Thứ Ba, 14 tháng 6, 2016

Tâm trạng một dân tộc & dấu hiệu một cơn bão tố

Trưa nay, 14/6 (10/5 ÂL) là ngày Giỗ đầu của Nhà ngoại giao Trần Quang Cơ. Anh em chúng tôi được bác Trần Thị Vượng, vợ bác Cơ, mời đến dự đã gọi nhau cùng đến thắp hương tưởng nhớ bác Trần Quang Cơ, một nhà ngoại giao lớn - nhân cách lớn.

Ngay cuối giờ chiều, người bạn viết trong nhóm là anh Nguyễn Quang Dy đã gửi cho blog tôi bài viết dưới đây; và anh nói trong điện thoại là tôi nên đưa ngay lên blog vào hôm nay thì điều đó càng ý nghĩa - như một nén hương thắp lên nhớ Anh Cơ (lứa làm công tác ngoại giao chúng tôi vẫn gọi khi xưng hô thân tình với bác Trần Quang Cơ như vậy).


Xin trân trọng giới thiệu với bà con trên mạng và bạn bè đọc blog.

Vệ Nhi   

----

“Bài này tôi viết để viếng vong linh anh Trần Quang Cơ nhân ngày giỗ đầu như một nén tâm hương tưởng nhớ một đồng nghiệp và bậc đàn anh đáng kính có khí phách kiên cường và nhân cách chính trực hiếm người có được”.





Tâm trạng một dân tộc & dấu hiệu một cơn bão tố

“Cuộc sống bắt đầu khi nỗi sợ kết thúc - Life begins where fear ends” (Osho)

Tác giả: Nguyễn Quang Dy

Gần đây ngày càng có nhiều dấu hiệu bất thường về tâm trạng của cộng đồng dân tộc. Nó giống như những dấu hiệu của một cơn bão tố hay sóng thần. Nếu đúng vậy, thì đây là một vấn đề lớn chứ không nhỏ. Phủ nhận hay bưng bít thông tin về một cơn bão tố hay sóng thần là dại dột như tự sát tập thể. Không phải chỉ các chính khách hay thương gia mà cả các nhà tâm lý xã hội học cũng cần quan tâm, vì hệ quả khôn lường của nó. Người ta có thể tháo ngòi một quả bom nổ chậm chứ không thể tháo ngòi một cơn bão tố hay sóng thần. Đài Khí tượng Thủy văn (như Ban Tuyên giáo) chỉ có thể dự báo hay cảnh báo, chứ không thể ngăn chặn hay đối phó được với thảm họa môi trường hay khủng hoảng xã hội.
Hãy thử điểm lại vài dấu hiệu điển hình gần đây.  



                               Bàn thờ ngày giỗ đầu Nhà ngoại giao Trần Quang Cơ  (ảnh: Hiệu Minh)

Từ đám cháy Bình Dương và Vũng Áng

Chắc nhiều người chưa quên khi Trung Quốc đem dàn khoan khổng lồ HD 981 vào hải phận Việt Nam tại Biển Đông (5/2014), đã tạo ra phản ứng dây chuyền, làm toàn dân phẫn nộ. Sự kiện đó không chỉ là bước ngoặt mới trong quan hệ Việt-Trung mà còn thúc đẩy xu hướng “thoát Trung” trong tâm thức người Việt. Tuy kinh nghiệm lịch sử đã chứng minh, thân Tàu quá hay chống Tàu quá đều nguy hiểm, nhưng xu hướng cực đoan khó tránh khỏi. Chỉ cần một số kẻ xấu giấu mặt xúi dục là có thể biến cả khu công nghiệp Bình Dương hay Vũng Áng thành biển lửa chống Tàu (và Đài Loan). Tại sao lại như vậy?

Có nhiều nguyên nhân, nhưng nói một cách dễ hiểu, tâm trạng dân chúng như đám cỏ khô. Đối với hàng vạn công nhân làm việc trong các doanh nghiệp nước ngoài thì chống Tàu đổng nghĩa với chống giới chủ, vì họ bị bóc lột và đối xử bất công, nhưng không được bênh vực. Tâm trạng đó của dân chúng không phải chỉ có ở Việt Nam mà có ở khắp nơi. Nhưng đám cỏ khô ở Việt Nam dễ cháy hơn vì vai trò công đoàn mờ nhạt. Vì vậy, khi tham gia TPP chính phủ Việt Nam phải chấp nhận vai trò công đoàn độc lập như một cơ chế mới.

Đến biểu tình “cá cần biển sạch, dân cần minh bạch”

Có thể nói sự kiện lớn thứ hai sau vụ dàn khoan HD 981 là sự kiện cá chết hàng loạt tại bờ biển mấy tỉnh miền Trung, không chỉ đánh dấu một thảm họa môi trường mà còn là một bước ngoặt mới về tâm thức chống Tàu (hay Formosa) và bất bình với cách ứng xử loanh quanh khó hiểu của chính quyền. Tuy phản ứng lần này của dân chúng ôn hòa hơn nhưng lại bị đàn áp bạo lực hơn. Đây là một chuyển biến đáng lưu ý trong diễn biến chính trị tại Việt Nam, cần được nghiên cứu và lý giải nghiêm túc. Thái độ phản ứng của dân chúng đối với thảm họa môi trường làm cá chết gắn liền với thái độ độc đoán của chính quyền đối với quyền ứng cử và bầu cử của người dân. Hai vấn đề tưởng khác nhau, nhưng có cùng một mẫu số chung.       

Thực ra, thái độ phản ứng của dân chúng hiện nay là muốn tham gia (xây dựng) chứ không muốn chống đối (phá hoại). Họ bất bình chẳng qua vì cuộc sống và môi trường sống bị đe dọa, trong khi chính quyền đáp ứng quá chậm và quá ít (too little too late), thậm chí bị nghi ngờ là bao che cho nghi phạm (Formosa). Tuy xu hướng giảm cực đoan trong phản ứng của dân chúng là một dấu hiệu đáng mừng (như đang trưởng thành), nhưng xu hướng gia tăng bạo lực đàn áp của chính quyền là một dấu hiệu đáng lo (như đổ thêm dầu vào lửa). Hành động bưng bít thông tin, trì hoãn kết luận, tăng cường đàn áp bằng bạo lực, từ chối quốc tế (Mỹ) giúp đỡ, làm cho chính quyền ngày càng bị cô lập và mất lòng dân. Nếu không kịp thời tháo gỡ tình trạng bế tắc đó (như “standoff”) thì một cơn bão tố hay sóng thần có thể ập tới.   

Hiện tượng Tạ Bích Loan và Tôn Nữ thị Ninh

Tại sao MC Tạ Bích Loan lại bị “ném đá” như vây? Đây không chỉ đơn giản là “tại nạn nghề nghiệp” vì người làm chương trình chủ quan không chuẩn bị kỹ hay kinh nghiệm truyền thông còn non kém, mà chủ yếu là do thái độ (vô ý hay chủ ý) như châm lửa vào một đám cỏ khô chứa chất tâm trạng bức xúc như bột lưu huỳnh. Format chương trình “60 phút mở” không tồi (bắt chước “60 Minutes” của CBS News), nhưng thái độ của MC Tạ Bích Loan và người phụ họa đã biến nó thành một chương trình “60 phút đóng” (như “đấu tố” MC Phan Anh) làm công chúng bất bình. Với tâm trạng bức xúc, công chúng sẵn sàng “ném đá” bất cứ ai hoặc cái gì làm cho họ cảm thấy bị coi thường hay xúc phạm, như một dám cỏ khô dễ cháy.

