Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

TPP & An ninh



TPP & An ninh

Thời cuộc lúc này mình chợt nghĩ cả 2 lĩnh vực thương mại và an ninh trong chiến lược tái cân bằng về châu Á của Mỹ tự nhiên liên hệ quá chặt với một cơ hội cho Việt Nam. Nước mình đừng kém thông minh mà để vuột mất một số advantage mà 2 việc trên đưa lại.

Với VN thì Thương mại ở đây chính là tham gia TPP. Còn An ninh là những vấn đề mới mà VN phải nhìn nhận đúng để phản ứng đúng. Đó là những động thái TQ ngang ngược bành trướng chiếm trọn Biển Đông; còn Mỹ thì xoay trục về châu Á với những động thái ngoại giao gần đây là cứng rắn ra mặt trước mối đe dọa ra đại dương của TQ, đó là phương cách để chặn đứng tham vọng TQ.

Hàng loạt những diễn biến mới đây, như những chuyến thăm con thoi của các Thượng nghị sĩ Mỹ, của Chủ tịch HĐ Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ, rồi hé lộ Mỹ gỡ bỏ cấm vận bán vũ khí sát thương cho VN...

Riêng, nếu VN tham gia được vào TPP thì cũng đồng nghĩa VN tăng được lợi thế cạnh tranh. Hàng hóa VN có thể vào Mỹ, Nhật, Úc, Canada, Nhật, Malaysia, Mexico, Chile, New Zealand, Peru, Singapore, Brunei dễ dàng hơn các nước không thuộc TPP. Đây là cơ hội để Việt Nam đẩy tới quá trình cải tổ các cơ chế và cơ cấu kinh tế của mình để đón nhận các nguồn đầu tư mới. Quan trọng và cơ bản hơn cả là TPP sẽ mở ra một con đường mới, giúp VN chúng ta không phụ thuộc tiêu cực vào kinh tế Trung Quốc. 





Còn vấn đề An ninh, thì sau sự kiện giàn khoan HD 981 không người VN nào còn mơ hồ về mưu đồ chiếm trọn Biển Đông của giới cầm quyền Bắc Kinh nữa. Hơn nữa ngày càng thấy rõ Nga như bị lún sâu công việc làm ăn với TQ do bị Mỹ và châu Âu cấm vận sau sự kiện Ukraina. VN đương nhiên sẽ phải đối mặt với rủi ro nảy sinh trong quan hệ với Nga mà chính nước này được coi như nhà cung cấp vũ khí chính cho VN ở giai đoạn hiện nay. Vậy an ninh và chủ quyền đất nước cần một cách tiếp cận và giải quyết theo hướng mới vì lợi ích quốc gia. Những động thái ngoại giao mới giữa hai nước Mỹ và VN vừa diễn ra khá dồn dập giờ đã đến lúc cần được giới lãnh đạo của hai nước tính toán và triển khai vào thực tế.

Các cụ dạy, thực túc binh cường. Vào TPP, đổi mới kinh tế mạnh dạn, tìm các cơ hội mới để phát triển và tránh cái bẫy lệ thuộc vào TQ nhất là kinh tế là cách tốt nhất giải quyết "thực túc". Và khi đã mạnh thật sự về kinh tế thì quá trình "binh cường" sẽ đến.

Vì thế trên hết với VN, nay là lúc một tư duy mới và mở (open) về cả chính sách đối nội và đối ngoại, về xử lý các mối quan hệ quốc tế cho thời kỳ mới này “cần được xác định, xác định mau chóng”. Chần chừ chậm trễ là vuột mất cơ hội lịch sử.

Vệ Nhi
     

Thứ Hai, 18 tháng 8, 2014

Đường 9 đoạn rốt cuộc là gì?

Đường 9 đoạn rốt cuộc là gì? 


 
Tác giả:  Nê Bá Long Căn Oa Đằng

Vẫn tiếp tục chủ đề "đường 9 đoạn" mà TQ vô lý và ngang ngượi đòi hỏi trên Biển Đông, xin giới thiệu bài viết dưới đây đăng trên Tạp chí Tia Sáng. 


Dù Trung Quốc luôn luôn kiên trì đường 9 đoạn, song từ  chính phủ Dân Quốc đến  chính phủ nước Cộng hòa trước đến nay đều chưa từng giải thích rõ ràng minh bạch rằng đường 9 đoạn rốt cuộc là gì, cũng chưa từng biểu đạt rõ ràng rằng trong phạm vi đường 9 đoạn Trung Quốc có quyền lợi và nghĩa vụ gì, thậm chí chưa từng công bố tọa độ của nó. Cách gọi chính thức của Trung Quốc đối với đường 9 đoạn một cách chung chung là đường biên giới biển (hải cương), chính thức hơn một chút thì gọi là đường biên giới lịch sử, càng mơ hồ hơn nữa chính là cách gọi là vùng biển lân cận của các đảo ở Biển Đông.
 
Theo cách nhận thức bình thường của quốc tế, trong đàm phán tranh chấp ở Biển Đông, đường 9 đoạn chính là ranh giới yêu sách lớn nhất của Trung Quốc. Thế nhưng đến cả chuyên gia Trung Quốc cũng mơ hồ không hiểu rõ ranh giới yêu sách này có cơ sở pháp lý gì. Tháng 6 năm 2011, trong chương trình Nhất hổ nhất tịch đàm của Đài vệ tinh Phượng Hoàng khi thảo luận đến vấn đề Trường Sa, một viên tướng về hưu kiêm chuyên gia quân sự có tiếng khi đề cập đến đường 9 đoạn còn nói: hy vọng chuyên gia trong nước nhanh chóng hoàn thiện cơ sở pháp lý của đường 9 đoạn để tiện cho việc sử dụng trong đàm phán của Trung Quốc.

