Thứ Ba, 30 tháng 11, 2010

Bàn cờ quốc tế (2)

Bàn cờ quốc tế (2)


NGHĨ VỀ MỘT CÁCH CHƠI CỜ

Hôm trước viết bài về Triều Tiên (TT) http://vn.360plus.yahoo.com/nguyenvinh-nguyenvinh/article?mid=1481&prev=-1&next=1473 đoạn cuối còn bỏ lửng khi nhắc đến một điều rất cơ bản. Đó là nhân tố nào đứng đằng sau những thất thường và bất cần trong nhiều ứng xử quốc tế mà TT vẫn thể hiện? Cách ứng xử mà người ta nói nó như một cách “trêu ngươi” thiên hạ, là một mình một đường, chẳng kiêng dè một ai dù đó là Mỹ, Nhật hoặc HQ. Thế mà đất nước này, cỡ nước không lớn, kinh tế cũng đâu mạnh, lại vẫn cứ tồn tại vững chãi như bao nước khác. Thì ít ra là ở khía cạnh quân sự, không phải ai cũng dễ bắt nạt được TT. Lạ như thế, nhưng ngẫm nghĩ kỹ thì vẫn có thể hiểu được.

Đầu tuần sáng nay một dòng tin chạy khắp trên nhiều cột báo của thế giới: Trung Quốc (TQ) kêu gọi họp khẩn cấp 6 bên. Bắc Kinh đề xuất nếu có thể được thì khai hội ngay tại thủ đô nước mình vào cuối tuần (cơ chế 6 bên gồm Bắc&Nam TT, Mỹ, TQ, Nhật và Nga).

Trong lúc mà từng giờ độ căng thẳng gớm ghê ở bán đảo TT chực nổ bùng thành một cuộc chiến tranh thì hành động xì van của TQ cho thấy vai vế của đất nước này là cỡ thế nào ở khu vực Đông Bắc Á. Và một lãnh đạo cao cấp của họ đã có mặt ngay trước đó tại Seoul. Nhà thuyết khách này dù chưa đạt được ngay một thỏa thuận gì với HQ, cũng là các đối tác khác như Mỹ và Nhật Bản, nhưng những gì mà TQ nhắn gửi cho cả 5 đối tác trực tiếp dự phần vào Đông Bắc Á chắc chắn được từng bên đón nhận với những tính toán thận trọng cần thiết. Khó mà ai đó lúc này không tính đến nước cờ kiềm chế khi đứng trước một thông điệp “kiểu hòa giải” từ Bắc Kinh phát ra.


Rõ ràng là tình hình bán đảo sẽ còn tiếp tục căng thẳng như mấy chục năm nay nó vốn đã thế. Chỉ có điều nhân tố các nước lớn, tức các thế lực mạnh mẽ nhất của thế giới ngày nay luôn đứng đằng sau các vấn đề nóng, biết cách khéo léo và kín đáo có tiếng nói ở các vùng địa chính trị chiến lược của thế giới.

Bên cạnh đó, các nước nhỏ hoặc trung bình dù quyền lợi và các lợi ích dân tộc hết sức sát sườn, thì muốn hay không đều bị chi phối bằng cách này cách khác từ các thế lực đại cường quốc kể trên.

TT với 2 miền Nam Bắc đều không chệch khỏi quy luật cũng như quỹ đạo chi phối kiểu không mong muốn này.

Ngày nay các mối quan hệ quốc tế đã khác trước, tức khác hẳn với thời kỳ chiến tranh lạnh với sự phân rẽ ghê gớm của các khác biệt ý thức hệ. Nhưng bản chất của các xung đột giữa các quốc gia nhỏ hoặc trung bình cũng vẫn không thay đổi là bao nhiêu so với trước kia xét về mặt bản chất. Nghĩa là thế nào thì vẫn không dứt khỏi sự phụ thuộc vào các nước lớn cũng như các ảnh hưởng cơ bản của họ tác động đến số phận đất nước mình.

Nhớ lại các cuộc chiến tranh chống đế quốc và thực dân của chúng ta, khi ấy ảnh hưởng của các nước lớn là quá rõ. Thậm chí trong một số thời đoạn lịch sử chúng ta còn bị họ ngã giá sau lưng mình mỗi khi sắp kết thức một cuộc đàm phán. Biết vậy mà đành chịu vì đó là vấn đề thực lực, là các tương quan lực lượng mà chúng ta chưa vươn lên để làm chủ một cách chắc chắn được. Thì chịu vậy chứ biết sao!

Sinh ra bàn cờ quốc tế là cần bố trí kẻ đánh người chơi. Chơi được một nước cờ hay không phải là dễ. Nó hội bao nhiêu yếu tố mới thành. Các kỳ thủ hình như đều muốn chiến thắng. Có đâu biết rằng những người chơi cờ với mình cũng mang tâm thế đó thì ai nhường ai đây. Quan trọng là phải biết mình biết người để có không thắng được đối thủ thì cũng tránh để thua trắng tay, lấm bụng.

Trong bàn cờ thế giới, kỳ thủ lớn và mạnh có những cách chơi riêng của họ. Kỳ thủ nhỏ và trung bình, dù không mạnh, không nhất thiết là phải đi những nước cờ lép trừ phi đầu óc chẳng có gì đáng kể. Kỳ thủ nhỏ và trung bình trong nhiều trường hợp là bị lôi kéo cuốn vào thì vẫn có thể tham gia để cùng đánh những ván cờ lớn của lịch sử. Vấn đề là chọn nước đi.

Giải quyết các mối quan hệ quốc tế cho ổn thỏa là công việc gặp phải của mọi quốc gia trong thời đại hội nhập này. Trước đây ta hay nghe về một thứ chủ nghĩa quốc tế trong sáng vượt qua biên giới. Dần dần thực tiễn đời sống quốc tế bộc lộ những góc khuất từ lợi ích quốc gia dâng lên và đòi hỏi. Và đó là những đòi hỏi chính đáng. Chủ nghĩa quốc tế như vậy đã lùi dần và có thể như không tồn tại nữa.

Nói ra điều này có vẻ như quá thực dụng chủ nghĩa, nhưng quả thật ngày nay cái thước đo cao thấp cho các kỳ thủ để làm nên những người được gọi là bậc cao cờ chính là những người luôn biết tôn vinh trên hết các lợi ích quốc gia của dân tộc mình trước những cơn phong ba của các mối quan hệ quốc tế rằng rịt và đầy phức tạp của thời nay.

Nguyễn Vĩnh

Thứ Bảy, 27 tháng 11, 2010

Bàn cờ quốc tế (1)

Bàn cờ quốc tế (1)



Lâu không viết gì về các vấn đề quốc tế, thử trở lại xem sao. Muốn viết cái gì đó về Bắc Triều Tiên vì mới đây đọc một tin cũng hơi là lạ: “Triều Tiên đánh Hàn Quốc để tạo thanh thế cho Jong Un”. Đúng đấy là cái tít trên một tờ báo điện tử của ta đưa tin. Tạo thanh thế cho một lãnh đạo mới mà người ta nã cả ngàn quả pháo vào lãnh thổ một nước khác thì cũng khiếp thật. Cách tạo thanh thế vậy chắc không phải là một thông lệ khi xử lý các vấn đề trong quan hệ quốc tế.

Đúng là với thế giới bên ngoài, cái tên Jong Un (họ Kim) cũng chỉ mới vừa biết tới sau dịp thăng một loạt chức cho ông này. Ông là con trai thứ của ông Kim Jong Il, lãnh tụ tối cao đương nhiệm của Bắc Triều Tiên. Đương nhiên trước đó người ta ít biết đến ông con mới nổi này.

Còn nhớ khi mới đưa nhân vật này ra mắt thiên hạ, ông được cha mình sắp xếp đứng phía dưới tới mấy nhân vật khác. Chỉ sau một thời gian rất ngắn ngủi thì ý đồ “là người kế vị” đã hiện rõ. Ông tiến vọt lên bậc thứ 2, chỉ đứng sau cha, dù tuổi đời ông mới là 27. Trong một cơ chế chặt chẽ và lớp lang như chế độ cộng sản Bắc Triều Tiên, việc vượt cấp siêu tốc này phải nói là rất đặc biệt. Và lạ là đằng khác.