Tiếp theo Tạ Bích Loan là Tôn Nữ Thị Ninh. Cả hai đều là “người của công chúng” (celebrity) nên khi làm công chúng thất vọng, họ càng dễ bị “ném đá”. Có lẽ vấn đề của hai vị này không phải là trình độ mà là thái độ: Không nên coi thường công chúng! Cần lưu ý dư luận phản ứng hai bài của bà Ninh không phải là công chúng bình dân, mà hầu hết là trí thức (cả hai phía). Thái độ phản ứng của họ khác với phản ứng của dân chúng đã từng đốt các doanh nghiệp Trung Quốc (hay Đài Loan) tại Bình Dương và Vũng Áng trước đây. Với tâm trạng đầy bức xúc, người ta có thể biến “Tôn Nữ” thành “Thị Ninh” (như một “coup de grace”)…

Và những chuyện lạ khác…

Không biết do bức xúc hay vì lý do gì khác mà nhân “ngày báo chí cách mạng Việt Nam”, tổng biên tập báo Petro Times đã đăng một bài với cái tít gây sốc, “Nghề phóng viên là phải như con chó ấy” (Nguyễn Như Phong, Petro Times, 10/6/2016). Ông Phong kết luận, “chó muốn giỏi thì cũng phải nuôi dạy và phóng viên muốn giỏi thì ngoài năng khiếu trời cho, cũng phải được dạy dỗ, rèn luyện tử tế. Và chó khôn nhờ chủ, muốn có phóng viên giỏi cũng phải nhờ chủ”.  Không biết đọc xong bài này có bao nhiêu phóng viên muốn trả thẻ nhà báo?

Trong chương trình truyền hình trực tiếp của VTV2 (tối 11/6/2016) về lễ trao giải cuộc thi “những tấm gương bình dị mà cao quý” của báo Quân đội Nhân dân, người ta thấy xuất hiện trên nền phông sân khấu bức tranh cổ động “học tập trước tác Mao Trạch Đông”. Tuy chưa biết sự cố này là do vô ý hay cố ý, nhưng nó lập tức lan truyền trên mạng và gây phản ứng mạnh, do tâm trạng bức xúc của công chúng, như đám cỏ khô dễ bắt lửa. 

Cùng ngày 11/6/2016, báo chí “lề phải” và “lề trái” đồng loạt đưa tin “TBT Nguyễn Phú Trọng đã giao Ủy ban Kiểm tra TƯ chủ trì, phối hợp với Ban Nội chính TƯ, Ban Tổ chức TƯ, Bộ Công an, Ban Cán sự Đảng bộ Công thương, bộ Tài chính, Kiểm toán Nhà nước, Ban Thi đua Khen thưởng TƯ, tỉnh ủy Hậu Giang và Tập đoàn Dầu khí VN khẩn trương kiểm tra, xem xét, kết luận những nội dung mà báo chí đã nêu đối với ông Trịnh Xuân Thanh, Phó chủ tịch Hậu Giang”… Những nội dung TBT yêu cầu kiểm tra không chỉ là việc ông Thanh đi xe Lexus cá nhân biển trắng đổi thành biển xanh mà còn là quá trình bổ nhiệm ông Thanh… Sau Đại hội Đảng, phải chăng đây là phát súng khởi đầu cho chiến dịch “đả hổ diệt ruồi” kiểu Việt Nam, mà điểm dừng hay hệ quả của nó chưa biết trước sẽ ra sao. 
  
Hệ quả không định trước

Một điều nữa cần lưu ý là các cuộc biểu tình tại Hà Nội và Sài Gòn gần đây cho thấy tầng lớp trung lưu và trí thức (gồm cả quan chức) không còn ngồi yên hay đứng ngoài cuộc, mà đã bắt đầu tham gia và xuống đường. Có lẽ vấn đề bảo vệ môi trường và quyền bầu cử - ứng cử của công dân đã dẫn đến phân hóa xã hội sâu sắc, bao gồm cả các tầng lớp trên. Không thể dễ dàng chụp mũ nói rằng họ bị thế lực thù địch nào đó xúi dục. Đàn áp bằng bạo lực là một sai lầm lớn, có thể dẫn đến một bước ngoặt mới (game changer).

Công chúng nghèo (công nhân và nông dân) có thể không biết hoặc ít sự lựa chọn, nên dễ chấp nhận và cam chịu số phận. Nhưng tầng lớp trung lưu và trí thức thì khác. Nếu quá bất bình và bất an, họ có thể bỏ ra nước ngoài, đem theo tài sản. Con cái họ du học có thể không về nước. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan có lần thốt lên, “lấy ai xây dựng đất nước đây?” Nhưng chính con cháu hầu hết các quan chức lãnh đạo các cấp đều ở nước ngoài (nhưng không phải Trung Quốc). Mặc dù họ có thể thân Tàu hay “chống Mỹ”, nhưng chẳng quan chức nào cho gia đình sang Trung Quốc cư trú, mà chỉ đi Mỹ, Canada, Australia hoặc Tây Âu…

Thực tế phong trào di cư như “bỏ phiếu bằng chân” (và bằng tiền) đã và đang âm thầm diễn ra. Theo thống kê, dòng người và dòng tiền từ Việt Nam (cũng như Trung Quốc) đang ra đi ồ ạt. 64% người giàu Trung Quốc (có trên 1,6 triệu USD) đã hoặc định di cư ra nước ngoài. Trong 10 năm qua, 14.000 tỷ USD đã chạy khỏi Trung Quốc (riêng năm 2015 là 1.000 tỷ USD). Còn Việt Nam thì sao? Năm 2015, riêng loại visa EB-5 (dành cho các doanh nhân muốn đầu tư và định cư ở Mỹ) đã tăng vọt lên 17.662 suất (so với 6.418 suất năm 2014). Người ta nói đồng tiền không những “biết nói” (money talks) mà còn “biết đi” (it walks). Theo tiến sỹ Vũ Qung Việt, trong 6 năm (2008-2013) 33 tỷ USD đã chạy khỏi Việt Nam bất hợp pháp…

Hai năm qua xu hướng này càng tăng nhanh, như một nghịch lý đầy bi kịch của đất nước này. Trong bối cảnh ngân sách quốc gia đang bị thâm hụt và khủng hoảng thiếu do bội chi ngân sách và nợ công quá nhiều, trong khi nguồn vay ODA cạn kiệt, thì xu hướng này có thể là một thảm họa. Nhưng không ai ngăn cản được người dân ra đi khi thực thẩm và nước uống không an toàn, khi không khí bị ô nhiễm, khi các dòng sông và nước biển bị nhiễm độc làm tôm cá chết, và các quyền cơ bản của người dân trong hiến pháp bị tước đoạt.  

Đổi mới thể chế hay là chết

Bối cảnh trong nước và quốc tế đang thay đổi, với tam giác Mỹ-Trung-Việt đang chuyển động, từ khi Việt Nam quyết định ra nhập TPP sau Đại hội Đảng XII, nhất là sau chuyến thăm Mỹ của TBT Nguyễn Phú Trong (7/2015) và chuyến thăm Viêt Nam của TT Barack Obama (5/2016) với triển vọng đối tác chiến lược Viêt-Mỹ. Vấn đề đặt ra hiện nay là muốn hay không Việt Nam buộc phải đổi mới thể chế và tăng cường hợp tác với Mỹ, vì sự sống còn của nền kinh tế (nguy cơ vỡ nợ) cũng như an ninh quốc gia (nguy cơ mất hết chủ quyền biển đảo).