Vì sao cơ sở pháp lý của đường 9 đoạn lại khó khăn như vậy chứ? Nguyên nhân gốc chính là về khái niệm cơ bản của đường 9 đoạn và điều Trung Quốc tích cực thúc đẩy để có được là mâu thuẫn với “Công ước luật biển quốc tế” được tuyệt đại bộ phận các nước trên thế giới công nhận.


Thứ nhất, phạm vi đường 9 đoạn quá lớn, ngoài Hoàng Sa và Trường Sa ra, ở phần phía Tây Nam của đường 9 đoạn có một vùng biển mà không có bất kỳ một hòn đảo nào, những đoạn này lại chẳng khác gì là vẽ đến trước cửa nhà các nước Philippin, Malaixia, Brunei và Việt Nam... Dù có theo chủ trương của Trung Quốc, tất cả các đảo của Hoàng Sa và Trường Sa đều thuộc Trung Quốc, sau đó dựa vào tất cả các đảo có quyền đề nghị vùng đặc quyền kinh tế làm đường cơ sở, phạm vi có được cũng nhỏ hơn so với đường 9 đoạn.

Ở đây dẫn ra một tấm bản đồ của dân gian để chứng minh cho điều này. Nguồn của bản đồ từ Bách khoa thư mở (Wikipedia), là một bản đồ tổng quát về tranh chấp lãnh hải giữa các nước ở Đông Á và Đông Nam Á. Trong đó có phần về Biển Đông, giả định tất cả các đảo có tranh chấp đều thuộc về Trung Quốc, lại căn cứ theo đường cơ sở trên biển của quần đảo Hoàng Sa, và các đảo nổi trên mặt nước khi thủy triều lên của quần đảo Trường Sa để tính làm đường cơ sở biển để xem là  vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.

Ở đây cần chú thích và chứng minh 3 điểm:

Thứ nhất, Trung Quốc từ trước tới nay chưa từng công bố vùng đặc quyền kinh tế của Biển Đông, cho nên chỉ có thể sử dụng phiên bản của dân gian.

Thứ hai, Trung Quốc từ trước tới nay chưa từng ban bố về đường cơ sở biển của Trường Sa, cho nên chỉ có thể do dân gian tự tính toán ra.

Thứ ba, căn cứ theo quy định của “Luật biển”, chỉ có những đảo nhô lên khỏi mặt nước khi thủy triều lên mới có thể đề nghị được lãnh hải 12 hải lý, thế nhưng trong đó chỉ có các đảo có thể duy trì sự cư trú của con người và bản thân hoạt động kinh tế của họ mới có thể chủ trương về lợi ích của vùng đặc quyền kinh tế, cho nên tấm bản đồ này trên thực tế đã mở rộng phạm vi vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc.

Giả dụ tính toán như trong tấm bản đồ này là chính xác thì theo kết quả của sự tính toán này, đường 9 đoạn còn nằm ở ngoài rất xa vùng đặc quyền kinh tế. Đặc biệt là mấy bộ phận nổi bật là:

(1) Vùng biển ở phía Tây đường 9 đoạn gần với vùng biển ngoài khơi miền Nam Việt Nam.
(2) Vùng biển ở phía Nam đường 9 đoạn gần với Malaixia.
(3) Vùng biển phía Đông Nam và phía Đông đường 9 đoạn gần với Philippin, đặc biệt là đoạn ở phía Đông Nam gần đảo Palawan.

Điều đáng chú ý là trong đó điểm (2) và (3) đều là khu vực hiện nay sản xuất nhiều dầu mỏ, đặc biệt là điểm (2).

Vậy thì giới học thuật có cách nhìn nhận ra sao? Xem xét từ các phân tích của học giả nước ngoài và Trung Quốc, có mấy cách lý giải không giống nhau.

Cách giải thích thứ nhất: đường 9 đoạn là biên giới trên biển của Trung Quốc. Có ý nghĩa là trong đường 9 đoạn là nội hải của Trung Quốc, phía ngoài đường 9 đoạn mới là lãnh hải của nước khác hoặc vùng biển quốc tế. Cách giải thích này không có bất kỳ căn cứ pháp lý nào, thế nhưng trong dân gian Trung Quốc lại phổ biến coi như là định nghĩa của đường 9 đoạn. Trong các bản đồ mà Trung Quốc xuất bản luôn luôn dùng ký hiệu đường biên giới quốc gia để biểu thị  đường 9 đoạn, cũng đã cố ý hoặc vô ý dẫn dắt công chúng ủng hộ cách giải thích này. 

Cách giải thích thứ hai: đường 9 đoạn là vùng nước (mang tính) lịch sử của Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc hiện nay càng ngày càng sử dụng nhiều cách giải thích này, bởi vì theo một số học giả  thì vùng nước lịch sử có nghĩa là vùng nước ấy bao hàm chủ quyền đối với lãnh địa và nước trong vùng. Như vậy thì về cơ bản đã đánh đồng với khái niệm đường biên giới trên biển của Trung Quốc.