Nhưng lạ hơn nữa là chuyện để tạo nên khuôn mặt mới quyền uy về quân sự, ông Kim Jong Un người chưa hề qua các thử thách huấn luyện cũng như không trải nghiệm thực tập và rèn luyện qua thực tế chỉ huy quân sự, ông này đã một bước nhảy vọt lên chức Đại tướng. Phong tướng kiểu vậy cũng chỉ xảy ra ở Triều Tiên.

Điều đáng nói nhất là qua chọn người kế vị như thế này, đất nước Triều Tiên đã thể hiện công khai chuyện cha truyền con nối. Nó chẳng khác các chế độ phong kiến trước kia vẫn làm. Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai 1945, lãnh tụ nước Triều Tiên mới là ông Kim Nhật Thành. Vài thập kỷ trước, ông truyền ngôi cho con trai mình là Kim Chính Nhật (Kim Jong Il). Và nay đến lượt lãnh tụ này truyền tiếp cho con là ông Kim Jong Un. Tức từ ông nội truyền tiếp đến cháu nội giữ các chức vụ cao nhất của Triều Tiên.



Cũng hiểu công việc nội trị quốc gia của từng nước là quyền của người ta, mình không can thiệp vào được. Tuy nhiên việc nhìn nhận nó, rút từ đó những bài học kinh nghiệm để xử thế cho mình là một quyền bình thường. Chắc như thế không ai có thể chụp cho cái mũ là nói xấu nói tốt hoặc can thiệp vào chuyện nội bộ của nước khác được.

Hiện nay về mặt chính thức, 4 quốc gia là Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba và Bắc Triều Tiên được thế giới xếp chung vào một loại là các nước xã hội chủ nghĩa, nơi có các đảng cộng sản toàn quyền lãnh đạo (Triều Tiên gọi tên khác là đảng lao động). Họ xếp là tùy họ, còn mỗi nước chắc chắn có những cái khác nhau chứ đâu một thể đồng nhất. Có thể chỉ có Bắc Triều Tiên là công nhiên thực hiện lãnh đạo ở cấp cao nhất kiểu cha truyền con nối như trên.

Đành rằng ở các quốc gia khác, ngay như Mỹ cũng thấy có ông A ông B “Cha”, ông A ông B “Con” nào đó lãnh đạo cấp quốc gia. Nhưng ở đó khác về bản chất, vì có những ràng buộc về luật pháp. Con ông cháu cha thì cứ vẫn bị kiểm soát bằng các đạo luật, bị các thế lực đối lập “soi” tới nơi tới chốn. Nên các ông giời con, giời cháu nào đó cũng phải trần mình trong các hoạt động chính trị một cách chuyên nghiệp nhất, rồi từ đó trưởng thành, được đảng chính trị cất nhắc dần qua bầu cử thì mới trở thành chính khách, mới được toàn dân bầu bán vào các chức vụ tương xứng. Nên so với trường hợp ở Bắc Triều Tiên, Mỹ hoặc các nước phương Tây có những điểm khác biệt căn bản.

Vậy là Bắc Triều Tiên họ cứ một đường họ đi, một cách họ làm. Chẳng giống ai. Mà công nhiên, công khai như thế. Nhất là lâu nay có câu chuyện hạt nhân và “khủng hoảng hạt nhân” do nước này cố ý tạo ra.

Về chuyện liên quan đến an ninh bán đảo, đến các quan hệ quốc tế thì Triều Tiên làm như thế, làm khác người. Còn về chuyện nội trị thì họ cứ một kiểu biệt lập họ diễn. Nhưng có điểm rất lạ là tại Triều Tiên tưởng như những thiếu thốn mọi mặt, sự cắt đứt rất nhiều mối giao lưu quốc tế thì các sinh hoạt thể thao hoặc văn hóa sẽ lụi tàn. Nhưng trái lại họ vẫn có nhiều thành tựu quan trọng về thể thao và văn hóa nghệ thuật trên trường quốc tế...

Có người nhẹ dạ thì bảo, như vậy cái nước này - đúng hơn phải là ban lãnh đạo của nước này, chứ người dân thì chẳng thể định đoạt được – đang chung sống trong một xã hội hiện đại như chúng ta sống thì hành động như thế là liều mạng, thậm chí quá lời cho là điên là khùng. Người không ngại về mặt húy kỵ đối ngoại còn ngầm ví nước này như một thứ chí phèo quốc tế hiện đại (người viết không đồng tình với cách gọi và ví von như trên).

Bản thân tôi không tin ở cách lý giải còn đơn giản như thế. Nhìn hiện tượng rồi suy diễn thế dễ quá. Cái sâu xa nằm ở đằng sau, bên trong của các biểu hiện bề mặt bên ngoài. Bởi người ta có biết đâu rằng Triều Tiên múa may được món võ cao cường đó, một mặt ở đây có góp sức của thứ đặc thù trong tính cách con người và dân tộc này mà ta chưa biết hết, thêm nữa là thứ đặc thù có từ các cấp lãnh đạo cũng như từ đóng góp của gioi tinh hoa trong đất nước này tạo nên. Và quan trọng hơn nữa là những thế lực mạnh mẽ đứng đằng sau họ, chứ họ không hoàn toàn đơn độc. Trong số này nổi rõ một vài quốc gia hùng mạnh không kém gì Mỹ hay Tây Âu không bao giờ là đồng minh đúng nghĩa, nhưng họ khôn ngoan bật đèn xanh cho Triều Tiên trong nhiều chuyện, không hiếm chuyện động trời chỉ có lịch sử sau này mới bật mí. Không như thế thì Bắc Triều Tiên đã không thể tồn tại cho đến hôm nay.

Cái hay và cũng khác thường của các câu chuyện quan hệ quốc tế thời nay là ở những thế cờ như thế. Hy vọng còn được bàn nhiều hơn về cái bàn cờ quốc tế hiện đại trong các bài sau.

Nguyễn Vĩnh

Chủ Nhật, 14 tháng 11, 2010

Bác Đằng có thể “thông cảm” cho báo chí được không?

Bác Đằng có thể “thông cảm” cho báo chí được không?




Tôi không tìm được từ ngữ nào hơn chữ “thông cảm”. Biết rằng chữ này rất dễ gặp phản ứng, có thể là sự không đồng tình của nhiều bạn đọc. Nhưng vì có làm báo nên tôi hiểu những cái khó, những cái thắt buộc vô hình của nghề này. Nhưng để xuống cuối bài hãy nói, nay đi vào việc chính.

Bác Lê Hiếu Đằng mới đây có công bố trên mạng một bài viết về việc cần công khai trước dư luận bản Kiến nghị của các vị nhân sĩ trí thức đề nghị nhà nước dừng khai thác bô-xít ở Tây Nguyên.


Chúng ta chắc cũng biết, bác Lê Hiếu Đằng là Luật sư, từng là Phó Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam – tổ chức nhân sĩ trí thức miền Nam sát cánh cùng Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam hồi đất nước đang chiến đấu giành độc lập thống nhất Tổ quốc. Sau chiến tranh bác Đằng một thời giữ chức Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh và hiện nay là Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Uý ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Một chi tiết nữa là bác Lê Hiếu Đằng từng hoạt động cùng thời với nhiều vị nay là lãnh đạo cấp cao của đất nước như các ông Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang, Lê Thanh Hải... Tức là bác Đằng thuộc lớp cán bộ có tri thức, uy tín và lão thành.

Trong bài viết của mình, sau khi nêu lên tầm quan trọng của bản kiến nghị có chữ ký của gần 3.000 người, trong số này có những nhà khoa học, trí thức đầu đàn, nhiều bậc lão thành cách mạng, các quan chức, tướng lĩnh... Đặc biệt có vị từng là lãnh đạo cấp cao như Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình. Một khuôn mặt rất đáng chú ý nữa đã ký tên Kiến nghị là Giáo sư toán học Ngô Bảo Châu, người được các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước tiếp chuyện và mới đây được chính phủ tặng nhà công vụ có giá trị cao.

