as the chances have gone.  
While the former foes have normalized relations since 1995, they accomplished this process only last year when president Obama lifted the arms embargo and formally opened the Fulbright University. It was a symbolic gesture to support Vietnam now coming under the long shadow of the aggressive China dragon poised to rule the South China Sea. Now, nobody knows for sure how to prevent China from turning this sea into its own lake, given the unpredictable policy orientation by the Trump Administration on China and East Asia.   
It looks like history is repeating itself as the “post-History” world is breaking up, releasing the ghosts from their graveyards. While political relations between two governments may fluctuate beyond expectations, educational and cultural ties between two nations are expected to sustain changes and outlive sitting governments beyond ideology and politics. However, the law of “unintended consequences” would work only if the former foes of a wrong War knew how to turn liabilities of the past into assets of the future, for a better world. 
NQD. March 28, 2017

-----

 Đọc tham khảo:

Đại học Fulbright Việt Nam giảng dạy ngành gì?



Đại học Fulbright Việt Nam giảng dạy ngành gì, nếu trước đây, môi trường học tập ở Harvard vẫn còn là “giấc mơ xa xôi” của rất nhiều sinh viên Việt Nam, thì nay giấc mơ ấy đã đến gần hơn khi Đại học Harvard đã lên kế hoạch xây dựng trường đại học đầu tiên của mình tại đất nước hình chữ S mang tên  Fulbright. Hiện tại trường Đại học  Fulbright đã mở ra các ngành đạo tạo để sinh viên có thể lựa chọn.

Đại học Fulbright Việt Nam giảng dạy ngành gì

Theo giấy chứng nhận đầu tư, Trường Đại học Fulbright Việt Nam đặt trụ sở chính tại Khu công nghệ cao TP.HCM với diện tích đất là 15 héc-ta.
Đại học Fulbright Việt Nam được xây dựng với mô hình là một cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì lợi nhuận.


Đại học Fulbright Việt Nam tuyển sinh khi nào (22)

Lễ kỷ niệm 20 năm thành lập

Trường được xây dựng trên cơ sở phát huy nguồn vốn và con người của Trường Fulbright. Vốn đầu tư thực hiện dự án Trường Đại học Fulbright Việt Nam là 70 triệu đô la Mỹ. Trong đó, mức đầu tư giai đoạn đầu (đến năm 2016) là 5,3 triệu đô la Mỹ, giai đoạn hai (2017 – 2020) là 20 triệu đô la Mỹ, và giai đoạn ba (2020 – 2030) là 44,7 triệu đô la Mỹ.
Trường ĐH Fulbright là một cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài không vì lợi nhuận. FUV do Quỹ tín thác sáng kiến ĐH Việt Nam (TUIV) đầu tư tại TP.HCM.
Tài chính của quỹ dựa vào học phí, đóng góp thiện nguyện, các khoản tài trợ và nguồn thu từ quỹ trường. Do đó về quản trị, trường sẽ không có cổ đông như các trường tư thục khác mà do một hội đồng tín thác độc lập quản lý, hội đồng này sẽ thuê hiệu trưởng điều hành trường.


Đại học Fulbright Việt Nam tuyển sinh khi nào (21)

Đại học Fulbright Việt Nam giảng dạy ngành gì. Lễ trao giấy chứng nhận xây dựng dự án 

 
Trường tuân thủ những nguyên tắc quản trị thiết yếu của nền giáo dục ưu tú. Đó là tự do hàn lâm, đánh giá và tuyển dụng dựa trên năng lực, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
FUV cũng sẽ đăng ký kiểm định chất lượng từ các tổ chức kiểm định chất lượng của Hoa Kỳ.


Đại học Fulbright Việt Nam tuyển sinh khi nào (2)

Đại học Fulbright Việt Nam giảng dạy ngành gì. Lễ trao bằng tốt nghiệp

Ngoài ra, trường chú trọng vào việc tuyển dụng các học giả tài năng và các nhà khoa học người Việt Nam thông qua thiết lập môi trường làm việc chuyên nghiệp và cơ chế khuyến khích tương tự như những đại học hàng đầu ở nước ngoài.