Trong khi đó kinh tế Trung Quốc đang khủng hoảng và suy tàn, có thể suy xụp nhanh hơn dự kiến. Một dấu hiệu mới là Tỷ phú George Soros đang “tái xuất giang hồ” sau khi dự đoán Trung Quốc sẽ “hạ cánh cứng” (hard landing). Thực ra Mỹ không sợ Trung Quốc quá mạnh, mà lại sợ Trung Quốc khủng hoảng và sụp đổ, vì họ được lợi lộc nhiều hơn là thiệt hại khi kinh tế Trung Quốc phát triển. Trung Quốc khủng hoảng sẽ đe dọa kinh tế Mỹ cũng như kinh tế toàn cầu, với “cái bẫy phụ thuộc lẫn nhau” (economic co-dependency trap). Trong bối cảnh đó, Việt Nam làm gì và đi về đâu, hay cứ đứng ngẩn ngơ tại ngã ba đường?  


NQD. 14/6/2016

    Tác giả Nguyễn Quang Dy (ngồi, phía trái ảnh)


Hàng đứng (phải qua): ĐS Trần Tam Giáp; Nhà văn hóa Hữu Ngọc; Họa sĩ-nhà thơ Đặng Khánh Cường.
Hàng ngồi (phải qua): ĐS Đinh Hoàng Thắng; Nhà báo Kim Dung/Kỳ Duyên; Tác giả Nguyễn Quang Dy. 

Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2016

Buồn & Lo

Buồn & Lo

Sáng nay, 4/6,9 trên trang Facebook tôi có đưa lên stt dưới đây. 

Nghĩ rằng làm vậy để bà con và bạn bè có thể tham khảo thêm những ý kiến khác nhau xung quanh việc có nên hay không nên bổ nhiệm ông Bob Kerrey vào chức danh Chủ tịch Hội đồng Tín thác của trường Đại học Fulbrigh tại Việt Nam. Sự việc trên đang nhận được rất nhiều ý kiến tranh luận.

Vừa lúc đưa xong entry này lên trang blog cá nhân, tôi lại nhận thêm được nhiều thông tin "phản biện" khác, với ý là khép lại quá khứ thì "vẫn khép", nhưng tìm ra người khác ông Bob làm chức việc kia thì hơn... 

Chủ blog tôi sẽ sưu tầm các loại ý kiến khác biệt như vậy, và sẽ đưa sau entry này.

VN


Nói về quá khứ, tôi chắc mình đã uốn lưỡi trước trên 7 lần, bởi em ruột mình là liệt sĩ ngã xuống chiến trường B2 ngay năm 1972. Cái giá của chiến tranh, tôi tin gia đình nhà tôi rất thấm thía, nhất là mẹ và cha tôi, nay cả hai song thân đều đã khuất...

Chạm đến quá khứ, với tôi, vì thế luôn như chạm đến một vết thương sâu lắng trong lòng mình.
Tuy thế khi nghe giọng điệu của những ai đó lớn tiếng lên án, trách móc về việc ông Ted Kerrey ngồi ở ghế người đi xây đắp tình thân hữu 2 dân tộc - qua một sự nghiệp giáo dục -, rồi ông ta bị ném đá trối chết kia..., thì tôi chả tin là có tâm sáng trong những ai đó nói, viết ra đâu! Khéo không chỉ là sự vờ vĩnh, lên gân, là bày đặt một thứ lập trường đã lỗi thời để lấy le với cấp trên, về hùa với phe phái, với thói xu nịnh hướng thượng mà thôi.

Chả lẽ miệng luôn hô khẩu hiệu khép lại quá khứ, lại đi đồng nghĩa nó với việc bới móc lại những chuyện xưa cũ ra à ? Sa vào vòng luẩn quẩn như vậy thì tới khuya mới dứt bỏ được quá khứ, để ra một bên quá khứ, và hướng tới tương lai...

Nói thêm là bỏ ra một bên quá khứ không bao giờ có nghĩa là chúng ta lãng quên lịch sử. Nhưng việc nào nó ra việc đấy. Về việc này hãy ghé nhìn sang nước Nhật, dân tộc Nhật, bĩnh tĩnh xem người ta cư xử với quá khứ, với cuộc chiến tranh TG lần II, với Mỹ và Tây Âu... như thế nào? Có đáng tôn trọng cách hành xử của người ta không? Và nước họ hùng cường, dân tộc người ta mở mày mở mặt với toàn thế giới, dù người ta thua trận...

Nên mấy ngày qua, trên mạng xã hội và báo điện tử dậy sóng về chuyện ông Ted, chuyện lập trường đại học Mỹ mang tên trường Fulbright lại thấy nước mình còn ngổn ngang vấn đề thời hậu chiến! Cứ gì nước Mỹ mới có Hội chứng Vietnam War ?

Buồn, vẫn một nỗi buồn. Và cả lo lắng nữa...

Vệ Nhi

------

Đọc tham khảo 2 bài mới trên mạng: 


Về trường hợp Bob Kerrey

Nguyên Ngọc

Những ngày qua, trên các báo và các trang mạng, nhiều người đã lên tiếng tranh cãi về việc cựu chiến binh Mỹ Bob Kerrey được bổ nhiệm làm Chủ tịch Hội đồng Tín thác của trường Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) mà chúng ta đều mong đợi với rất nhiều hy vọng, mới được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tranh cãi đến nay chưa xong.

Quả thật Bob Kerrey là một nhân vật không hề đơn giản. Và cũng có thể, trong một chừng mực nhất định, trường hợp của ông là rất tiêu biểu cho việc, dù muốn hay không, thì ta vẫn còn phải nghĩ rất nhiều và cố mà thấu hiểu hơn nữa về cuộc chiến tranh đã qua. Về những con người, từng con người, đã đi qua cái lò lửa địa ngục ấy, bị nó đốt cháy và trui rèn. Số phận của họ, nỗi đau và trằn trọc không dễ nguôi của họ. Nhất là những người còn sống sót và đang đối mặt với cuộc sống hôm nay. Tôi, tôi cũng từng đi qua đó, và nay còn sống sót. Nên tôi cũng muốn hiểu. Tôi quan tâm đến Bob Kerrey, trường hợp kinh hoàng của ông ngày ấy, và cuộc đối mặt của ông hôm nay với thách thức ông đang đảm nhận. Và cũng muốn tự nghĩ cả về chính mình.

Nhiều người đã nói các chi tiết rồi, tôi chỉ xin nhắc lại vắn tắt: Đầu năm 1969, Bob Kerrey là đại úy, chỉ huy một trung đội SEALs, kiểu đơn vị biệt kích tinh nhuệ nhất hải quân Mỹ. Phân đội của ông được báo có lãnh đạo cao cấp của Việt cộng sẽ họp cùng bí thư chi bộ địa phương ở Thạnh Phong, một ấp nhỏ ven biển thuộc tỉnh Bến Tre. Ông cho đơn vị của mình tập kích vào Thạnh Phong. Ông nói rằng ông không tự tay giết người, điều ấy có thể tin, một người chỉ huy không nhất thiết phải tự mình bắn. Nhưng ông thừa nhận ông chịu trách nhiệm toàn bộ: họ đã giết chết 24 người, trong đó có 14 phụ nữ và trẻ em cùng một ông già. Bob nói: “Cuối cùng vẫn là những người phụ nữ đã chết, những đứa trẻ đã chết… vẫn là cái chết.” Và là tội ác. “Tội lỗi đối với tôi là cảm giác đầy hủy diệt…”. Suốt 32 năm nay. Suốt đời…
Sau chiến tranh, Bob Kerrey từng là thượng nghị sĩ, là thống đốc bang, là ứng viên tổng thống Hoa Kỳ, và trên tất cả các cương vị đó, ông đã có đóng góp quan trọng và lâu dài cho quan hệ Việt – Mỹ và trao đổi giáo dục giữa hai nước, ông cũng là một trong những nhân vật hàng đầu thiết kế chương trình kiên trì suốt nhiều năm cho sự ra đời của FUV hôm nay. Có thể nói không quá, ông đã làm tất cả cho Việt Nam, cho giáo dục Việt Nam… Nhưng chưa bao giờ ông coi là có thể bù đắp tội lỗi đã gây ra.