Chưa kể từ hơn một năm trước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã từng có những bức thư gửi cho lãnh đạo cấp cao là hãy xem xét và cân nhắc kỹ các mặt, nếu thấy lợi ít hại nhiều như Đại tướng phân tích thì hãy dừng dự án khai thác bô xít ở Tây Nguyên.

Cho nên với một Kiến nghị như phần trên nói, quan trọng là vậy mà bác Đằng nhận xét là không có tờ báo nào của ta đăng tải công khai thì thật lạ. Vì thế bác Đằng đặt câu hỏi: “Tôi xin thẳng thắn đặt câu hỏi, có ai đã ngăn cản các phương tiện truyền thông công bố kiến nghị trên? Nếu có, thì đó là tước quyền được thông tin của nhân dân, quyền được hiến pháp và pháp luật bảo hộ, như thế người ngăn cản đã vi phạm pháp luật của nước CHXHCNVN”.

Bác Lê Hiếu Đằng viết tiếp: “Nếu không phải như thế, thì tôi xin hỏi giới nhà báo nước ta: Tại sao các bạn phải sợ mà không dám đăng tải một kiến nghị có tầm quan yếu đến vận mệnh dân tộc, đã được lưu truyền khá lâu trên nhiều mạng, đã được chính thức gửi tới Quốc hội? Như thế có phải các bạn đã từ bỏ cái quyền quan trọng nhất của mình và cũng là yêu cầu cao nhất của nhân dân với các bạn: thông tin trung thực những gì liên quan đến lợi ích của người dân? Tôi tin rằng tờ báo nào mạnh dạn đăng tải Kiến nghị nói trên sẽ chẳng bị ai bắt tù, ngược lại sẽ được nhân dân quý trọng”. *

Thưa vâng, bác Đằng nói vậy là đúng cả. Chỉ có một chi tiết rất cần có lời bàn với bác Lê Hiếu Đằng, đó chính là đoạn cuối: Bác Đằng bảo rằng “... tờ báo nào mạnh dạn đăng tải Kiến nghị nói trên sẽ chẳng ai bắt tù, ngược lại sẽ được nhân dân quý trọng”.




Đúng là nhân dân mình thì lúc nào cũng tôn vinh quý trọng những người thay mặt họ nói lên những tiếng nói trung thực hoặc đưa lại cho họ những thông tin trung thực. Bác khẳng định vậy là hoàn toàn đúng, lúc nào cũng đúng.

Nhưng cái ý của bác Đằng là làm vậy “chẳng ai bắt tù” thì chúng tôi e rằng ý đó về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng có thể là chưa thật chuẩn, hoặc chưa thật chính xác trong trường hợp với báo chí ta.

Đúng là không ai bắt tù nhưng cái trách nhiệm phải nhận lãnh của tờ báo nào đó đăng vấn đề bác nói vào lúc này chắc là chuốc thêm sự khó và phức tạp cho báo. Bác Đằng cứ theo dõi quan sát báo chí viết và phát thanh truyền hình đưa tin về Quốc hội dịp vừa qua thì bác thấy cả. Nhiều nội dung thảo luận toàn thể tại hội trường cũng như tại các tổ xung quanh câu chuyện bô xít đến khi tường thuật lại trên báo chí truyền thông đã bị lược bỏ đi rất nhiều chi tiết. Bài phát biểu bằng văn bản trọn 7 phút chỉ dành cho câu chuyện bô xít của ông Dương Trung Quốc đã không được nhắc đến một từ trong buổi Thời sự 19g00 ngay tối hôm đó trên đài truyền hình quốc gia - một điều rất lạ vì các kỳ họp Quốc hội trước đây ý kiến và hình ảnh của ông Quốc thường rất hay xuất hiện trên đài này. Tức vấn đề bô xít trong hoàn cảnh hiện nay có sự phong tỏa về thông tin?

Những người ít nhiều làm công việc báo chí ở nước ta đều biết đến cái luật bất thành văn trong việc xử lý các loại tin tức bài vở nhạy cảm. Khi đó vô hình trung các báo đều có cách tự phong tỏa thông tin.

Ai nêu ra hoặc xếp đặt những việc nào, sự kiện nào là nhạy cảm thì những người đã làm công việc báo chí đều biết rất rõ. Những cái đó ta gọi gọn là sự chỉ đạo. Còn thế nào là nhạy cảm thì cũng có nhiều ý kiến chưa giống nhau, hoặc thậm chí là rất khác nhau... Nhưng một khi tự biết một vấn đề nào đó là nhạy cảm thì báo chí chính thức của ta thường khéo lảng đi. Chẳng ai dại húc đầu vào để có thể mang thêm sự phức tạp, thậm chí chuốc vạ cho cơ quan báo chí của mình. Thực tế lâu nay là thế, đố vị lãnh đạo báo nào bác được cái ý tôi vừa viết ở trên.

Nên thôi đành bác Đằng ạ, báo chí ta bây giờ các anh chị ấy đang quản không phải là sợ bị bắt, bị tù tội, bởi bắt bỏ tù ai cũng phải có luật pháp. Và cũng không ai nỡ đưa ra cách xử sự tùy tiện đối với hàng ngũ lãnh đạo báo chí đã qua sàng lọc thử thách và cất nhắc. Vậy báo chí nay chỉ là tránh phiền phức, tránh hệ lụy mà thôi, dù biết rằng như thế có thể bị người đọc chê trách là “ít trách nhiệm”, “không có tinh thần chiến đấu”, “thiếu dũng cảm…”. Đó chẳng phải là mấy khúc tâm trạng, day dứt và buồn trong thực tế làng báo chí ở ta hiện nay hay sao?

Nhân chuyện không/chưa đăng báo về Kiến nghị bô xít, chúng ta nhớ lại cách đây hơn một năm, rồi vừa đây lại đặt vấn đề trở lại – là nhóm lập Trang mạng Bauxite Việt Nam đã có nhiều triệu lượt truy cập từng có thư ngỏ gửi lãnh đạo cấp cao. Những phân tích và lập luận khúc chiết nêu lên lẽ thiệt-hơn của dự án bô xít Tây Nguyên, cân nhắc trong ngoài, trước sau... để đưa ra khuyên can nhà nước: Hãy dừng khai thác bô xít trong thời điểm chưa thuận, chưa chắc chắn thành tựu (về mọi phương diện kinh tế, môi trường sinh thái, an ninh quốc phòng hiện nay). Suốt thời gian dài vừa qua, không thấy tờ báo chính thức nào của ta thông tin về việc này cho nhân dân và bạn đọc biết tới một sự việc rất nổi bật trong đời sống mạng trên đây cả.

Vì thế xin được nhắc lại ở đây, đúng là chẳng ai bắt tù, nhưng đài báo ta ít nhiệt tình xông vào phản ánh các ý kiến phản biện - trong trường hợp ta đang nói là chuyện bô xít - là có những lý do riêng của nó. Một khi ban tuyên giáo trung ương và bộ thông tin truyền thông chưa bật đèn xanh về một vấn đề gọi là nhạy cảm thì các vị tổng biên tập không vội gì đăng tải các bài viết về các vấn đề đó. Kiểu tự kiểm duyệt như thế là có thật, như một thứ luật bất thành văn trong nghề lãnh đạo các tờ báo lâu nay. Bởi báo chí ta là do Đảng lãnh đạo, có sự chỉ đạo. Điều này được tuyên bố công khai như một chủ trương đường lối xuyên suốt từ trước đến nay chứ đâu phải tài liệu mật hay quy định nội bộ gì. Vi phạm về quy chế chỉ đạo thông tin, tức như nêu lên hoặc viết bài về các vụ gọi là nhạy cảm nếu tới mức vi phạm nghiêm trọng có thể các tổng biên tập bị xem xét. Nhẹ thì phê bình nhắc nhở, kỷ luật; còn nặng có thể cách chức mất chức hoặc bị điều đi làm việc khác. Không tù nhưng mất nghề. Oái oăm là vậy.