Đại học Fulbright Việt Nam đào tạo những ngành nào?

Nhiều ngành học ở 3 cơ sở đào tạo
Theo công bố của dự án ĐH Fulbright VN (FUV), 5 năm đầu tiên trường sẽ tập trung xây dựng 3 cơ sở đào tạo tích hợp: Trường Chính sách công và quản lý Fulbright (đào tạo sau ĐH trong lĩnh vực chính sách công, luật kinh doanh quốc tế, tài chính và quản trị kinh doanh, nghiên cứu và đối thoại chính sách); Trường Công nghệ và khoa học ứng dụng Fulbright (cung cấp các chương trình đào tạo cử nhân và sau ĐH trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, cơ khí, toán ứng dụng và y khoa); Fulbright College (cung cấp các chương trình đào tạo cử nhân trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn).
Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiên cứu Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, cho biết FUV cũng muốn đào tạo các ngành khoa học liên ngành, trong đó có khoa học môi trường, biến đổi khí hậu... Ngoài một số ngành là thế mạnh, trường sẽ chú trọng vào việc đào tạo những ngành học có thể tạo nền tảng cho việc phát triển bền vững tại VN.


Đại học Fulbright Việt Nam giảng dạy ngành gì

Đại học Fulbright Việt Nam giảng dạy ngành gì. Trong chương trình đào tạo này, trường vẫn có chính sách ưu tiên ứng viên từ vùng sâu vùng xa, phụ nữ, người có điều kiện bất lợi

Theo đó, sớm nhất là cuối năm 2016 trường này sẽ tuyển sinh. Đối với Chương trình thạc sĩ chính sách công, hồ sơ dự tuyển sẽ vẫn như từ trước đến nay, gồm: đơn dự tuyển, bài luận, bản sao bằng và bảng điểm ĐH. Trong chương trình đào tạo này, trường vẫn có chính sách ưu tiên ứng viên từ vùng sâu vùng xa, phụ nữ, người có điều kiện bất lợi. Sau đó, trường tổ chức thi tuyển tương tự các kỳ thi chuẩn hóa của Mỹ: tiếng Anh, kỹ năng phân tích và toán. Việc xét tuyển dựa vào tổng hợp các tiêu chí, trong đó có điểm thi, bài luận, học lực bậc ĐH và kinh nghiệm công tác. Mặc dù mỗi ngành đào tạo sẽ có các tiêu chí ưu tiên khác nhau, việc tuyển sinh của FUV sẽ dựa trên việc đánh giá một cách toàn diện như các trường ĐH ở Mỹ chứ không chỉ dựa vào điểm thi.
Theo thạc sĩ Hoàng Ngọc Lan, cán bộ quản lý đào tạo Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, năm 2016 khi FUV chính thức tuyển sinh thì thỏa thuận hợp tác trong Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright giữa Trường ĐH Kinh tế TP.HCM với Trường Quản lý nhà nước Harvard Kennedy sẽ hết thời hạn. Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright sẽ trở thành Trường Chính sách công và quản lý Fulbright trực thuộc FUV, với đối tác học thuật vẫn là Trường Harvard Kennedy.


Đại học Fulbright Việt Nam giảng dạy ngành gì
Đại học Fulbright Việt Nam giảng dạy ngành gì. Sẽ có một chương trình hỗ trợ tài chính đối với người học có khả năng nhưng ít có điều kiện về tài chính
Theo bà Lan, với Chương trình Chính sách công, sinh viên vẫn sẽ nhận được học bổng toàn phần như tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright. Chương trình MBA có học phí cao hơn so với các trường tư thục hiện nay tại VN. Cũng sẽ có một chương trình hỗ trợ tài chính đối với người học có khả năng nhưng ít có điều kiện về tài chính (cấp học bổng) như cách làm của các trường ĐH phi lợi nhuận khác trên thế giới.