Tôi chưa từng gặp Bob Kerrey, nhưng tôi may mắn có một người bạn thân, Thomas Vallely, Giám đốc Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard, Chủ tịch Quỹ Sáng kiến Đại học Việt Nam (the Trust for University Innovation in Vietnam – TUIV), đơn vị chịu trách nhiệm huy động vốn để đầu tư cho FUV, cũng là người đã trực tiếp chọn Bob Kerry cho vị trí Chủ tịch Hội đồng Tín thác FUV. Thomas Vallely kể với tôi rằng, khi những người bạn cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam của Bob Kerrey là thượng nghị sĩ McCain và ngoại trưởng John Kerry đến gặp Bob để giúp ông trước nỗi ám ánh tội lỗi đeo đẳng, thì Bob đưa ra cho các bạn một yêu cầu buộc họ phải cam đoan: tuyệt đối không được bào chữa cho ông! Tôi nói với Thomas Vallely: “Vậy thì ông đã chọn rất đúng người lãnh đạo FUV!”.

Tôi cũng nói với Vallely rằng, nhưng phần tôi, là một người cũng từng có mặt trong suốt cuộc chiến tranh ấy, tôi thấy tôi cũng có bổn phận nói điều này khi tôi đọc được câu Bob Kerrey trả lời phóng viên Vietnamnet. Ông nói: “Hành động của tôi ở Việt Nam là kinh khủng và tôi tin đã được điều tra kĩ càng. Đó không phải là Mỹ Lai. Tuy nhiên, như bộ phim tài liệu sẽ sớm được phát của Ken Burns cho thấy: Chiến thuật của chúng tôi đã khiến ít nhất một triệu người vô tội thiệt mạng.” Bob Kerrey không để cho ai bào chữa cũng quyết không tự bào chữa cho mình, ông biết ông là một tội phạm không cầu mong được tha thứ, nhưng đồng thời bằng trải nghiệm đau đớn nhất của mình, ông cũng chỉ ra mâu thuẫn chết người trong cái mà ông gọi là “chiến thuật của chúng tôi”, tức của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam: để tiêu diệt Việt Cộng phải đánh bật họ ra khỏi dân thường, ra khỏi “phụ nữ và trẻ con” (còn được gọi là chiến thuật “tát nước để bắt cá”). Mà điều ấy là vô phương, bởi vì, đặc biệt ở nông thôn, thời ấy, hai thực thể đó về căn bản là một. Không thể đánh trúng cái này mà không đánh trúng cái kia! Không thể diệt Việt Cộng mà không giết dân, đàn bà và trẻ con! Cho nên, cho phép tôi nói điều này: Bob Kerrey là tội phạm, điều ấy ông đã đau đớn nhận, nhưng ông cũng là nạn nhân. Nạn nhân bi thảm của cái “chiến thuật” nghe rất hay ho kia. Bob Kerrey nhận ra mâu thuẫn chết người ở chiến thuật ấy, nhưng không dùng nó để bào chữa cho mình. Điều đó là vĩ đại. FUV có được một người đứng đầu như vậy là tuyệt đẹp. Và tôi cho lựa chọn của FUV là thật nhân văn.
Còn riêng đối với chúng tôi thì sao, chúng tôi, những người từng là lính Việt Cộng thời thảm khốc ấy, khi chúng tôi vẫn từng “nấp” trong nhân dân vô tội, để họ có thể cùng chết với chúng tôi? Kể cả, ngày ấy, như chính tôi từng được trải nghiệm, có bao bà mẹ, và cả các em bé nữa, sẵn sàng chết để che cho chúng tôi?

Hóa ra tự chúng tôi cũng còn một câu hỏi…

N.N.

-------

Bài đăng trên báo Tuổi Trẻ

Bí thư Đinh La Thăng: Vượt lên thù hận, chúng ta mạnh mẽ hơn



04/06/2016 16:02 GMT+7

TTO - Những ngày qua, nhiều ý kiến tranh luận về việc bổ nhiệm Bob Kerrey - một cựu binh trong chiến tranh VN làm Chủ tịch hội đồng tín thác ĐH quốc tế Fulbright. Tuổi Trẻ giới thiệu ý kiến Bí thư Thành ủy TP.HCM Đinh La Thăng về việc này. 

Trả lời câu hỏi về nhiều ý kiến cho rằng nguyên Thượng nghị sỹ Bob Kerrey sắp tới không nên ở vị trí Chủ tịch Hội đồng Tín thác đại học Fulbright vì những sai lầm phạm phải trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, ý kiến của ông ra sao? Bí thư Thành ủy TP.HCM Đinh La Thăng đáp:

1. Trước hết, TPHCM đánh giá cao và ủng hộ mạnh mẽ dự án Đại học Fulbright Việt Nam (FUV). Chúng tôi đã cùng với phía Hoa Kỳ làm mọi cách để dự án này thành hiện thực, như mọi người đang thấy.

Tôi cho rằng FUV sẽ đóng góp hữu ích cho Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ riêng cho thành phố Hồ Chí Minh, là dự án hướng tới tương lai của Việt Nam.
Điều này mang một ý nghĩa rất quan trọng về mặt phát triển cũng như tăng cường sự hiểu biết giữa hai nước, góp phần củng cố mối quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ.
FUV cũng là một bằng chứng cụ thể và có tính biểu tượng cao cho thấy Việt Nam và Hoa Kỳ đang quyết tâm “gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng tới tương lai” một cách thiết thực và hiệu quả.

2. Về dư luận liên quan tới quá khứ của ông Bob Kerrey, tôi cho rằng đó là một phản ứng có thể hiểu được nếu chỉ xét ở khía cạnh cảm xúc. Nhưng khi nhìn lại bất cứ sự kiện lịch sử nào, cần phải đặt trong mối tương quan với hiện tại, vì thế nếu chỉ cảm xúc thôi là chưa đủ.

Chúng ta cần thêm cả một lý trí tỉnh táo và sáng suốt. Chúng ta hãy cùng đọc những lời tâm sự đau đớn của ông Bob Kerrey được báo Quân đội Nhân dân ghi lại từ năm 2001, ngay sau khi sự kiện Thạnh Phong được công bố: “Nếu tôi mất cả hai tay, hai chân, cả thị lực, thính lực của mình, thì cũng không nhiều bằng những gì tôi đã mất đêm hôm đó… Tôi xin nhân dân Việt Nam tha thứ cho tôi”.
Ngày 29-5-2016, khi truyền thông Việt Nam nêu lại vấn đề này, ông Bob Kerrey tiếp tục thể hiện sự hối lỗi sâu sắc: “Tôi đã xin lỗi nhân dân Việt Nam về những gì tôi gây ra trong chiến tranh và giờ tôi xin lỗi lại một lần nữa. Một cách thành tâm và cùng những nỗi đau của ký ức mãi mãi ám ảnh, tôi xin lỗi những người mà tôi đã gây hại tới”.