Nên ý kiến của bác Đằng - các cơ quan báo chính thống của ta (chắc bác muốn nói đến Thông tấn xã Việt Nam, báo Nhân Dân, Quân đội nhân dân, hoặc hai đài tiêu biểu: phát thanh và truyền hình quốc gia...) không đăng Kiến nghị trên thì đây là một ý kiến đáng suy nghĩ. Nó liên quan đến chính sách thông tin mà những người làm ra chính sách cùng sự chỉ đạo công việc rất quan trọng này cần nhìn nhận thực sự cầu thị để có cách tiếp cận mới và điều chỉnh sao cho phù hợp.

Hiến pháp và pháp luật ta có nhiều quy định về quyền tự do ngôn luận và quyền được thông tin của công dân, thế mà một thông tin quan trọng như Kiến nghị dừng khai thác bô xít thì nhân dân (hiểu theo nghĩa thông tin cho cho số lượng “đại trà”, thông tin theo con đường chính thống...) họ đã không được tiếp xúc trực tiếp với thông tin đó. Tức là những thông tin liên quan đến việc lớn, nhưng lại ở khía cạnh “phản biện” như chuyện bô xít sẽ được tiếp cận và thông báo công khai như thế nào, đến mức nào... là những việc phải làm rõ trong thời đại thông tin bùng nổ như hiện nay.

Thông tin chính thống, thông tin có tính chất chính thức của Đảng và Nhà nước nếu không bao quát, không chiếm lĩnh được trận địa thông tin thì sớm muộn sẽ lâm vào tình trạng bị động và đối phó. Che đậy, xoa dịu được ở chỗ này lúc này thì lại phát lộ ở điểm khác khi khác. Cho nên vấn đề công khai minh bạch trong cung cấp và xử lý thông tin - cả mặt chính diện và mặt phản biện - là rất cần phải tính đến. Nhưng bài này không nhắm đến chủ đề đó, nên tạm dừng ở điểm này.

Như tôi đã chua thêm ở dưới bài, Kiến nghị trên cũng đã được VietnamNet và một số ít báo chí thông tin chứ không phải như bác Đằng nói là hoàn toàn không báo nào đăng. Tuy nhiên các cơ quan báo chí lớn và chính thống thì chưa/không đăng, đúng như bác Đằng viết.

Tôi thì nghĩ các anh chị lãnh đạo các báo bác Đằng nhắc đến đều có trong tay bản Kiến nghị, nhưng với những lập luận và hoàn cảnh riêng của báo mình mà nay chưa đăng thì cũng có thể hiểu được. Vấn đề là đằng sau câu chuyện đăng hay không đăng một loại tài liệu gì đó có vấn đề gì hệ lụy và níu kéo của chủ trương, chính sách. Phải chăng là vấn đề về chính sách thông tin, về chỉ đạo thông tin. Nếu thế nó đã ở tầm vượt trên các tờ báo và các tòa soạn báo... Nói là làm báo ở ta khó, đúng hơn là “rất khó” chính là ở điểm này. “Thông cảm” là vì thế bác Đằng ạ.

Nguyễn Vĩnh
---------------
* Thực tế thì Kiến nghị trên đã có một số tờ báo viết và báo mạng đề cập đến, đưa tin hoặc trích đoạn. Theo anh em làng văn làng báo biết, Báo điện tử VietnamNet đã sớm nhắc đến sự việc này và đưa lên mạng nguyên văn Kiến nghị.

Tuy nhiên chúng tôi vẫn giữ nguyên các ý bác Lê Hiếu Đằng đã viết, vì theo chúng tôi hiểu, bác Đằng cho rằng việc không đăng công khai Kiến nghị là ý muốn nói tới các tờ báo viết chính thống, các đài phát thanh và truyền hình của nhà nước hầu như đã không thông tin về sự kiện có Kiến nghị này...

Hơn nữa bác Đằng nêu ở đây là nêu chung báo chí Việt Nam - cả gần 700 cơ quan báo chí khắp cả nước - chứ đâu chỉ một số trường hợp, một số tờ báo - trong đó như báo điện tử VietnamNet.

--------------------------

Dưới đây là bài viết của bác Lê Hiếu Đằng được đăng trên nhiều trang mạng:


PHẢI CÔNG BỐ KIẾN NGHỊ DỪNG BAUXITE CHO TOÀN DÂN VÀ QUỐC HỘI

Kiến nghị dừng khai thác bauxite do các nhà trí thức


khởi xướng phải được công bố cho toàn dân và Quốc hội

Lê Hiếu Đằng

Theo dõi hoạt động của Quốc hội những ngày qua, tôi rất đồng tình với việc vụ Vinashin đã được đưa ra nghị trường, nhiều đại biểu đã quy rõ và quy đúng trách nhiệm: chính Thủ tướng Chính phủ, người trực tiếp quản lý các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phải chịu trách nhiệm cuối cùng về con tàu sắp chìm này.

Tuy nhiên, tôi rất băn khoăn vì có hai vấn đề chưa được Quốc hội đề cập thỏa đáng: việc cho thuê đất rừng đầu nguồn và đại dự án bauxite. Mà đây lại là hai vấn đề cực kỳ nghiêm trọng. Nếu sụp đổ Vinashin chỉ là chuyện mất tiền, dù là tiền tỷ (đô la), thì hai vấn đề sau là chuyện môi trường sinh thái, tác hại lâu dài, và nghiêm trọng nhất, là chuyện an ninh quốc phòng, an nguy quốc gia.

Hôm nay tôi thấy cần phải lên tiếng thêm về vụ bauxite.

1/ Là một trong những người ký tên rất sớm vào Kiến nghị dừng khai thác bauxite ở cả hai lần, lần đầu do ba nhà trí thức Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng khởi xướng, lần hai do 13 nhà trí thức thuộc tổ chức IDS cũ và nhóm Bauxite Việt Nam khởi xướng, tôi thấy nội dung kiến nghị, đặc biệt là Kiến nghị lần hai gồm 5 điểm rất rõ ràng, thuyết phục. Kiến nghị này được đăng tải công khai, minh bạch, cho đến nay đã thu được gần 3000 chữ ký, trong đó có nhiều nhà khoa học, trí thức đầu đàn, nhiều bậc lão thành cách mạng, quan chức, tướng lĩnh, nguyên lãnh đạo cấp cao, có Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, có nhà toán học Ngô Bảo Châu – niềm vinh dự của trí tuệ Việt Nam, người vừa được Thủ tướng tiếp và đặc biệt cấp nhà (ông Ngô Bảo Châu không những đã ký tên cả hai lần, mà còn gửi một lá thư riêng cho các vị lãnh đạo đất nước đề nghị ngưng dự án).

Một Kiến nghị quan trọng như thế phải được công bố rộng rãi để mọi đại biểu Quốc hội và toàn dân biết. Như thế là cung cấp thông tin đa chiều để các vị đại biểu Quốc hội và nhân dân lựa chọn. Đại biểu và nhân dân phải có điều kiện đối chiếu những luận điểm bênh vực khai thác bauxite của Bộ Công Thương và tập đoàn TKV với những luận điểm phản biện của các trí thức trong Kiến nghị để suy nghĩ và rút ra kết luận.

Tôi xin thẳng thắn đặt câu hỏi: Có ai đã ngăn cản các phương tiện truyền thông công bố kiến nghị trên? Nếu có, thì đó là tước quyền được thông tin của nhân dân – quyền được hiến pháp và pháp luật bảo hộ, như thế người ngăn cản đã vi phạm pháp luật của nước CHXHCNVN.

Nếu không phải như thế, thì tôi xin hỏi giới nhà báo nước ta: Tại sao các bạn phải sợ mà không dám đăng tải một kiến nghị có tầm quan yếu đến vận mệnh dân tộc, đã được lưu truyền khá lâu trên nhiều mạng, đã được chính thức gửi tới Quốc hội? Như thế có phải các bạn đã từ bỏ cái quyền quan trọng nhất của mình và cũng là yêu cầu cao nhất của nhân dân với các bạn: thông tin trung thực những gì liên quan đến lợi ích của người dân? Tôi tin rằng tờ báo nào mạnh dạn đăng tải Kiến nghị nói trên sẽ chẳng bị ai bắt tù, ngược lại sẽ được nhân dân quý trọng.