Hoạt động không vì lợi nhuận

Theo giấy chứng nhận đầu tư, trụ sở chính của trường đặt tại Khu công nghệ cao TP.HCM với diện tích 15 ha. FUV được xây dựng với mô hình là một cơ sở giáo dục ĐH có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì lợi nhuận. Vốn đầu tư thực hiện dự án là 70 triệu USD. Trong đó, mức đầu tư giai đoạn đầu (đến năm 2016) là 5,3 triệu USD, giai đoạn 2 (2017 - 2020) 20 triệu USD, giai đoạn 3 (2020 - 2030) là 44,7 triệu USD.


Đại học Fulbright Việt Nam giảng dạy ngành gì

Điểm khác biệt so với các trường VN mà FUV xác định trong cơ chế hoạt động của mình là mô hình quản trị và tài chính. Cụ thể, về quản trị, mặc dù trường do Quỹ tín thác sáng kiến ĐH VN (TUIV) đăng ký thành lập nhưng quỹ này là một tổ chức phi lợi nhuận và do đó trường sẽ không có cổ đông chi phối như các trường tư thục ở VN. Quỹ này cũng là đơn vị huy động vốn đầu tư dự án FUV. Tài chính được huy động từ 3 nguồn: tài trợ ổn định hằng năm của chính phủ Mỹ; tiền thiện nguyện, tài trợ của các tổ chức, cá nhân tại nước Mỹ; nguồn tài trợ của doanh nghiệp, cá nhân tại VN.
Trường do một hội đồng tín thác (Board of Trustees) độc lập quản lý. Hội đồng này sẽ thuê hiệu trưởng để điều hành trường. Về nguyên tắc, trường là của xã hội, của cộng đồng. Mọi giá trị thặng dư tạo ra sẽ được dùng để quay ngược trở lại đầu tư cho trường.
Cơ hội cho sinh viên nước nhà
Ông Daniel B. Harsha – phát ngôn viên của trung tâm Ash – cho biết, mặc dù không nắm quyền quản lý trực tiếp, Đại học Harvard vẫn sẽ tham gia vào công tác giảng dạy và nghiên cứu tại đây. Cũng theo Ông Harsha, Harvard mong muốn phát triển ngôi trường công lập này thành một trường độc lập, qua đó mở ra cơ hội học tập tại Việt Nam và thu hút nhiều sinh viên trong bối cảnh môi trường đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ta còn bị hạn chế bởi khả năng tài chính của những trường tư nhân cũng như khả năng nghiên cứu của những trường công lập.
Dưới góc nhìn chính trị, sự hợp tác này mở ra những bước phát triển mới trong quan hệ ngoại giao giữa Mĩ và Việt Nam. Theo ông John F. Kerry – ngoại trưởng Mĩ – phát biểu trong một hoạt động chào mừng sự kiện này tại Hà Nội, với khả năng của mình, Harvard sẽ giúp nâng giáo dục Việt Nam lên một tầm cao mới. Nắm bắt cơ hội này, chính phủ Việt Nam đã đồng ý thành lập trường và đang tiến hành gây quỹ tài trợ với mục tiêu trong 5 năm tới là huy động được 100 triệu USD và tuyển sinh được 2000 sinh viên. Tính đến nay, số tiền tài trợ đã đạt con số 40 triệu USD.
Chương trình đào tạo cử nhân được triển khai ở hai trường thành viên FUV là Trường Kỹ thuật và khoa học ứng dụng Fulbright và ĐH Fulbright từ năm 2007.


Đại học Fulbright Việt Nam tuyển sinh khi nào (12)

Đại học Fulbright Việt Nam giảng dạy ngành gì. Đại học Harvard

Trong đó, Trường Kỹ thuật và khoa học ứng dụng Fulbright sẽ cung cấp các chương trình đào tạo cử nhân và thạc sĩ trong lĩnh vực kỹ thuật, khoa học ứng dụng, toán học và khoa học máy tính. Trường ĐH Fulbright sẽ cung cấp các chương trình đào tạo cử nhân trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.
Chương trình đào tạo cử nhân được thiết kế thời gian đào tạo chuẩn là bốn năm. Từ năm đầu, bên cạnh những môn học bắt buộc đối với từng ngành đào tạo, SV có thể đăng ký môn học không giới hạn. Hai trường này sẽ đi vào hoạt động, tuyển sinh cùng lúc để SV có cơ hội lựa chọn lần hai sau khi đã vào học, chuyển ngành đào tạo hoặc học thêm song song một ngành đào tạo nữa. Không nên để sự lựa chọn ban đầu của tuổi 18 bị bó buộc trong một khuôn khổ cứng nhắc.