Tôi nghĩ đó là những lời thốt ra từ gan ruột một con người hoàn toàn bất lực với việc sửa chữa lỗi lầm của mình.

Vì thế, ông đã tìm mọi cách khác để chuộc lỗi với nhân dân Việt Nam, trong đó có việc nỗ lực sử dụng vai trò Thượng nghị sỹ, cùng với Thượng nghị sỹ John McCain và Ngoại trưởng John Kerry, kêu gọi và gây sức ép lên Chính phủ Hoa Kỳ, yêu cầu bình thường hóa quan hệ với Việt Nam.
Ông là người ủng hộ mạnh mẽ đàm phán các hiệp định thương mại giữa hai nước, cải thiện hệ thống giáo dục Việt Nam thông qua chương trình Fulbright.

Tổng thống Barack Obama, trong phát biểu trước thanh niên tại TPHCM ngày 25/5 vừa qua, đã cảm ơn và ghi nhận đích danh ông Bob Kerrey vì đã đi đầu trong quá trình bình thường hóa quan hệ hai nước.

Tôi hiểu ông phải rất can đảm khi quyết định nhận cương vị hiện nay, dù hiểu rõ hậu quả của nó, cũng vì để có cơ hội tốt nhất giúp cho dự án FUV thành công, hiến tặng nhân dân Việt Nam những
kinh nghiệm quý báu mà ông tích cóp trong nhiều năm qua.

Những nỗ lực của ông Bob Kerrey là hoàn toàn chân thành và cần được ghi nhận.

3. Tôi thiết nghĩ trong vấn đề liên quan đến ông Bob Kerrey, chúng ta nên được soi sáng bởi cách xử lý và truyền thống tự trọng, nhân ái, vượt qua thù hận, vị tha, và hướng tới tương lai của ông cha ta trong suốt chiều dài lịch sử hào hùng của dân tộc.
Nếu chúng ta không giầu lòng tha thứ, thì dân tộc này đã không thể mạnh mẽ và đáng được kính trọng như ngày hôm nay.

Chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Obama và việc ra đời của FUV, theo tôi, là một cơ hội lịch sử để chúng ta chấp nhận sự hòa giải và nên là dịp để cả hai nước khép hẳn lại quá khứ, cùng hướng tới tương lai tốt đẹp hơn, vì con cháu chúng ta và vì lợi ích lâu dài của dân tộc.
Hãy để cho ông Bob Kerrey được thêm một lần nữa cảm nhận sự vĩ đại của đất nước mà ông đã gây đau thương chỉ vì thiếu hiểu biết. Lịch sử thì không thể thay đổi, nhưng tương lai lại tùy thuộc vào mỗi chúng ta.

Vượt lên thù hận, chúng ta sẽ chỉ càng cho thấy chúng ta mạnh mẽ và cao lớn về tầm vóc văn hóa.


T. T

Nguồn: http://tuoitre.vn/tin/chinh-tri-xa-hoi/20160604/khong-giau-long-tha-thu-thi-dan-toc-nay-khong-the-manh-me/1112812.html

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2016

Lại tập trận Trung - Nga

Lại tập trận Trung - Nga 


Các cuộc tập trận chung giữa các nước với nhau vốn thường diễn ra. Một khi các lợi ích quốc gia không trùng hợp, sự nghi kỵ lẫn nhau và các đường biên giới vẫn còn là một điều bất khả xâm phạm của từng quốc gia thì việc tăng cường quân sự, luyện tập quân sự, thử vũ khí tấn công và phòng thủ với những giả định xảy ra chiến tranh...vẫn mãi là một chọn lựa của mỗi quốc gia độc lập.

Tuy nhiên nhìn vào cụ thể của trận tập dượt quân sự chung lần này giữa 2 đại cường Liên bang Nga và Trung Quốc tự nó không lẫn hoặc hòa đồng với các cuộc diễn tập quân sự chung khác. Nói thế bởi vì những động tác (xoay trục) của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương, của các đồng minh thân cận mà nước này xây dựng được nhiều thập kỷ qua; và nhất là mới đây 7 nước công nghiệp lớn nhất thế giới (G7) liên tiếp họp tại Nhật Bản - đồng minh lớn nhất của Mỹ tại châu Á - bắn nhiều tín hiệu về an ninh, về tự do an toàn hàng hải tại biển Hoa Đông và Biển Đông mà theo lập trường chung của G7 phải là "sự bảo đảm", tuân theo luật pháp quốc tế..., thì việc "xích lại" giữa 2 nước láng giềng khổng lồ Trung-Nga tự bản thân nó chỉ ra dấu hiệu đặc biệt.

Và tất nhiên, cũng như bên Mỹ & các đồng minh, cái tín hiệu bắn ra từ sự liên kết, liên thông này (chưa đến mức liên minh) của Moskva và Bắc Kinh đều có ý nghĩa một đường tên nhắm không chỉ là 2 đích đến, mà nhiều hơn. Nói thế nghĩa là nó ngầm hướng tới các quốc gia độc lập của Đông Nam Á, đương nhiên Việt Nam là rõ rệt nhất.

Nga - Trung (trước là Liên Xô - Trung Quốc) vốn một thời dài là một phe, rồi mâu thuẫn, rồi tái kết liên, rồi lại tách nhau rời xa nhau (với các lợi ích quốc gia riêng); và nay lại có khuynh hướng xích lại với nhau (sau khủng hoảng Crưm/Crimé; nhưng mới chỉ là xích lại, liên kết lại với nhau chứ chưa có dấu hiệu liên minh quân sự).

Chả lẽ một thứ bóng ma mới của dạng chiến tranh lạnh lại hiện về. Và với VN ta nằm ở vùng đất, một khu vực có vị trị trí địa-chính trị nhạy cảm, liệu có thể các điều trên tác động với nhau lại biến thành một tình huống, một tình thế "oái oăm của lịch sử" mới? Đáng lo!

Về chủ đề trên, mới đây tờ báo điện tử VietTimes có đăng bài với nguyên văn dưới đây. Xin phép share bài này về trang chủ và kính mời bà con và bạn bè của chủ blog tôi cùng đọc tham khảo.

Vệ Nhi 

------


Thông tin đặc biệt đáng chú ý về cuộc tập trận phòng thủ tên lửa của Nga -Trung Quốc

VietTimes -- Trong diễn tập, hai bên đưa thông số tên lửa dự định vào hệ thống diễn tập, sau khi chỉ huy đưa ra quyết định, họ đã cho hệ thống diễn tập vận hàn. Điều này đã thể hiện đầy đủ lòng tin và hợp tác quân sự sâu sắc giữa Trung-Nga.

Lê Việt Dũng

 - /
Trung Quốc và Nga lần đầu tiên tổ chức diễn tập phòng thủ tên lửa liên hợp. Nguồn ảnh: Tân Hoa xã/Đa Chiều.Trung Quốc và Nga lần đầu tiên tổ chức diễn tập phòng thủ tên lửa liên hợp. Nguồn ảnh: Tân Hoa xã/Đa Chiều.
Ứng phó với các cuộc tấn công bất ngờ 

Thời báo Hoàn Cầu Trung Quốc ngày 28/5 đưa tin: Bộ Tư lệnh Phòng thủ tên lửa của hai nước Trung Quốc và Nga đã tham gia cuộc diễn tập phòng thủ tên lửa liên hợp mô phỏng trên máy tính, diễn ra trong thời gian 3 ngày. Cuộc diễn tập này bắt đầu từ ngày 26/5, kết thúc vào ngày 28/5.

Trang tin Sputnik Nga cho hay, các cán bộ tham gia cuộc diễn tập này đến từ Trung tâm chỉ huy phòng thủ tên lửa của Nga.