2/ Bản kiến nghị đã nêu rõ mối lo về hiệu quả kinh tế, tác hại môi trường của Dự án Bauxite. Tôi muốn xin nhấn mạnh thêm về mặt an ninh quốc gia mà tôi nghĩ có thể vì sự “tế nhị” nào đó đã chưa được đề cập thỏa đáng trong Kiến nghị. Nhất là khi liên kết chuyện khai thác bauxite với việc cho thuê đất rừng đầu nguồn.

Trong việc xây dựng các nhà máy bauxite, ta thấy nhân công Trung Quốc vào rất đông. Thậm chí có hiện tượng hình thành “làng Trung Quốc” ở Tân Rai. Chúng ta không thể không đặt những câu hỏi: Trong số nhân công đó, có bao nhiêu quân nhân mặc áo dân sự? Họ làm gì ở đấy chúng ta có kiểm soát được không? Các chuyên gia Trung Quốc xây dựng nhà máy liệu có đủ thiện chí đảm bảo an toàn lâu dài cho việc khai thác bauxite, hay biết đâu họ không “gài” một khuyết tật nào đó để khi “có chuyện” nó sẽ trở thành một áp lực chính trị cho nhà nước ta?

Đặt những câu hỏi như trên không phải là quá đa nghi, mà xuất phát từ tinh thần cảnh giác có cơ sở. Vâng, lịch sử quan hệ Việt – Trung buộc chúng ta phải cảnh giác. Bản chất, mưu toan bá quyền của người hàng xóm khổng lồ không hề thay đổi. Những tư liệu gần đây được công bố chỉ ngày càng cho ta thấy rõ hơn bản chất đó. Và ngay trước mắt là vấn đề Biển Đông. Chưa nói đến hiểm họa về sông Mê Kông không xa. Tất cả đều nằm trong âm mưu bá quyền.

Tôi tiếp xúc với nhiều tướng lĩnh, tâm tư các vị rất không yên, các vị rất lo lắng cho sự an nguy của đất nước trước âm mưu xâm thực tinh vi của nước ngoài qua con đường kinh tế. Và cả những người dân bình thường, hầu như ai cũng lo ngại, cũng cảnh giác. Trong khi đó, hình như tinh thần cảnh giác của các vị lãnh đạo lại khá hời hợt, cho nên mới để lọt những chủ trương nguy hiểm như khai thác bauxite, cho thuê rừng đầu nguồn.

Tại sao có thể như thế? Tôi không sao trả lời được câu hỏi này. Có phải các vị chỉ chạy theo lợi ích kinh tế mà quên mối lo an nguy lâu dài của đất nước? Có phải các vị bị chi phối bởi các tập đoàn kinh tế? Đây là lúc các vị phải trả lời rõ ràng để giải tỏa những băn khoăn chính đáng của người dân.

3/ Tôi mong mỏi các đại biểu Quốc hội tập trung làm rõ hai vấn đề nghiêm trọng nhất: bauxite và cho thuê rừng đầu nguồn, đừng để bị lạc hướng vì những chuyện khác.

Nhân đây tôi cũng xin qua mạng Bauxite Việt Nam để nhắn nhủ những đồng chí đã từng sát cánh chiến đấu với tôi ở nội thành Sài Gòn – Gia Định, các chiến trường miền Đông Nam Bộ, ven Sài Gòn… Đó là các đồng chí Nguyễn Minh Triết, Trương Tấn Sang, Lê Thanh Hải. Mong các đồng chí lên tiếng đấu tranh để ngăn chặn những nguy cơ cho đất nước như Dự án Bauxite và việc cho thuê rừng đầu nguồn nói trên.

Tôi cũng muốn nhắn với đoàn đại biểu Quốc hội của TPHCM là tôi rất buồn vì trong đoàn không có ai lên tiếng thẳng thắn về những chuyện nghiêm trọng như trên. Thử hình dung nếu bùn đỏ bauxite đổ xuống thì cả vùng Đông Nam Bộ, TPHCM sẽ nguy ngập thế nào? Tương lai con cháu chúng ta sẽ ra sao?

4/ Đã đến lúc tất cả chúng ta, cán bộ, Đảng viên, nhân dân, phải có ý kiến, không thể nhân nhượng, không thể dĩ hòa vi quý với cái sai, cái nguy hại cho đất nước, cho dân tộc. Chúng ta không có gì phải sợ, vì chúng ta trong sáng, chúng ta thực tâm yêu nước thương nòi, chúng ta làm đúng theo luật pháp, hiến pháp.

Bản thân tôi cũng có những lúc hơi e ngại khi cần lên tiếng đấu tranh cho lẽ phải. Những lúc ấy tôi tự nhắc mình: khi bị Toà án Vùng 3 Chiến thuật Sài Gòn kết án tử hình vắng mặt, mình vẫn coi khinh, vẫn mỉm cười và dấn thân chiến đấu, thì cớ gì bây giờ mình phải sợ hãi các đồng chí của mình?

L. H. Đ.

Thứ Sáu, 12 tháng 11, 2010

Vài phút thư giãn

Vài phút thư giãn

Bàn mãi thế sự cũng mệt mỏi đầu óc. Cả đầu óc người viết và cả đầu óc người đọc. Tuy nhiên đã là “cây sậy biết suy nghĩ” (một blogger xưng danh là cây sậy, nhưng là một cây sậy biết suy nghĩ) thì cây sậy nào mà chẳng vậy, không thể lẩn tránh những sự đời vui buồn. Mũ ni che tai thế nào được.
Nhưng hãy dừng chuyện lý sự, thôi thì cuối mỗi tuần, sau hồi nghĩ ngợi chán chê thì cũng nên/phải ngơi nghỉ chút chứ bạn. Thì đây hãy dành mấy phút cùng đọc vài mẩu chuyện vui vui mà Nguyễn Vĩnh Blog tôi (Hầu chuyện Blog) sưu tầm được trên mạng. Có thể gọi đó là những chuyện ngụ ngôn cũng được.   

Ngựa đực và ngựa cái 

Ngựa cái ngày đêm không làm lụng gì hết và chỉ tha thẩn trên cánh đồng, còn ngựa đực đêm đêm mới được thả đi ăn, ban ngày phải cày đất. Thấy vậy ngựa cái mới bảo ngựa đực:
- Anh việc gì phải kéo cày? Giá tôi ở địa vị anh thì tôi không chịu. Chủ mà lấy roi quật tôi, tôi sẽ tung vó đá lại.



Sang ngày hôm sau ngựa đực bèn làm theo lời ngựa cái. Bác nông dân thấy ngựa đực trở nên ương bướng, bèn đóng ngựa cái vào vai cày.

Cáo và sếu

Cáo mời sếu đến ăn bữa trưa và bày đĩa canh ra. Với cái mỏ dài của mình, sếu chẳng ăn được chút gì, thế là cáo một mình chén sạch.
Sang ngày hôm sau sếu mời cáo đến chơi và dọn bữa ăn trong một cái bình cổ dài. Cáo không sao thò được mõm vào bình, còn sếu vươn cái cổ dài thò mỏ vào bình và một mình ăn no.

Khỉ con

Khỉ mẹ ấy có hai khỉ con. Một con được khỉ mẹ yêu quý, còn con kia bị ghét bỏ.
Bữa nọ người đi săn rượt đuổi khỉ mẹ. Khỉ mẹ chộp lấy đứa con yêu quý và bỏ chạy cùng với nó, để lại đứa con bị ghét bỏ.



Đứa con bị ghét bỏ lẩn vào giữa lòng rừng rậm, người săn không thấy nó, bỏ qua. Còn khỉ mẹ nhảy lên cây, nhưng luống cuống thế nào lại va đầu đứa con yêu quý vào cành cây, thế là nó bị chết. Khi người săn bỏ đi, khỉ mẹ đi tìm đứa con bị ghét bỏ, nhưng không tìm thấy nó nữa, thế là khỉ mẹ còn lại một thân một mình

Sói và sóc

Sóc nhảy nhót chuyền cành thế nào ngã trúng ngay vào chó sói đang ngủ. Chó sói choàng dậy tóm được sóc, định ăn thịt. Sóc bèn van xin:
- Xin ông thả cháu ra.
Sói trả lời:
- Thôi được, ta sẽ thả mày, có điều mày hãy nói cho ta hay, vì sao họ nhà sóc chúng mày lúc nào cũng vui vẻ như vậy? Ta thì lúc nào cũng buồn rũ, còn chúng mày lúc nào cũng thấy đùa nghịch nhảy nhót trên cành cây cao.