Định nghĩa vùng nước lịch sử này được đưa ra trước những năm 1970, 1980, xuất hiện rất lâu trước khi ra đời “Luật biển quốc tế”, có dụng ý quy định một số vùng nước có quan hệ mật thiết với lãnh thổ của một nước. Khái niệm vùng nước  lịch sử này ngay từ ban đầu ở trong luật quốc tế bản thân ý nghĩa của nó đã không rõ ràng, cũng không được thừa nhận rộng rãi. Sau khi “Luật biển quốc tế” ra đời, kể từ đó đã quy định chính thức lãnh hải, vùng tiếp giáp và vùng đặc quyền kinh tế, vùng nước lịch sử cũng như tên gọi của nó, đã dần dần đi đến đường cùng hoặc hồi kết cho một câu chuyện cũng không được đề cập đến ở trong “Luật biển quốc tế”.

Định nghĩa của vùng nước lịch sử này là gì, có quyền lợi gì, có nhiều ý kiến khác nhau. Trong số các chuyên gia luật quốc tế, chỉ có ít người ủng hộ “vùng nướclịch sử”. Hơn nữa những chuyên gia ủng hộ vùng nước lịch sử tương đối có nhận thức chung ở 2 điểm, đó là một quốc gia tuyên bố một vùng nước là vùng nước lịch sử, cần phải 1) không có bất cứ tranh chấp nào; 2) thực hiện hành xử chủ quyền trong thời gian dài ở vùng nước này, đặc biệt là quyền quản hạt về pháp luật. Chỉ có thực hiện 2 điểm này, mới có thể chứng minh vùng nước này trong lịch sử có quan hệ mật thiết với quốc gia đó.

Trong một số ví dụ cũng đã có sự khác biệt rất lớn so với tình hình ở Biển Đông. Ví dụ Vịnh Peter Đại đế (Peter the Great Gulf) ở phía Bắc Biển Nhật Bản đã được nước Nga tuyên bố là vùng nước lịch sử. Vùng nước này ăn sâu vào lục địa, hai bờ đều là lãnh thổ nước Nga, nơi cửa vịnh rộng 108 hải lý (hẹp hơn độ rộng của vùng đặc quyền kinh tế), xung quanh không có quốc gia nào tranh chấp, trong lịch sử, vùng biển này hoàn toàn do người Nga quản lý, đặc là quyền quản hạt về pháp luật. Dù xem xét từ phương diện nào cũng đều phù hợp với nhận thức chung ở trên. Cho dù như vậy, quốc tế cũng hoàn toàn không thừa nhận vùng nước lịch sử này.


  

So sánh với Biển Đông, hoàn toàn cách rất xa lục địa, xung quanh đều là những nước có tranh chấp. Điều quan trọng là trong lịch sử, Trung Quốc từ trước tới nay chưa từng hành xử trên thực tế về quyền quản lý pháp luật đối với vùng nước này. Một ví dụ tiêu biểu nhất là từ thời cổ đến nay tàu thuyền đi lại ở Biển Đông luôn luôn là tự do, từ trước tới nay không cần phải thông báo chính phủ Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc gần đây cũng đã thừa nhận hiện thực này. Trong một bài viết, một học giả Trung Quốc ủng hộ cách giải thích này cũng thừa nhận, so sánh với vùng nước mang tính lịch sử mà các nước khác tuyên bố, tình hình của Trung Quốc là một trường hợp đặc biệt.

Cách giải thích thứ ba: đường 9 đoạn không phải là để chỉ đường biên giới trên biển của Trung Quốc, mà là chỉ tất cả các đảo bãi đá trong đường 9 đoạn đều là lãnh thổ của Trung Quốc. Tác phẩm uy tín của giới học giả là cuốn sách “Nghiên cứu cương vực biển của Trung Quốc” (《中国海洋疆域研究》) ủng hộ quan điểm này. Theo ý kiến của tôi, trong 3 cách giải thích, đây là cách giải thích đứng vững nhất trong luật quốc tế. Thế nhưng cách giải thích này đường như không có chỗ đứng nào trong công chúng. Thậm chí, nhiều “chuyên gia” cũng dường như không tán đồng. Sau sự kiện Biển Đông, tôi đã xem một số video có liên quan của kênh truyền hình vệ tinh Phượng Hoàng, ấn tượng chung là các khách mời đều không từ lập trường này để giải thích cho công chúng về đường 9 đoạn.

Trong việc tuyên truyền của Trung Quốc, đường 9 đoạn sau khi được ban bố, trong thời gian dài (trước thập niên 1970 khi phát hiện ra dầu mỏ) không có nước nào đưa ra ý kiến khác biệt. Cách nói này tưởng như đúng mà lại sai. Chính xác trong vòng hơn 30 năm trở lại đây không có chính phủ nào phản đối về đường 9 đoạn, thế nhưng cũng không có chính phủ có liên quan nào đã từng thừa nhận. Thái độ của các nước đối với đường 9 đoạn là “không thèm để ý đến”.