Bộ Quốc phòng Nga cho biết, mục đích chủ yếu của cuộc diễn tập lần này "là hai bên thông qua cùng diễn tập hành động liên hợp triển khai chiến dịch phòng không và phòng thủ tên lửa, nhằm ứng phó với các cuộc tấn công bất ngờ và khiêu khích của tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình nhằm vào lãnh thổ hai nước".

Cuộc diễn tập này tổ chức ở Trung tâm nghiên cứu khoa học Lực lượng phòng thủ bầu trời-vũ trụ (Không quân) Bộ Quốc phòng Nga ở Moscow, không nhằm vào bên thứ ba.

Tham gia diễn tập có Tham mưu trưởng kiêm Phó Tư lệnh thứ nhất Lực lượng Không quân Nga Pavel Kuratchenko và Tham mưu trưởng Không quân Trung Quốc Ma Chấn Quân.

Trong diễn tập, hai bên đưa thông số tên lửa dự định vào hệ thống diễn tập, đồng thời, sau khi cơ quan thủ trưởng đưa ra quyết định, để cho hệ thống diễn tập vận hành, điều này đã thể hiện đầy đủ lòng tin và hợp tác quân sự sâu sắc giữa Trung-Nga.

Lòng tin chiến lược 

Thời báo Hoàn Cầu bình luận rằng hệ thống phòng thủ tên lửa chiến lược là một trong những bí mật cao nhất của một nước. Bất kể Trung Quốc hay Nga, chúng đều là những chương trình rất bí mật. Đưa thông số vũ khí bí mật cao như vậy vào hệ thống máy tính của cuộc diễn tập lần này đã thể hiện lòng tin và hợp tác quân sự sâu sắc giữa Trung-Nga.
Radar Voronezh DM ở Kaliningrad, Nga. Nguồn ảnh: Tin tức Bành Bái, Trung Quốc.
Sau khi kết thúc diễn tập, hai nước sẽ tổ chức hội nghị, sĩ quan hai nước sẽ tiến hành tham vấn về vấn đề tăng cường khả năng hợp tác quân sự trên lĩnh vực phòng thủ tên lửa.

Trung Quốc và Nga đều có khả năng phòng không, phòng thủ tên lửa. Nga đã triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa ở Moscow, có khả năng phòng thủ tên lửa chiến lược – đáp trả hạt nhân. Trong khi đó, Trung Quốc đã tổ chức thử nghiệm thành công nhiều lần đánh chặn phòng thủ tên lửa chiến thuật đoạn giữa mặt đất.

Hai bên thông qua diễn tập liên hợp, tăng cường giao lưu và hợp tác, có thể nâng cao kinh nghiệm giao lưu quân sự song phương, mở rộng lĩnh vực hợp tác quân sự.

Chuyên gia quân sự Trung Quốc Doãn Trác cho hay: Diễn tập phòng thủ tên lửa liên quan đến phối hợp ở cấp độ chiến lược. Trung-Nga tổ chức diễn tập lần này đã đạt đến cấp độ này, cho thấy, lòng tin chính trị và quân sự của hai bên đã lên cấp độ rất cao.

Diễn tập chiến lược cần có một trung tâm chỉ huy thống nhất, mở cửa cho nhau trung tâm chỉ huy kiểm soát ở cấp chiến lược. Đây là diễn tập có tính toàn cục, liên kết các hành động cả trên không, mặt đất, trên biển, trên vũ trụ. Mặc dù loại diễn tập này không sử dụng thực binh, nhưng có cấp độ rất cao.
Tên lửa đẩy Soyuz phóng một vệ tinh EKS. Nguồn ảnh: Tin tức Bành Bái, Trung Quốc.
Theo chuyên gia quân sự Trung Quốc Lý Kiệt, Trung Quốc và Nga tổ chức diễn tập phòng thủ tên lửa liên hợp không chỉ giới hạn ở ý nghĩa tượng trưng, mà càng cho thấy Trung Quốc và Nga “hỗ trợ lẫn nhau về chính trị” và "chính nghĩa".

Lý Kiệt cho rằng, hệ thống máy tính của hai nước khác nhau. Vì vậy, trước hết cần thống nhất việc truyền số liệu, trao đổi thông tin và liên lạc chỉ huy, kiểm soát vào một hệ thống, cần thống nhất về ngôn ngữ, thống nhất về thông tin và thống nhất về cách làm. Điều này cần tiến hành mô phỏng máy tính nhiều lần mới có thể làm quen.

Đối với ưu thế phòng thủ tên lửa của Nga, Lý Kiệt cho rằng thiết bị cảnh báo sớm đồng bộ, biện pháp đáp trả và trình độ huấn luyện của hệ thống phòng thủ tên lửa Nga đều khá cao, chẳng hạn các tên lửa S-300, S-400, S-500 và A135 với khả năng đánh chặn các tên lửa khác nhau, đã tạo ra mạng lưới phòng thủ nhiều tầng.

Vệ tinh cảnh báo sớm trên vũ trụ, radar dò tìm tầm xa trên mặt đất và trên biển, máy bay cảnh báo sớm trên không đã tổ chức thành mạng lưới cảnh báo sớm chặt chẽ, dò tìm các mục tiêu theo nhiều chiều.

Đối với Trung Quốc, mặc dù khả năng cảnh báo sớm đã được cải thiện nhiều, nhưng vẫn tồn tại khoảng cách với Nga. Nhưng, tàu chiến "Aegis Trung Hoa" có thể triển khai ở tuyến đầu, sử dụng radar tầm xa để dò tìm và theo dõi các dấu vết của tên lửa. Đây là năng lực tạm thời Nga chưa có.

Các tàu chiến Aegis Mỹ, Nhật thường triển khai ở vùng biển lân cận CHDCND Triều Tiên, đẩy trận địa tác chiến tới tuyến đầu xa nhất. Một khi CHDCND Triều Tiên phóng tên lửa, chúng có thể thu thập hành tung của tên lửa, nếu cần thiết có thể nhanh chóng đánh chặn có hiệu quả.

Đáp trả Mỹ và đồng minh
Phạm vi dò tìm của radar Sông Đông 2N thuộc hệ thống phòng thủ tên lửa A135 hiện có của Nga. Nguồn ảnh: Tin tức Bành Bái, Trung Quốc
Thời báo Hoàn Cầu cho rằng hợp tác Trung-Nga trong lĩnh vực phòng thủ tên lửa cũng là phản ứng đối với tình hình quốc tế. Moscow và Bắc Kinh đều gia tăng cảnh giác đối với các hành động quân sự do Mỹ triển khai ở "sân sau" của họ.

Cách đây không lâu, Ngoại trưởng hai nước Trung-Nga đã lên tiếng cho rằng, Mỹ lấy vấn đề hạt nhân và tên lửa của CHDCND Triều Tiên làm lý do để triển khai hệ thống phòng thủ khu vực tầm cao đoạn cuối (THAAD) ở Hàn Quốc là không có cơ sở, vượt xa nhu cầu an ninh thực tế của bán đảo Triều Tiên, tạo ra mối đe dọa trực tiếp đối với cân bằng và ổn định chiến lược toàn cầu.

Gần đây, các quan chức Mỹ và tổ chức liên minh quân sự NATO còn tuyên bố, hệ thống tên lửa triển khai ở khu vực miền nam Romania có thể dùng cho các hành động quân sự, việc kích hoạt những tên lửa này đánh dấu đã tiến đến bước thứ hai "đếm ngược" về hoàn thành hệ thống phòng thủ tên lửa.