Sóc nói:
- Ông cứ thả cháu lên cây đã, rồi cháu sẽ nói cho ông rõ, chứ không cháu sợ ông quá.
Sói thả sóc ra, thế là sóc tót lên cây và nói chõ xuống:
- Ông buồn rũ là vì ông độc ác, cái độc ác nó bóp thắt tim gan ông lại. Còn đằng này bọn ta vui vẻ là vì bọn ta hiền lành và chẳng làm điều ác cho ai cả.

NV (sưu tầm)

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2010

Cà phê Chim

Cà phê Chim




(Bài post lại theo yêu cầu của một số bạn bè ở nước ngoài nhắn thư về).


Ven hồ Hale có một quán cà phê rất "ngộ". Khách ngồi nhâm nhi đón gió hồ lại được ngắm hàng trăm lồng chim bày chênh chếch tầm mắt.


Cả trăm giọng hót hòa quyện vào nhau. Tuy không phân rõ nhưng bản nhạc "đa thanh" này vẫn làm người ta thích. Bởi dù sao thì tiếng ồn nơi phố xá đã quá mức thừa thái trong khi tiếng chim hót vẫn là của lạ, của phải “bói” mới có. Nên mọi người qua lại đây và đến ngồi ở đây thích là phải. Đến đó vì có phải nhà ai cũng có khoảng trống yên tĩnh, treo được một vài lồng chim dù mình hoặc con cháu có thích thế cũng chịu.


Tôi cám ơn cái cơ duyên là một ngày cuối tuần tình cờ có việc đi qua và tôi có dịp chứng kiến tận mắt cái quán cà phê rất lạ này. Hôm đó nhìn những nhóm người ngồi giải khát ở quán tôi nhận thấy những niềm vui lộ trên khuôn mặt. Chịu khó dừng lại quan sát thấy thỉnh thoảng lại có một vị khách lên tiếng ra hiệu với nhà hàng. Một vài lồng chim được hạ xuống trước bàn. Nếu ưng giá, uống chầu cà phê xong, bạn có thể mang chiếc lồng chim đó về nhà mình với một khoản tiền để lại cho chủ nhân chiếc lồng chim kia. Hóa ra đây là nơi nhiều người mang lồng chim tới “góp vui” với sự đồng tình của ông bà chủ quán. Việc trao đổi “hàng hóa” là các chú chim hót rất hay này được tiến hành nhẹ nhàng bên tách cà phê thơm phức hoặc ly sinh tố mát mẻ. Người không chơi chim thì được giải khát bên dàn đồng ca hợp ca líu lo của bầy chim cũng hóng mát ven hồ.


Hôm đó tôi cũng chớp được những bức hình mà không dễ kiếm được ở những nơi khác.


Cũng chẳng biết cà phê ở đây có ngon như cà phê Nhân, cà phê Lâm, cà phê Trung Nguyên - mà những người Hà Nội sành điệu hay chọn đến ngồi hay không? Nhưng điều tôi chắc là các quán cà phê nổi tiếng kia hiện không thể có cái “lợi thế” mà tôi nói tới trên kia. Tức là quán cà phê với chan hòa tiếng chim hót. Có thể vào một ngày nghỉ cuối tuần đông khách, dù thích bạn cũng khó kiếm một vài chỗ ngồi ở vị trí ưng ý tại quán cà phê bên hồ Hale - Thiền Quang này.


Nguyễn Vĩnh

Thứ Sáu, 5 tháng 11, 2010

Rành mạch

Rành mạch

Vinashin được coi là con nợ lớn nhất trong lịch sử làm ăn kinh tế ở ta từ trước đến nay - nợ tới 86 nghìn tỷ đồng. Tưởng vậy. Mà thật cũng là vậy chứ, sao còn chuyện gì nữa mà nêu lại ra đây?

Ấy thế mà phải nêu lại. Vì quái lạ, mới đây có những ý kiến không như vậy nữa!

Là cái nhà ông tàu thủy khủng này tuy nợ 86 nghìn tỷ đồng (có chỗ dẫn 110 nghìn tỷ, hoặc hơn thế), nhưng ông ấy đang để lại gia tài cơ sở nhà xưởng gì đó… có trị giá tới những 110 nghìn tỉ đồng kia mà.

Ô hay, thế thì theo “kinh tế học” dạng con trẻ nhất, ông Vinashin là đang có lãi. Sao các vị lại bảo ông ấy thua lỗ, lại bảo ông ấy thất thoát? Mà nếu đúng là như vậy thì các bác kiểm tra trung ương đảng có thể phải “cải chính”? Vì chính văn bản các bác ấy trình trung ương và công bố bàn dân thiên hạ là tập đoàn này thua lỗ cơ mà.

Tôi dẫn ra các thông tin trên không phải là đi thu lượm ở góc này góc khác của dư luận đâu nhá. Mà đây là những phát biểu, những phân tích tại diễn đàn chính thức của một số quan chức cỡ lớn của Quốc hội cũng như của Chính phủ phát ra. Chúng ta chịu khó theo dõi các phiên họp QH vừa qua hoặc lướt đọc các bài báo (là báo lề phải cả đấy nhá) là thấy cả loạt những ý tứ, con số mà tôi vừa nêu ở trên.

Là những công dân, những người đóng góp cho ngân sách đất nước, chúng ta có quyền đặt câu hỏi: Thế thực Vinashin lỗ hay không lỗ, thậm chí lỗ hay lả lãi?
Xin mọi người cho ý kiến.

Còn tôi chỉ xin có vài lời chua thêm góp thêm dưới đây: Là tôi không hiểu mấy vị quan chức nọ nói rằng cái gia tài cơ sở nhà xưởng để lại của Vinashin như vậy, các thứ tạm gọi là “bất động sản” đó có bao hàm những tài sản hiện vật có được trước khi tập đoàn này được thành lập hay không? Vì đơn vị, xí nghiệp đóng tàu đóng thuyền nào trước khi sáp nhập vào Vinashin mà chẳng có nhà có đất có xưởng máy chưa kể các thứ khác như một thứ của góp, của “hồi môn” khi chuyển đến chủ mới. Chúng tôi nghĩ những cái đó phải rất rõ ràng rành mạch. Cụ thể cái gì có trước không phải mua nữa. Cái gì có sau phải bỏ tiền ra mua sau khi thành lập tập đoàn. Mọi điều cần phân minh, để đã có thống kê, kiểm toán là phải chính xác, sao cho không sót khuyết điểm mà cũng không gây oan cho bất cứ ai.

Tuy vậy, nếu là kiểm toán nhà nghề, lại được tiến hành công việc vô tư và khách quan
thì những cái đó là loại kiến thức quá sơ đẳng. Với họ sẽ rất dễ dàng chỉ ra đâu là vốn liếng đã có trước khi lập tập đoàn, đâu là vốn mới từ khi vận hành tập đoàn. Và rồi đâu là tiền ngân sách nhà nước rót cho tập đoàn (tổng số từ nguồn ngân sách chi) và đâu là tổng số tiền cũng là nhà nước rót cho Vinashin từ các hình thức vay nợ ngân hàng nước ngoài, các khoản phát hành trái phiếu ngoại tệ mang nợ từ các tổ chức tín dụng nước ngoài đưa về… Tổng hợp lại tất cả các khoản chi tiêu cho Vinashin từ nguồn nhà nước như thế là không khó khăn gì.

Lại cũng phải nhớ đến những khoản Vinashin thu được tiền, vừa tiền đồng VN vừa tiền từ các loại ngoại tệ khi bán tàu, thu dịch vụ sửa chữa hoặc ngay cả tiền thu thanh lý tàu cũ, tàu hỏng… Tất thảy những chi tiết tài chính ấy rất cần được công khai minh bạch sẽ thấy ngay Vinashin được “cấp” là bao nhiêu, làm ăn thu hái được bao nhiêu, nay còn lại tài sản là bao nhiêu... Các tính toán chi tiết rõ ràng đó là cần thiết và cũng đâu phải khó đến mức không làm được.