Trên thực tế, từ trước tới nay không có nước nào thừa nhận quyền lợi của Trung Quốc ở khu vực này. Nước Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai liên tục có những hoạt động quân sự trong đường 9 đoạn, tuyệt đại bộ phận không gặp phải sự can dự của Trung Quốc (ngoại trừ cực kỳ gần với đại lục Trung Quốc và lãnh hải đảo Hải Nam. Trong thập niên 1940, 1950 sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Philippin, Pháp và Việt Nam (Nam Việt Nam) đã nhiều lần đưa ra yêu cầu về chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa, toàn bộ những đảo này đều nằm trong đường 9 đoạn). Nếu như nói sau khi đường 9 đoạn được đưa ra thì không có nước nào đưa ra tranh luận đối với chủ quyền các đảo trong đường 9 đoạn, điều này có phần tự dối mình dối người. Bởi vì nếu như đối với chủ quyền các đảo trong đường 9 đoạn đều xảy ra tranh chấp, vậy thì có thể nói đầy đủ rằng những quốc gia này đều thừa nhận đường 9 đoạn được không? Thực ra, cái gọi là không có nước nào đưa ra phản đối đối với đường 9 đoạn, nói chung chỉ là vì kết quả của việc Trung Quốc từ trước tới nay chưa từng đưa ra các giải thích chính thức về đường 9 đoạn (thậm chí ngay cả tọa độ cũng không hề công bố). (Khi vẽ lên bản đồ, lại không chấp nhận đưa ra định nghĩa, rồi các nước khác cũng không biết căn cứ vào đâu mà đưa ra phản đối).

 

Ảnh hưởng của đường 9 đoạn với ý nghĩa không rõ ràng của nó trong vấn đề tranh chấp ở Biển Đông là rất lớn. Bởi vì đường 9 đoạn chiếm một vùng lớn, ý nghĩa pháp luật không rõ ràng, khiến cho các nước láng giềng không biết đâu mà lần. Ví dụ sự kiện tàu thăm dò của Việt Nam bị tàu của Trung Quốc cắt đứt dây cáp trước đây chính là xảy ra ở sát ranh giới đường 9 đoạn. Vùng đó trong lý luận của Việt Nam là trong vùng đặc quyền kinh tế, khác xa rất nhiều so với lý luận về vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Việc Trung Quốc xử lý hàm hồ đối với đường biên giới biển của mình rõ ràng là một trong nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh xung đột. Giới học giả và chính trị quốc tế đưa ra nhiều chỉ trích đối với trạng thái mơ hồ của đường 9 đoạn, ngay cả trong nước Trung Quốc cũng có chuyên gia đã đưa ra suy nghĩ mới, chủ trương sửa đổi đường 9 đoạn có mâu thuẫn với “Công ước luật biển quốc tế” này.
Bởi vì đường 9 đoạn đã ăn sâu vào trong suy nghĩ của người dân Trung Quốc, muốn thay đổi ngay lập tức e rằng không phải là chuyện dễ. Thế nhưng càng sớm giải thích rõ ràng định nghĩa của đường 9 đoạn, công bố quyền lợi và nghĩa vụ trong đường 9 đoạn phải nên là đạo lý của nước lớn.  

Người dịch: Chử Đình Phúc
Nguồn: http://dddnibelungen.wordpress.com


Thập kỷ 30 của thế kỷ XX, có một số nhân sĩ vẽ cái hình chữ U này lên một số bản đồ, để biểu thị phạm vi vùng biển của Trung Quốc. Ví dụ năm 1936 Bạch Mi Sơ biên soạn sách “Trung Quốc kiến thiết tân đồ” 《中國建設新圖》 đã có vẽ đường liền tương tự. Trên bản đồ này vẻn vẹn nói những nơi này là “nơi làm ăn của ngư dân nước ta, chủ quyền của nó đương nhiên thuộc chúng ta”. Không có bất cứ chứng cứ nào chứng minh, những văn nhân này khi vẽ nên đường như vậy có chứng cứ gì, đã tiến hành những điều tra gì. Dường như có thể nói một cách chắc chắn rằng, đây chỉ là một đường vẽ vô cùng chủ quan.
Sau khi Lâm Tuân biểu thị công khai về chủ quyền ở Hoàng Sa, Trường Sa, chính phủ Trung Quốc quyết định xác định thêm một bước phạm vi lãnh thổ của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đó vào năm 1947 Ty Phương vực Bộ Nội Chính đã xuất bản “Nam Hải chư đảo vị trí đồ” (Bản đồ vị trí các đảo ở Nam Hải (Biển Đông), 《南海諸島位置圖》), trên bản đồ đã vẽ 11 đoạn rời. Chính phủ Dân quốc khi đó tuyên bố những đoạn này là đường biên giới trên biển của Trung Quốc. Năm 1953 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bỏ đi 2 đoạn ở Vịnh Bắc Bộ, thế là đã hình thành đường 9 đoạn mà chúng ta biết rõ hiện nay (sau này thường gọi là đường 9 đoạn).

Bài đăng T/c Tia Sáng, cơ quan của Bộ KHCN với đường Link: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=116&News=7121&CategoryID=42

Thứ Năm, 14 tháng 8, 2014

Đường lưỡi bò, đường 9 đoạn... là sao?

Đường lưỡi bò, đường 9 đoạn... là sao?

 

Trung Quốc đang ngày càng có hành động ngang ngược, gây hấn để hiện thực hóa đường chữ U trên Biển Đông (ta gọi là đường lưỡi bò). 