Gần 10 năm trước, Washington đã đưa ra chương trình hệ thống phòng thủ tên lửa. Sau đó, ngày 20/5, một căn cứ cuối cùng của Mỹ ở Ba Lan đã được khởi công, một khi hoàn thành vào cuối năm 2018, cái "ô bảo hộ" này sẽ bao trùm từ đảo Greenland đến khu vực quần đảo Azores, phía tây Bồ Đào Nha.

Mỹ kiên trì cho rằng, điều này hoàn toàn không phải nhằm vào Nga, nhưng Moscow coi đây là mối đe dọa an ninh ở "cửa nhà".

Ngoài ra, từ năm 2011 đến nay, Washington luôn theo đuổi chiến lược "xoay trục sang châu Á-Thái Bình Dương". Nhà Trắng cho rằng, đối với lợi ích lâu dài của Washington, không có khu vực nào quan trọng hơn châu Á.

Nhưng, một số chuyên gia phân tích chính trị cho rằng, Mỹ tìm cách dựa vào chiến lược này để thúc đẩy “bá quyền”, kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc ở châu Á.
Lê Việt Dũng



Thứ Ba, 31 tháng 5, 2016

Cơn sốt Obama và Tâm thức Người Việt


Cơn sốt Obama và Tâm thức Người Việt
  
(Một bài mới của tác giả Nguyễn Quang Dy viết sau khi ông Barack Obama kết thúc chuyến thăm Việt Nam).



Tác giả: Nguyễn Quang Dy            


Cuối cùng thì Tổng thống Barack Obama đã đến thăm Việt Nam (23-25/5/2016), sau khi kế hoạch thăm bị hoãn vào cuối năm ngoái. Tuy việc hoãn gây “hồi hộp” (suspense), nhưng điều đáng mừng là chuyến thăm đã thành công hơn cả mong đợi. Thay vì “Muộn còn hơn không” (better late than never), Obama nói ông “dành điều hay nhất cho sau cùng” (Save the best for the last). Nhưng có người lại nói, “điều hay nhất vẫn còn chưa đến” (the best is yet to come). Như một vở bi hài kịch, chuyến thăm muộn màng càng hấp dẫn và đầy kịch tính, với một chút bất ngờ và bí ẩn, đã làm sống lại “Cơn sốt Obama” (Obamania), và làm bộc lộ tâm thức phức tạp của người Việt, với những dư chấn và ẩn số cần tiếp tục giải mã.  



Cơn sốt “Obamania”

Nếu cho điểm, chắc Barack Obama sẽ được điểm cao (ngang với Bill Clinton). Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên, vì cả hai tổng thống Mỹ đều có tài hùng biện và năng lực truyền thông, lại có đội ngũ cố vấn và trợ lý tài giỏi phục vụ. Lần này đi cùng Obama còn có một nhân vật nổi tiếng của CNN là Anthony Bourdain, dẫn chương trình “Những miền đất lạ” (Parts Unknown). Chương trình “Parts Unknown” đã trở thành một điểm nhấn ẩn dụ cho chuyến thăm Việt Nam của Obama. Có lẽ sự kiện “Bún chả Thượng đỉnh” là một thành công bất ngờ của Nhà trắng (và CNN) bên cạnh tuyên bố bỏ cấm vận vũ khí đầy kịch tính. Đúng là người Mỹ thực dụng, kết hợp một công đôi việc, “vẹn cả đôi đường”.

Sự kiện “Obama ăn Bún chả” trên phố Lê Văn Hưu còn hấp dẫn hơn sự kiện gia đình Clinton mua sắm trên phố Hàng Gai (năm 2000). Hình ảnh tổng thống Obama giản dị, thân mật, dễ gần, đã tạo ra cơn sốt “Obamania”.  Bên cạnh tuyên bố bỏ cấm vận vũ khí vào thời điểm “nhạy cảm” tại Biển Đông trong hai tháng tới (như TNS McCain đã cảnh báo), Obama nổi bật lên như một ngôi sao truyền thông trong chương trình “Parts Unknown” (mà CNN sắp tới sẽ phát). Đối với Việt Nam, hình ảnh đúp đắt hàng của Obama gắn liền với hai vấn đề “nhạy cảm” là “Cam Ranh và Nhân quyền”, vừa là điều kiện vừa là hệ quả của bỏ cấm vận vũ khí. Điều đáng nói là luật chơi “đổi nhân quyền lấy vũ khí” đã thay đổi (vì hết tác dụng).      

Bỏ cấm vận vũ khí cho Việt Nam là bước khởi đầu (prelude) để đột phá (breakthrough) cho quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước, góp phần tái cân bằng lực lượng tại Biển Đông. Người Mỹ không bao giờ bỏ mục tiêu nhân quyền, nhưng lúc này chắc họ cần ưu tiên mục tiêu chiến lược trước. Có thể nói đây là sách lược “lùi một bước để tiến hai bước”, nhằm khuyến khích Hà Nội  “tham dự tích cực” (constructive engagement) với hai đòn bẩy chính là TPP và hợp tác quốc phòng theo tầm nhìn chung, để từng bước “thoát Trung”.

Tiến bộ về nhân quyền tại Việt Nam luôn phụ thuộc vào tiến bộ về “thoát Trung”. Nếu không “thoát Trung” thì những tiến bộ nhỏ giọt về nhân quyền, như thả một vàì tù chính trị để đánh đổi lấy một cái gì đó sẽ chỉ như trò chơi “mèo vờn chuột”, để đối phó tình huống chứ không thể bền vững. Vì vậy, muốn đổi mới cơ bản và bền vững, thái độ đối với vấn đề nhân quyền và dân chủ phải dựa trên xây dựng lòng tin chiến lược và hợp tác chiến lược. Xét theo tinh thần đó thì quyết định bỏ cấm vận vũ khí của Obama có ý nghĩa chiến lược.   

Tâm thức bất an

Khác với thái độ vui vẻ, giản dị, thân thiện, đầy tự tin của Obama, thái độ của lãnh đạo Việt Nam hầu như lạnh lùng, vô cảm, đầy căng thẳng như đang lo lắng về điều gì đó bất an. Đây không phải chỉ là sự khác biệt về dân trí và văn hóa ứng xử, mà còn do tâm thức và não trạng của họ lúc này. Hình như có điều gì đó bất an đang diễn ra đằng sau hậu trường, mà hầu hết khán giả không biết rõ. Nếu có, chắc chắn phải liên quan đến ông bạn “láng giềng lạ”. Tuy Hà Nội rất muốn Washington bỏ cấm vận vũ khí, nhưng lại sợ Bắc Kinh nổi giận phản ứng, nên có lẽ Mỹ-Việt buộc phải phối hợp diễn một cách miễn cưỡng.    




Có mấy hiện tượng bất thường dễ thấy:

Thứ nhất, an ninh Mỹ có nhiều dấu hiệu đề phòng đặc biệt, còn hơn cả đối phó với nguy cơ khủng bố của IS. Ngày giờ đến thăm “chính thức”của Obama không được ấn định trước (như đón các nguyên thủ khác) mà thay đổi liên tục (chỉ có “dự kiến”). Giờ hạ cánh của Air Force One được giữ bí mật tuyệt đối, đến phút chót mới thông báo (sớm hơn 2 giờ so với “dự kiến”), đến vào lúc gần nửa đêm một cách bí ẩn. Thủ tục đón tiếp tại sân bay rất sơ sài, chẳng có lãnh đạo nào trên cấp thứ trưởng ra đón. Công tác đảm bảo an ninh tại khách sạn cũng như những nơi đoàn đến được bố trí vô cùng chặt chẽ. Phải chăng họ biết có vấn đề gì đó mà chúng ta không biết? Hoặc là để tránh làm “phật lòng” ông bạn “láng giềng lạ”, hoặc là có nguy cơ về an ninh nên phải đề phòng tối đa, để đảm bảo an toàn tuyệt đối.    