Tức là phải rành mạch, đâu ra đó. Chứ đừng để lúc thì nói lỗ, lúc lại nói không lỗ thì người dân còn biết tin, biết dựa vào đằng nào, nguồn nào. Và chỉ khi biết được điều cơ bản ấy thì mới xử lý đúng được vụ Vinashin.

Nguyễn Vĩnh

Thứ Năm, 4 tháng 11, 2010

Cần nữa những lời nói thật

Cần nữa những lời nói thật (2)

Ý kiến của đại biểu Nguyễn Minh Thuyết phát biểu tại diễn đàn Quốc hội ngày 1/11 vừa qua có tiếng vang rất lớn trong dư luận trong và ngoài nước. Dư luận đánh giá những góp ý của ông Thuyết với chính phủ tại QH là xuất sắc, xây dựng và dũng cảm nhất tính đến thời điểm hiện nay.

Nhưng như tôi đã viết trong entry trước, còn 3 bài phát biểu trong buổi sáng đó cũng rất đáng ghi nhận là của 3 đại biểu Phạm Thị Loan, Lê Văn Cuông và Lê Thị Nga.

Cần thêm nữa những góp ý như thế, những lời nói thẳng nói thật như thế nhiều hơn nữa từ các vị đại biểu cho nhân dân.

Xin lần lượt điểm lại các ý kiến vừa nêu.

NV

---------------------

Bài phát biểu của ông Lê Văn Cuông (ĐBQH Thanh Hoá)


Nhìn nhận vụ Vinashin:

Sự cố Vinashin đã được cảnh báo sớm về kết quả quản lý yếu kém, tiêu cực, nhưng vì có biểu hiện bao che, ưu ái, nuông chiều nên cái u, cái nhọt lâu ngày đã vỡ tung để lại hậu quả hết sức nặng nề. Tổng vay nợ có thể lên đến con số 120 nghìn tỷ đồng, bình quân mỗi công dân Việt Nam từ lớn đến bé, từ người giàu đến người nghèo phải gánh nợ cho Vinashin khoảng 1,5 triệu đồng. Vinashin là giọt nước làm tràn ly, bộc lộ rõ trình độ quan liêu, yếu kém, thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý vốn, tài sản Nhà nước của Chính phủ, các Bộ ngành chức năng đối với các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước được xác định là những đầu tàu, là quả đấm thép của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Vì sao và ai chịu trách nhiệm? :

Bởi Chính phủ đã đứng ra bảo lãnh cho tập đoàn này được vay hàng tỷ đôla trái phiếu quốc tế, tạo điều kiện cho họ mang tiền Nhà nước đi tung hoành khắp đó đây từ Nam ra Bắc, kể cả đến các tỉnh miền núi thu gom nhiều xí nghiệp làm ăn thua lỗ về, thành lập đến 200 công ty con, công ty cháu, thật khó hiểu. Không biết quản lý kiểu gì mà Vinashin đi mua tàu, mua nhà máy phát điện cũ và đầu tư khắp nơi. Nhưng bộ chủ quản, các bộ chức năng và cả Thủ tướng Chính Phủ cũng không có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn kịp thời. Đặc biệt, có hai lần Thanh tra Chính Phủ đề nghị được vào cuộc, nhưng đã bị chặn lại. Mặt khác, kể từ năm 2006 đến năm 2009, có tới 11 đoàn đến làm việc nhưng vẫn không phát hiện ra được căn bệnh hiểm nghèo của Vinashin.

Truy trách nhiêm, không nói khuyết điểm chung chung:

Và hệ lụy để Vinashin sụp đổ thảm hại như hôm nay cũng là điều dễ hiểu, có điều để xảy ra hậu quả nghiêm trọng như thế nếu ở các nước, Chính phủ hoặc ít ra có vài ba vị trí đã phải lên tiếng xin từ chức rồi, nhưng ở nước ta thì chưa. Cho nên cử tri kiến nghị tại kỳ họp này, Quốc hội cần xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm cụ thể của Chính Phủ, Thủ tướng Chính Phủ, Phó Thủ tướng phụ trách ngành, Bộ trưởng Bộ chủ quản, Thủ trưởng các Bộ, ngành chức năng có liên quan, chứ không thể nêu chung chung như nội dung các Báo cáo của Chính phủ.

Tán thành đề xuất của ĐBQH Nguyễn Minh Thuyết :

Tôi tán thành ý kiến đại biểu Nguyễn Minh Thuyết đề nghị Quốc hội tại kỳ họp này cần thành lập Ủy ban lâm thời theo quy định của pháp luật, để điều tra xác làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan qua vụ tiêu cực ở Vinashin, nhằm ngăn chặn kịp thời, hữu hiệu các tập đoàn kinh tế lũng loạn Nhà nước.
Bài phát biểu của bà Lê Thị Nga (ĐBQH Thái Nguyên)

Tập đoàn kinh tế từ góc nhìn pháp lý:

Thí điểm về thành lập tập đoàn kinh tế Nhà nước là một vấn đề rất quan trọng liên quan đến quản lý, bảo toàn nguồn tài sản thuộc sở hữu toàn dân được quy định trong Hiến pháp. Tuy là thí điểm nhưng các tập đoàn của chúng ta đều được thành lập chính thức, là một chủ thể quan trọng của nền kinh tế. Nên từ chủ trương của Đảng cho đến thực tiễn cần thiết phải có bước thể chế hóa thành văn bản quy phạm pháp luật về thí điểm ở tầm một nghị quyết của Quốc hội trong đó quy định rõ phạm vi lĩnh vực, thời gian thí điểm, mô hình tổ chức, địa vị pháp lý xử lý những vấn đề mâu thuẫn với các luật, phân công trách nhiệm kiểm tra, giám sát và xác định thời hạn tổng kết thì mới đảm bảo.

Những bước đi bộc lộ bất cập về quản lý nhà nước với tập đoàn kinh tế:

Nhưng ngay từ giai đoạn đầu tiên năm 2005, chúng ta đã bỏ qua bước thể chế hóa quan trọng này mà chỉ dùng các quyết định cá biệt để thành lập từng tập đoàn. Đáng lưu ý là có 8 tập đoàn thành lập đầu tiên gồm: than khoáng sản, dệt may, Bảo Việt, dầu khí, cao su, điện lực, tàu thủy, viễn thông ra đời và họat động từ năm 2005- 2006 khi chưa có văn bản pháp lý nào điều chỉnh về địa vị pháp lý, mô hình tổ chức và đã hoạt động trong tình trạng này từ đó cho đến ngày 5/11/2009, Chính phủ mới ban hành Nghị định 101 về thí điểm thành lập tổ chức họat động và quản lý tập đoàn kinh tế Nhà nước. Như vậy 4 năm sau ngày thành lập chúng ta mới có hành lang pháp lý ở tầm nghị định cho tổ chức, hoạt động quản lý của 8 tập đoàn này.

QH thì làm đúng luật nhưng CP thì chưa?:

Cuối năm 2009 Quốc hội tiến hành giám sát việc chấp hành pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước. Bên cạnh đánh giá mặt được thì Quốc hội cũng đã chỉ ra khá nhiều thiếu sót trong công tác quản lý vốn, tài sản Nhà nước tại các Tập đoàn và ban hành Nghị quyết 42 yêu cầu Chính phủ tổng kết, đánh giá mặt tốt, mặt chưa tốt, chấn chỉnh những thiếu sót và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 8. Trong 2 tháng kể từ khi Quốc hội giám sát Chính phủ tiếp tục thí điểm thành lập thêm 4 tập đoàn mới: Viễn thông quân đội, phát triển nhà đô thị, hóa chất, Sông Đà và cho đến nay Chính phủ vẫn chưa có báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết 42 theo yêu cầu của Quốc hội.