Thế cái khái niệm đường chữ U, đường Lưỡi bò, đường 11 đoạn, đường 9 đoạn là nó ở đâu ra? Ngay sự xuất hiện của từ ngữ, danh xưng trên biển còn rất hồ đồ đầy ngụy biện này mà những nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh Trung Quốc ra sức xua tuyên truyền cổ súy như lâu nay thì thực chất nó là cái gì, được nhìn nhận và lập luận như thế nào... đều là những vấn đề VN chúng ta phải quan tâm. Quan tâm để hiểu biết về chủ quyền, về thế mạnh lý lẽ cũng như pháp lý của chúng ta đối với khu vực biển đảo và lãnh hải trên biển Đông. Đặc biệt sẽ rất thiết thực và cần thiết nếu nước ta định đưa vấn đề Biển Đông, Hoàng Sa, Trường Sa ra tòa án quốc tế.

Xin giới thiệu một bài viết hội được một số nét làm rõ các ý đã nêu trên đây.

 

Vệ Nhi


----

Đường lưỡi bò ở đâu ra?

Cần phải khẳng định một điều: cho đến năm 1945, cái gọi là “đường lưỡi bò” (hay đường chữ U, đường chín đoạn như ngày nay) chưa hề xuất hiện trong bất cứ tấm bản đồ nào. Vậy nó ra đời lúc nào?


Đây là con tàu Thái Bình chở Lâm Tuân và quan binh Trung Hoa dân quốc xuống xâm chiếm đảo Ba Bình tháng 12-1946    - Ảnh: news.ifeng

Mơ hồ lai lịch “đường lưỡi bò”

Về lai lịch “đường lưỡi bò” này, cho đến nay ngay chính những người Trung Quốc bản địa còn nhiều người đang rất mơ hồ về căn nguyên của nó. Nó được vẽ như thế nào, kỹ thuật đo vẽ khảo sát ra sao không ai nói chính xác được. Giới truyền thông, giới sử học, luật gia, chính trị và địa lý học của Trung Quốc mỗi người trình bày mỗi kiểu, thậm chí mâu thuẫn nhau. Đặc biệt, chưa có một tổ chức quốc tế nào công nhận tính hợp pháp của bản đồ này.

Trong tác phẩm The Chinese U-shaped line in the South China sea: points, lines and zones, giáo sư Trường đại học Minh Truyền của Đài Loan Du Kiếm Hồng cho rằng “đường chữ U” (cách người Đài Loan gọi “đường lưỡi bò”) là do một người vẽ bản đồ tư nhân tên Hu Jinjie (Hồ Tấn Tiếp) vẽ từ năm 1914 sau khi Trung Hoa giành lại đảo Đông Sa (Pratas) từ nhóm thương gia người Nhật năm 1909.

Đường chữ U, theo cách mô tả của giáo sư Du, đó là một đường liên tục chạy từ biên giới đất liền của Trung Quốc vòng xuống bao lấy đảo Pratas (Đông Sa) và Hoàng Sa của Việt Nam, xuyên qua eo biển Đài Loan và dừng ở đường tiếp giáp giữa biển Hoa Đông và Hoàng Hải. Nếu nhìn vào lý luận của giáo sư Du Kiếm Hồng thì điểm cuối của đường chữ U chỉ nằm ở khoảng 16 độ vĩ chứ không kéo dài tận quần đảo Trường Sa như hiện nay. Song cho đến nay không một tài liệu nào của Trung Quốc lẫn Đài Loan nói rõ về gốc tích nhân vật Hu Jinjie cũng như đường chữ U kiểu này.

Thế nhưng, một số học giả Trung Quốc lại dẫn chứng trước bản đồ “11 đoạn” Trung Quốc còn các bản đồ được vẽ từ tháng 12-1934 và tháng 4-1935. Trên tờ Tri Thức Thế Giới tháng 9-2011, giáo sư Đại học Phúc Đán Trần Kim Minh đã hàm hồ lý giải rằng do lo sợ trước việc Pháp chiếm chín đảo ở quần đảo Trường Sa năm 1933, Chính phủ Trung Hoa dân quốc đã nhanh chóng lập “Ủy ban thẩm định bản đồ biển và đất liền” để thẩm định lại tên các đảo và bãi đá ở khu vực biển Đông bằng hai thứ tiếng Trung Quốc và Anh.

Công việc thẩm định này hoàn tất vào ngày 21-12-1934 và bốn tháng sau đó đã chính thức công bố “bản đồ các đảo ở biển Đông”, xác định đường giới tuyến trên biển của Trung Quốc kéo dài đến vĩ tuyến 4. Sau đó, năm 1936 nhà địa lý học Bạch Mi Sơ đã đưa bản đồ này vào tập bản đồ “Trung Hoa kiến thiết toàn đồ” do ông chủ biên. Song, hình hài của những tấm bản đồ tiền thân này dường như chưa bao giờ được nhìn thấy, thay vào đó chúng chỉ được mô tả qua lời của các truyền nhân Trung Hoa ở Trung Quốc, Đài Loan và Hong Kong.


Tướng hải quân Lâm Tuân (hàng đầu, áo trắng) và các thành viên trên tàu Thái Bình trong cuộc hành quân cưỡng chiếm bất hợp pháp đảo Ba Bình tháng 12-1946   - Ảnh: hudong.com


Dấu vết quan binh Lâm Tuân

Giới học giả Trung Quốc hiện đang khẳng định: chuyến thị sát biển Đông của Lâm Tuân vào cuối năm 1946 mới chính là tiền đề hình thành cái gọi là bản đồ có đường chữ U ngày nay (tức “đường lưỡi bò”).