Đại học Fulbright Việt Nam tuyển sinh khi nào (11)

Đại học Fulbright Việt Nam giảng dạy ngành gì. Một góc Đại học Harvard

Về quy mô tuyển sinh cử nhân, chúng tôi chưa có con số cụ thể, nhưng điều kiện xét tuyển sẽ là điểm trung bình các môn học (GPA) và quan trọng nhất là vòng phỏng vấn. Chúng tôi không chỉ nhìn vào kết quả học tập mà sẽ xem xét đánh giá năng lực cá nhân, hoạt động xã hội, năng khiếu, sở thích…
Đó sẽ là một phương thức tuyển sinh “mở”, tạo điều kiện cho SV được thể hiện hết khả năng của bản thân, hướng tới đào tạo những cá nhân để SV phát triển hết năng lực bản thân.

FUV sẽ có đội ngũ giảng viên viên nước ngoài và cả người Việt Nam đang giảng dạy các trường Đại học Mỹ

Ngôn ngữ giảng dạy tại FUV sẽ là tiếng Anh. Điều này hoàn toàn có thể thực hiện được với đội ngũ giảng viên gồm các giảng viên nước ngoài và người VN đang giảng dạy ở các trường ĐH Mỹ – những người đồng nhất về bằng cấp và năng lực chuyên môn với giảng viên người nước ngoài. 

Để đảm bảo chất lượng đào tạo, các giảng viên cần làm việc dài hạn ở VN đủ để gắn kết với SV. Các giảng viên, giáo sư ở nước ngoài có thể giảng dạy ở FUV dưới hình thức tham gia chương trình giảng dạy ở nước ngoài theo cách mà chương trình Fulbright đã thực hiện với thời gian 1-2 năm.
" Chúng tôi quan tâm đến kiến thức, khả năng của SV đầu vào hơn là trình độ tiếng Anh. Chúng tôi lường trước được thách thức về khả năng tiếng Anh của SV và sẽ giải quyết bằng các chương trình đào tạo tiếng Anh đầu vào ba tháng hoặc sáu tháng" bà Đàm Bích Thủy - Chủ tịch Fulbright Việt Nam cho biết:


Đại học Fulbright Việt Nam tuyển sinh khi nào (18)

Đại học Fulbright Việt Nam giảng dạy ngành gì. Bà Đàm Bích Thủy- Chủ tịch Fulbright Việt Nam

Tuy nhiên, cách nâng cao trình độ tiếng Anh đầu vào cho SV sẽ khác: thay vì chỉ dạy tiếng Anh, chúng tôi sẽ đào tạo tiếng Anh thông qua giảng dạy kiến thức môn học, truyền đạt kiến thức cho SV bằng tiếng Anh từ dễ đến khó, từ đơn giản đến hoàn thiện khả năng ngôn ngữ mang tính hàn lâm. Với phương pháp đó, những SV đã có sẵn năng lực, tư chất và tinh thần học tập của chúng tôi sẽ nhanh chóng hoàn thiện được trình độ tiếng Anh để theo học.

Cam kết đảm bảo các SV tài năng sẽ được tiếp cận chương trình đào tạo của trường với mức chi phí hợp lý, bất kể họ xuất thân từ hoàn cảnh kinh tế – xã hội. Cùng với quỹ học bổng

Quỹ học bổng, khả năng hỗ trợ tài chính cho người học của trường sẽ phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn đóng góp, tài trợ, hỗ trợ… Trong thời gian đầu, trường sẽ chưa thể có chương trình hỗ trợ tài chính mạnh như các trường ĐH lớn của Mỹ.