Thứ hai, lễ tân cũng có nhiều điểm bất thường. Mặc dù Obama thăm Việt nam “chính thức”, nhưng thủ tục lễ tân sơ sài khác hẳn với lễ đón “sang trọng” khi CTN Trương Tấn Sang và TBT Nguyễn Phú Trọng đến thăm Washington. Không có 21 phát đại bác chào mừng (như đón các nguyên thủ khác). Obama không được mời đến Quốc Hội (như đồn đoán) để đọc diễn văn (như Tập Cận Bình). Tại sao lại phải khiêm nhường như vậy, trong khi Obama là nguyên thủ của siêu cường đứng đầu thế giới mà Việt Nam đang tranh thủ? Có điều gì đó không logic. Tuy nhiên, phía Mỹ không “phật lòng” mà còn hợp tác “chiều” Việt nam, như để phối hợp đối phó với một vấn đề gì đó rất nhạy cảm liên quan đến ông bạn “láng giềng lạ”.     

Thứ ba, thái độ các bên cũng rất bất thường. Trước và trong khi Obama thăm Việt Nam, thái độ Trung Quốc tỏ ra khá mềm mỏng, “vui mừng” trước chuyến thăm của Obama. Nhưng sau khi Obama “đơn phương” tuyên bố bỏ cấm vận vũ khí, thì thái độ Trung Quốc thay đổi hẳn, phản ứng ra mặt. Trong khi đó, thái độ của lãnh đạo Việt Nam khi đón Obama không những sơ sài mà còn tỏ ra lạnh lùng như miễn cưỡng, thậm chí hơi lo lắng và căng thẳng (không biết là thật hay diễn). Phải chăng phía Việt Nam lo ngại phía Trung Quốc sẽ nổi giận trả đũa, nên phải làm như mọi chuyện là do phía Mỹ “đơn phương” bầy đặt ra, chứ không phải do phía Việt Nam chủ động muốn thế. Tóm lại Là “vừa đ… vừa run”.



Thứ tư, vấn đề nhân quyền cũng khá phản cảm. Trong chương trình, Obama sẽ gặp đại diện các nhóm nhân quyền và xã hội dân sự. Nhưng kết quả chí có 6 người đến dự (trong tổng số 15 người được mời). Hầu hết những người không đến được là do an ninh ngăn cản bằng nhiều cách. Trong khi báo chí mạng và truyền thông xã hội lên cơn sốt “Obamania”, thì báo chí nhà nước đưa tin sơ sài, thậm chí cố ý dịch sai lạc nội dung và cắt xén hẳn một số đoạn “nhạy cảm” nói về nhân quyền trong diễn văn của Tổng thống Obama. Đây là một cách ứng xử lạc hậu, thiếu chuyên nghiệp và thiếu văn hóa, gây phản cảm. Trong thời đại Internet với truyền thông trực tuyến kỹ thuật số, thì cách “kiểm duyệt” thô thiển đó không thể bưng bít được thông tin và không thể đánh lừa được ai, mà còn phản tác dụng.
Thứ năm, thái độ người dân đón Barack Obama cũng phấn khích như đón Bill Clinton trước đây. Một phần là do tác phong giản dị, thân mật và gần gũi của Obama đã cuốn hút họ (do truyền thông và quan hệ công chúng làm tốt). Mặt khác, do tâm lý sính ngoại và thích Mỹ của đa số người Việt. Theo khảo sát của Viện nghiên cứu Pew, có 78% người Việt thích Mỹ, cao hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực. Người Việt ngày càng thất vọng và mất lòng tin vào thể chế trong nước, nên lại càng có tâm lý dựa vào nước ngoài (cả kinh tế lẫn chính trị). Trước đây trong chiến tranh, người Miền Nam đã dựa vào Mỹ, người Miền Bắc dựa vào Trung Quốc hoặc Liên Xô (với tư duy “đã có Liên Xô lo”). Nay người Việt lại muốn dựa vào Mỹ (cũng như dựa vào Trung Quốc). Tuy Obama tỏ ra rất thân thiện, nhưng không muốn can thiệp vào nội bộ Việt Nam, mà khuyến khích người Việt tự lực tự cường. Đã đến lúc người Việt phải hòa giải với nhau, để chung tay chấn hưng đất nước. Nếu “không chịu phát triển”, cứ phân hóa, ném đá và chửi nhau về những cái không đáng, thì chắc Mỹ cũng chịu.   
Khẩn cấp: Mayday!   

Đối với Mỹ, trong giai đoạn “hậu Obama” (từ 2017), khi tổng thống mới có thể là bà Hillary Clinton (có nhiều khả năng) hoặc ông Donald Trump, thì câu chuyện TPP và vấn đề Biển Đông chưa biết kết cục sẽ ra sao. Hầu hết người Châu Á (trừ Trung Quốc) đều mong bà Hillary thắng cử, mặc dù mức độ cam kết của bà ấy đối với TPP và xoay trục không còn như trước. Nhưng Donald Trump mà thắng cử thì có thể là thảm họa. Hãy tận dụng tối đa thời gian còn lại của chính quyền Obama, để tạo ra dòng chảy đối tác chiến lược.



Đối với Việt Nam, Mỹ đã bỏ cấm vận Vũ khí, nên cánh cửa hợp tác quốc phòng đã rộng mở, quả bóng đang trong sân Việt Nam. Ngoài TPP (là chuyện đã rồi) còn hai vấn đề chưa ngã ngũ mà Việt Nam phải sớm khẳng định hướng hợp tác với Mỹ là vấn đề nhân quyền và quy chế sử dụng căn cứ Cam Ranh. Đó là hai vấn đề quan trọng nhất. Còn Việt Nam định mua vũ khí gì, định tham gia huấn luyện và tập trận thế nào, là vấn đề kỹ thuật cụ thể. Triển khai quan hệ đối tác chiến lược (trên thực tế) nhanh hay chậm, nông hay sâu, chủ yếu là do phía Việt Nam. Chính Obama đã nhấn mạnh đến yếu tố nội lực và thiện chí.

Tháng năm đánh dấu hai bước ngoặt mới: Một là Obama sang thăm Việt Nam, với món quà bỏ cấm vận vũ khí. Hai là, nay Obama đã thăm và về rồi thì chính phủ phải công bố kết luận về thảm họa môi trường tại Vũng Áng. Đây là vấn đề cấp bách, không nên kéo dài thêm nữa, vì nó liên quan đến môi trường sống và quyền sống của con người, mà Mỹ và Việt nam có thể hợp tác để khắc phục hậu quả (cũng như về đồng bằng sông Me Kong). 


Tháng năm hoa phượng đỏ rực các tuyến đường, nhưng “Hà Nội hè này vắng tiếng ve kêu!” như một dấu hiệu bất thường về thay đổi khí hậu. Tại sao loài ve sầu bé nhỏ đã sống sót qua nhiều triệu năm trên mặt đất cũng đang lặng lẽ ra đi (như con người)?  

NQD. 30/5/2016


 

VỀ HỘI LÀNG   8 tháng 3 Âm lịch hằng năm là ngày Hội làng truyền thống quê tôi. Năm nay ngày hội rơi vào 2 ngày Nhà nước quy định Quốc tang ...