Và năm 2011, các hãng truyền thông lớn của Trung Quốc đồng loạt đưa bài phân tích của giáo sư Lý Kim Minh và Lý Đức Hà thuộc Đại học Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến nhất nhất khẳng định tiền thân của “đường lưỡi bò” là tấm bản đồ “11 đoạn”, vẽ vị trí các đảo ở biển Đông (Trung Quốc gọi là biển Nam Hải) do Sở Phương vực thuộc Chính phủ Trung Hoa dân quốc vẽ năm 1947 và công bố vào tháng 2-1948.

Theo tư liệu của Tân Hoa xã: sau khi trù bị mọi phương án ra khơi, ngày 24-10-1946 đội tàu bốn chiếc Thái Bình, Vĩnh Hưng, Trung Kiến, Trung Nghiệp của hải quân Trung Hoa dân quốc do tổng chỉ huy Lâm Tuân và phó tướng Diêu Nhữ Ngọc đã xuất phát từ cửa sông Hoàng Phố ở Thượng Hải hướng thẳng về Quảng Châu để ra biển Đông, với chiêu bài là giải giới quân Nhật. Ba ngày sau đó, đoàn đội Lâm Tuân đã được lãnh đạo Quảng Đông lúc bấy giờ là La Trác Anh làm tiệc rượu tiếp đón nồng hậu tại cảng Du Lâm của Quảng Châu rồi thẳng tiến ra biển Đông.

Một tư liệu khác từ Hong Kong có thêm tình tiết: sau khi đến Quảng Châu, do thời tiết ở Quảng Châu khi ấy đột ngột chuyển biến xấu nên cả đoàn tàu phải neo đậu tại cảng này đến hơn một tháng. Khoảng 8 giờ sáng 9-12-1946, đoàn tàu chiến bốn chiếc chia làm hai đội đã từ từ rời cảng Du Lâm, hướng thẳng về phía nam. Phó tổng chỉ huy Diêu Nhữ Ngọc chỉ huy hai tàu Vĩnh Hưng và Trung Kiến tiến xuống quần đảo Hoàng Sa. Tổng chỉ huy Lâm Tuân dẫn đầu hai con tàu Trung Nghiệp và Thái Bình hướng đến quần đảo Trường Sa.

Hai chiếc Vĩnh Hưng và Trung Kiến sau đó đã đến đảo Phú Lâm, đảo chính ở quần đảo Hoàng Sa. Sau khi lên đảo, đoàn người của Diêu Nhữ Ngọc đã đổi tên đảo Phú Lâm thành đảo Vĩnh Hưng.

Còn tổng chỉ huy Lâm Tuân theo tàu Thái Bình hướng thẳng đến quần đảo Trường Sa. Về chi tiết này, giáo sư Lý Kim Minh của Trung Quốc cho rằng gần một tháng sau đó, tháng 12-1946 hai tàu do Lâm Tuân dẫn đầu mới đổ bộ lên đảo Itu Aba (tức đảo Ba Bình của VN) thuộc quần đảo Trường Sa. Lâm Tuân lấy tên con tàu Thái Bình để đặt tên cho đảo này.

Ngoài đoàn thủy thủ, hai con tàu này còn chở theo một số quan chức hành chính của tỉnh Quảng Đông, trong đó có thầy trò Trịnh Tư Duyệt và Tào Hi Mãnh là hai nhân viên của Sở Phương vực thuộc Bộ Nội chính của Chính phủ Trung Hoa dân quốc. Theo tư liệu của Trung Quốc thì hai người này đi theo để làm nhiệm vụ tiếp nhận quần đảo Trường Sa (!?). Ngày 15-12-1946, toàn thể quan binh văn võ đi theo hai tàu này đã có mặt ở đảo này để tiến hành nghi thức dựng bia, tiếp nhận đảo. Đây là một hành động bất hợp pháp, nếu không nói là một sự xâm phạm trắng trợn chủ quyền của VN.

Bình luận của nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc

Khi thương nghị với các nước thuộc phe đồng minh về việc giải giới và xử lý đối với Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trong Tuyên bố Potsdam đưa ra ngày 24-7-1945 giữa Harry S.Truman (tổng thống Hoa Kỳ), Winston Churchill (thủ tướng Anh) và Tưởng Giới Thạch (tổng thống Trung Hoa dân quốc) đã không yêu cầu “thu hồi” Hoàng Sa và Trường Sa về cho Trung Quốc, vì một lẽ đơn giản là hai quần đảo này không thuộc Trung Quốc.

Điều này là lý do giải thích vì sao tại Hội nghị San Francisco 1951 sau đó, các nước đồng minh đã không yêu cầu Nhật Bản trao trả cho Trung Quốc “quần đảo Tân Nam” ( - Shinnan Shoto - Trường Sa) và một phần quần đảo Hoàng Sa mà quân đội Nhật đã chiếm đóng, xây dựng căn cứ quân sự trong Thế chiến thứ hai.
Và như vậy, việc đưa tàu chiến ra chiếm đóng Hoàng sa - Trường sa của tướng Lâm Tuân năm 1946 là một cưỡng chiếm bất hợp pháp.