Đại học Fulbright Việt Nam tuyển sinh khi nào (18)
Đại học Fulbright Việt Nam giảng dạy ngành gì. Đại học Harvard
Nhưng một trong những nguyên tắc đã được xác lập là “Quyền tiếp cận rộng mở, chi phí hợp lý và sự đa dạng”. FUV cũng đặt trọng tâm vào nỗ lực trao quyền cho phụ nữ và thành viên các cộng đồng chịu nhiều thiệt thòi.
Cơ cấu SV của chúng tôi sẽ phản ánh sự đa dạng của xã hội VN. Vì thế FUV xác định để thu hút SV các tỉnh vùng sâu vùng xa, nhất là cho những ngành khoa học, kỹ thuật, thì trường phải có chương trình hỗ trợ tài chính cho SV có hoàn cảnh khó khăn, những SV mà gia đình không thể chi trả mức học phí cao hơn trường công.
Hỗ trợ tài chính sẽ xét tương tự như các trường ĐH ở Mỹ dựa trên hoàn cảnh gia đình và năng lực cá nhân, mục tiêu, kế hoạch học tập của SV. Bên cạnh đó, cũng sẽ có chương trình học bổng dành cho các SV xuất sắc, tài năng. Quỹ tài trợ cho nhà trường sẽ không khó vì các doanh nghiệp lớn hoạt động ở VN luôn mong muốn có nguồn chất lượng cao để tuyển dụng.


Đại học Fulbright Việt Nam tuyển sinh khi nào (10)
Đại học Fulbright Việt Nam giảng dạy ngành gì. Đại học Harvard
Nếu làm cho họ tin tưởng vào chất lượng đào tạo và sản phẩm của trường, họ sẽ là những nhà tài trợ cho trường. Phía Mỹ cũng đã đề nghị Chính phủ VN xem xét có chương trình học bổng cho SV VN vào học tại FUV.

Môi trường giáo dục ĐH mở

FUV hoạt động và phát triển trên hai nguyên tắc cơ bản: Một là nguyên tắc ĐH phi lợi nhuận, tiếp tục duy trì nguồn đầu tư, đóng góp vào trường là vĩnh viễn, đa dạng nguồn ủng hộ để tạo nguồn học bổng cho những SV xuất sắc và hỗ trợ tài chính cho SV đủ điều kiện theo học nhưng không đủ khả năng chi trả. Hai là theo phương thức đào tạo của Mỹ.


Đại học Fulbright Việt Nam giảng dạy ngành gì

Đại học Fulbright Việt Nam giảng dạy ngành gì. Những SV tốt nghiệp có thể làm công việc đa dạng, cơ hội nghề nghiệp luôn mở rộng, không bị ràng buộc bởi ngành học – đó là điều FUV muốn thực hiện.

Cho đến nay, đây vẫn là phương thức đào tạo hấp dẫn nhất đối với đào tạo cử nhân. Bước vào ngưỡng cửa ĐH ở tuổi 18, SV đã phải lựa chọn ngành học và nghề nghiệp. Sự lựa chọn lúc 18 tuổi cho cả cuộc đời? Phương thức đào tạo kiểu Mỹ chính là cho phép người học được học cái mà vào thời điểm đó mình thích nhưng sau này thay đổi thì vẫn có cơ hội. Những SV tốt nghiệp có thể làm công việc đa dạng, cơ hội nghề nghiệp luôn mở rộng, không bị ràng buộc bởi ngành học – đó là điều FUV muốn thực hiện.

Theo MANGTINMOI.COM

Nguồn:  http://www.mangtinmoi.com/dai-hoc-fulbright-viet-nam-giang-day-nganh-gi-d63245.html

VỀ HỘI LÀNG   8 tháng 3 Âm lịch hằng năm là ngày Hội làng truyền thống quê tôi. Năm nay ngày hội rơi vào 2 ngày Nhà nước quy định Quốc tang ...