------

Nguồn: Mạng internet và báo Tuổi Trẻ


Thứ Năm, 7 tháng 8, 2014

Quan nhiều mà hiệu quả phục vụ Dân vẫn thấp



Quan nhiều mà hiệu quả phục vụ Dân vẫn thấp
 
Trong tiêu đề "Nhìn thẳng vào thực tế để thay đổi" (xem bài dưới đây), Tiến sĩ Ngô Thành Can (Học viện Hành chính Quốc gia) có 4 đề nghị rất đáng suy nghĩ. Ở những nước công nghiệp phát triển - nơi mà nhà cầm quyền đặt trọng tâm phục vụ người dân là chính bởi làm ngược lại thì dân không bầu cho họ nữa - thì người ta cũng làm hệt như đề xuất của vị tiến sĩ Can như thế này thôi.

Ở nước mình đội ngũ cán bộ công nhân viên chức (phi sản xuất) ngày càng tăng cao. Nhà nước thì luôn luôn kêu gọi hô hào giảm biên chế nhưng xem ra không kết quả, số lượng biên chế ở các cơ quan đơn vị hành chính chẳng bớt đi mà lại phình to lên. Điều đáng chú ý là người ăn lương đông lên nhưng hiệu quả công việc xem ra chả cải thiện, thậm chí đi xuống vì hình như sinh ra nhiều rào mới chứ chẳng thấy giảm...

Xin mời bà con vào đọc bài viết đã giới thiệu ở dưới đây.  

Vệ Nhi  

-----



Nhiều quan thế, dân sống sao nổi !


TS. Ngô Thành Can *
Top of Form

LTS: Tiếp theo chủ đề chi tiêu tiết kiệm, hạn chế lãng phí, Tuần Việt Nam giới thiệu góc nhìn của tác giả Ngô Thành Can, nhìn nhận từ câu chuyện tổ chức cán bộ địa phương.

Mới đây, thông tin về tình trạng "lạm phát" cán bộ ở một số đơn vị chính quyền tại một tỉnh ở vùng đông bắc đất nước được báo chí đưa rầm rộ đã khiến nhiều người không khỏi sửng sốt.
Theo đó, chỉ nguyên một UBND phường Hồng Hải (TP Hạ Long) có tới 475 cán bộ, còn UBND thị trấn Mạo Khê (huyện Đông Triều) có tới 639 "công bộc" hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước... Tính toán cho thấy, hàng năm, ngân sách phải chi gần 5,5 tỷ đồng để "nuôi" đội ngũ nhân sự trên của Mạo Khê.

Còn nhớ, vừa năm ngoái dư luận cũng phải xôn xao về một xã mấy trăm cán bộ ở tỉnh Thanh Hóa.



Mấy tầng lãng phí

Có một câu chuyện từng được nhắc trong một bài báo của Tuần Việt Nam khiến tôi nhớ mãi. Đó là, Phật Hoàng Trần Nhân Tông, sau khi nhường ngôi cho vua con Trần Anh Tông, ít lâu sau, từ Yên Tử trở về, liếc qua cuốn sổ ghi chép việc vua con phong quan, người đã cầm cuốn sổ đó vất ra giữa sân. Và thét lên, tiếng thét còn nhói đau cho đến tận bây giờ, dù 700 năm đã trôi qua: "Đất nước bé bằng bàn tay, quan nhiều như thế, dân làm sao sống nổi"(!).

Câu chuyện tiền nhân, đến nay dường như vẫn nguyên giá trị.
Nếu lực lượng cán bộ địa phương hùng hậu tương xứng với chất lượng phục vụ người dân và trình độ phát triển của địa phương thì còn có thể lý giải. Nhưng đông thì thấy, mà chất lượng vẫn chẳng thấy đâu. Thậm chí, phục vụ đâu không rõ, các quan địa phương có lẽ "nổi tiếng" nhiều hơn về năng lực "hành". Nào cán bộ xã ăn chặn tiền hỗ trợ người nghèo, ăn chặn tiền hỗ trợ thiên tai, ăn chặn tiền tết của dân...

Còn khi có các vụ việc xảy ra tại địa phương, dư luận, báo chí hỏi cán bộ thì thường được đáp rằng chưa thấy báo cáo hay chưa biết. Thế nhưng, trong thực tế, người dân vẫn "truyền tai" nhau rằng, ví dụ chỉ nghe tiếng xe ô tô chở vật liệu đến đâu, một lúc sau đã thấy cán bộ phường có mặt "làm luật".

Chi nhiều tiền để nuôi một bộ máy làm việc kém hiệu quả rõ ràng là một lãng phí lớn. Trong khi có những ý kiến cho rằng lãng phí nghiêm trọng chẳng kém gì tham nhũng. Còn bàn về trách nhiệm thì có thể nói như Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng: "Lãng phí nhìn thấy sờ sờ mà... đành chịu, không thấy quy trách nhiệm, "quy tội" được ai".


Có người sẽ nói, trình độ cán bộ chưa cao thì cần đào tạo, bồi dưỡng thêm. Tuy nhiên, đây cũng lại là một khâu... lãng phí khác.

Chúng ta có nhiều loại chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức cấp xã/ phường rất phong phú và đa dạng. Nhiều tỷ đồng của ngân sách đã được chi cho hoạt động này.

Song hiệu quả đến đâu? Xin mượn lời một cựu lãnh đạo của một đơn vị nhà nước, nói về cung cách đào tạo, bồi dưỡng của chúng ta thời gian qua: "Một cán bộ công chức như tôi có 40 năm đi làm thì thời gian đi học đã mất phân nửa, tính ra khoảng 20 năm... Mà giữa việc được học với việc đang làm không liên quan gì".

Theo vị cựu lãnh đạo này, đó là tình trạng chung của công chức Việt Nam: được bồi dưỡng về chính trị, nhận thức rất đầy đủ nhưng kiến thức công việc, chuyên môn lại thiếu. Cán bộ ở các cấp chính quyền, lý luận thì nhuần nhuyễn nhưng đến kỹ năng tiếp dân thế nào có khi cũng không được học, thực hiện việc cấp trên giao thì lúng túng. "Có những cán bộ được đề bạt lên cấp rất cao nhưng chốt lại không biết làm việc gì cụ thể" .

Nhìn thẳng vào thực tế để thay đổi

Nhiều khi chúng ta hay tự huyễn hoặc rằng ta là dân tộc giỏi giang, thông minh, rồi cơ quan điều tra thuộc hàng "nhất thế giới"... Tôi không dám phát biểu nhiều về những nhận định này, chỉ xin nhắc lại một ý mà bà Giám đốc quốc gia PISA VN từng đưa ra: "Trong quan niệm của OECD, Việt Nam là nước đói nghèo, lạc hậu, các chỉ số rất thấp, vì thế họ cũng nghĩ rằng kết quả của mình không cao. Vì thế họ kiểm tra rất kỹ khi nhận thấy hiện tượng đột biến".


Bản thân Việt Nam cần nhìn nhận và hành động sát với thực tế một đất nước còn nghèo, còn thua kém bạn bè thế giới. Trong một điều kiện như vậy, lãng phí là làm chậm sự tiến trình phát triển của dân tộc, có tội với tương lai đất nước.

Soi vào một khía cạnh cụ thể là công tác tổ chức, quản lý lãnh đạo cấp xã/ phường, để tránh lãng phí, chúng ta cần có những hành động chấn chỉnh nghiêm túc và dứt khoát:

Thứ nhất, cần thống nhất chỉ một đầu mối quản lý từ trung ương xuống địa phương. Khi đã thống nhất đầu mối quản lý, cần rà soát, xem xét lại toàn bộ các quy định về tổ chức và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức các cấp, trong đó bao gồm cả cấp xã. Xây dựng một cơ cấu mới, hệ thống vị trí công việc mới, trên cơ sở mô tả công việc cụ thể, chi tiết, hiệu quả.

Thứ hai, tuyển dụng công khai thống nhất trong toàn quốc với cơ quan tuyển dụng chuyên nghiệp ở trung ương, có các chi nhánh ở địa phương. Quy trình tuyển phải độc lập, không bị phụ thuộc hay chịu bất kỳ áp lực nào của chính quyền địa phương. Chừng nào chưa thi tuyển công khai, minh bạch, chưa coi trọng người tài thì nạn "mua quan, bán tước", chạy công chức còn mãi dai dẳng.

Thứ ba, xây dựng hệ thống khen thưởng tương xứng trên cơ sở thành tích, cống hiến thực chất. Song song với đó là quy trình kỷ luật, sàng lọc nghiêm minh đối với cán bộ, công chức không đáp ứng được yêu cầu công việc, phẩm chất. Hình thành tổ chức đạo đức công vụ để xem xét đánh giá cán bộ, công chức về mặt đạo đức trong thực thi công vụ.

Thứ tư, tổ chức lại bộ máy hệ thống chính trị cơ sở. Những người ăn lương từ ngân sách hay hưởng phụ cấp từ ngân sách nhà nước, địa phương, nguồn thu của xã, phường hay từ thôn, tổ khu phố đều phải có mô tả công việc rõ ràng và chịu sự kiểm tra, đánh giá của tổ chức, của người dân.

Xin mượn lời một cựu lãnh đạo của một đơn vị nhà nước: "Một cán bộ công chức như tôi có 40 năm đi làm thì thời gian đi học đã mất phân nửa, tính ra khoảng 20 năm... Mà giữa việc được học với việc đang làm không liên quan gì". Theo vị cựu lãnh đạo này, đó là tình trạng chung của công chức Việt Nam: được bồi dưỡng về chính trị, nhận thức rất đầy đủ nhưng kiến thức công việc, chuyên môn lại yếu và thiếu. Cán bộ ở các cấp chính quyền, lý luận thì nhuần nhuyễn, nhưng thực tiễn và kỹ năng công việc thì ít được chú trọng.Top of Form


Bác Hồ từng nói: nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ, nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ. Từ Chủ tịch nước đến giao thông viên cũng vậy, nếu không làm được việc cho dân, thì dân không cần đến nữa.

Người làm "cán bộ" cần hiểu sâu sắc rằng, đồng lương của họ, tiền nuôi sống họ là của dân, từ tiền thuế của nhân dân, từ tài nguyên của đất nước. Vì thế, họ cần nỗ lực để làm việc xứng đáng với từng đồng tiền mà người dân phải đổ mồ hôi, nước mắt để làm ra, không thể cứ làm "người thừa" của dân, vật cản của tiến bộ.

N.T.C.
*Tác giả làm việc tại Học viện Hành chính Quốc gia

Nguồn: TuanVietnam.Net




Bottom of Form


VỀ HỘI LÀNG   8 tháng 3 Âm lịch hằng năm là ngày Hội làng truyền thống quê tôi. Năm nay ngày hội rơi vào 2 ngày Nhà nước quy định Quốc tang ...