Thất bại của tập đoàn như Vinashin là điều “báo trước” vì thiếu cơ sở pháp lý ngay từ đầu:

Các Tập đoàn thí điểm đều thuộc những lĩnh vực trọng yếu, xương sống của nền kinh tế nhất là đối với 8 tập đoàn đầu tiên. Do đó, nếu chỉ một Tập đoàn không thành công sẽ kéo theo cả những dây chuyền và có ảnh hưởng lớn đến các cân đối kinh tế, đến uy tín quốc gia, đến người lao động và Vinashin hiện nay là một minh chứng điển hình. Việc chúng ta thí điểm ngay trên phạm vi rất rộng với nhiều lĩnh vực trọng yếu và gần đây lại càng mở rộng là vấn đề rất đáng cân nhắc, nhiều luật gia cho rằng việc thí điểm liên quan đến hàng trăm ngàn tỷ đồng vốn Nhà nước mà về mặt pháp luật ngay từ đầu chúng ta lại không ràng buộc trách nhiệm của Quốc hội với tư cách là thiết chế quyền lực Nhà nước cao nhất để cùng chia sẻ trách nhiệm mà chỉ đặt trách nhiệm quá nặng nề lên vai Chính phủ là chưa thật hợp lý.

Nguyên nhân thất bại của Vinashin:

Trong quá trình quản lý, Chính phủ đã phát hiện ra rằng việc thực hiện quyền chủ sở hữu của Nhà nước, việc quản lý Nhà nước đối với các tập đoàn có rất nhiều bất cập và lúng túng. Thậm chí lãnh đạo Bộ Kế hoạch, đầu tư đã nói là rất khó khăn khi bộ vào làm việc với tập đoàn thì không có cơ sở pháp lý. Cử tri cho rằng về mặt lý luận Tập đoàn kinh tế Nhà nước không có tư cách pháp nhân, nhưng trên thực tế đã trở thành siêu pháp nhân. Nhiều tập đoàn kinh tế đã biến độc quyền Nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp, nhưng từ năm 2005 đến nay Chính phủ chưa kịp thời đề nghị Quốc hội sửa luật để khắc phục những bất cập và lúng túng đó, để cho đến nay khi một trong những tập đoàn thí điểm đó đổ vỡ Chính phủ mới báo cáo Quốc hội tại Báo cáo số 153 rằng sự lúng túng và bất cập này cộng với mô hình tập đoàn đang ở giai đoạn thí điểm, thể chế còn thiếu là một trong những nguyên nhân dẫn đến sai phạm của Vinashin.

Hoạt động của các tập đoàn không tuân theo quy tắc nào cả:

Nghiên cứu kỹ các quyết định thành lập 8 tập đoàn đầu tiên cho thấy chúng ta đã cho 8 tập đoàn này đầu tư đa lĩnh vực, trùng chéo nhau, trong đó không xác định lĩnh vực nào là chính, lĩnh vực nào là phụ. Do đó, về mặt pháp lý sẽ không có khái niệm đầu tư ra ngoài lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính. Theo các quyết định này cả 8 tập đoàn đều được đầu tư bất động sản, tài chính, chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm là những lĩnh vực đầy rủi ro. Điện lực được kinh doanh viễn thông, còn cao su, dầu khí, than thì được đầu tư kinh doanh điện. Rõ ràng thực trạng nhiều tập đoàn ồ ạt đổ xô vào đầu tư bất động sản, đầu tư tài chính, chứng khoán trong khi quản trị yếu, thiếu trách nhiệm, dẫn đến thất thoát tài sản Nhà nước mà Quốc hội và cử tri đã lên tiếng, chính là hệ quả của việc chúng ta đã cho phép kinh doanh đa ngành nhưng không phân biệt ngành chính, ngành phụ và trong hoạt động đã không được các bộ kiểm soát chặt chẽ.

Các đề xuất thanh tra các tập đoàn; trách nhiệm của CP phải báo cáo QH định kỳ về quản lý doanh nghiệp và về quản lý vốn:

Từ thực tế trên chúng tôi kiến nghị:

Ngoài Vinashin, đề nghị Quốc hội và Chính phủ cho kiểm toán, thanh tra toàn bộ hoạt động của các tập đoàn kinh tế Nhà nước còn lại, nhất là đối với Tập đoàn điện lực, trên cơ sở đó báo cáo với Quốc hội toàn diện về tổ chức và họat động của các tập đoàn thí điểm...

Đề nghị Chính phủ thực hiện nghiêm quy định tại Khoản 3, Điều 168 Luật doanh nghiệp, theo đó hàng năm Chính phủ báo cáo Quốc hội về thực trạng kinh doanh vốn Nhà nước, thực trạng bảo toàn và phát triển giá trị vốn và tài sản thuộc sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp.


Đề nghị Chính phủ thực hiện nghiêm quy định tại Khoản 3, Điều 168 Luật doanh nghiệp, theo đó hàng năm Chính phủ báo cáo Quốc hội về thực trạng kinh doanh vốn Nhà nước, thực trạng bảo toàn và phát triển giá trị vốn và tài sản thuộc sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp.

* Trích từ “Bản tổng hợp thảo luận tại hội trường (ghi theo băng ghi âm)” – Văn phòng Quốc hội

Cần nữa những lời nói thật

Cần nữa những lời nói thật

Ý kiến của đại biểu Nguyễn Minh Thuyết phát biểu tại diễn đàn Quốc hội ngày 1/11 vừa qua có tiếng vang rất lớn trong dư luận trong và ngoài nước. Dư luận đánh giá những góp ý của ông Thuyết với chính phủ tại QH là xuất sắc, xây dựng và dũng cảm nhất tính đến thời điểm hiện nay.

Nhưng như tôi đã viết trong entry trước, còn 3 bài phát biểu trong buổi sáng đó cũng rất đáng ghi nhận là của 3 đại biểu Phạm Thị Loan, Lê Văn Cuông và Lê Thị Nga.

Cần thêm nữa những góp ý như thế, những lời nói thẳng nói thật như thế nhiều hơn nữa từ các vị đại biểu cho nhân dân.

Xin lần lượt điểm lại các ý kiến vừa nêu.

NV

---------------------

Bài phát biểu của bà Phạm Thị Loan (ĐBQH Hà Nội)

(đầu đề nhỏ do NV đặt thêm)

Đánh giá về phát triển:

Thực tế cho thấy việc nhập siêu năm 2009 là 12,92 tỷ, dự kiến năm 2010 thâm hụt mậu dịch khoảng 13 tỷ đôla, giá vàng tăng trong năm khoảng 20 đến 25%, tỷ giá hối đoái chênh lệch tỷ giá đang là nỗi bức xúc của doanh nghiệp. Lãi suất ngân hàng đứng vào hàng cao nhất trên thế giới, lạm phát cao, chỉ số giá tiêu dùng cao, ICO vẫn chưa được cải thiện, nhập siêu từ Trung Quốc rất cao, chiếm 90% nhập siêu của cả nước, nhưng Chính phủ vẫn chưa có biện pháp để cân đối, trong khi đó vẫn đang mở rộng cửa cho hàng hóa và những dự án EPC mà trong nước có đủ khả năng làm dành cho các doanh nghiệp của Trung Quốc thực hiện. Việc hạn chế quotar nhập khẩu vàng và để giá vàng tăng cao, để cho thị trường tự do thản nhiên thao túng nhập lậu vàng qua biên giới gây tác động xấu đến tỷ giá ngoại tệ. Sự khan hiếm ngoại tệ ảnh hưởng đến cả thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán. Nhưng trong kế hoạch năm 2011 và kể cả định hướng chiến lược những năm tiếp theo chúng tôi chưa thấy đưa ra được biện pháp thực sự hữu hiệu nào. Vậy Chính phủ sẽ làm gì cho xã hội và kinh tế Việt Nam cân bằng và phát triển bền vững?

Về vụ Vinashin :

Vừa qua theo Báo cáo của Chính phủ và thông báo của Ủy ban kiểm tra Trung ương Đảng ai cũng thấy được sự thật về Vinashin, đó là sản phẩm của việc thí điểm tập đoàn kinh tế Nhà nước. Vấn đề tôi muốn nêu ra ở đây là ai sẽ là người chịu trách nhiệm cuối cùng trong việc để Vinashin rơi vào tình trạng như vậy. Trách nhiệm của Thủ tướng, của Chính phủ và các Bộ, ngành, cá nhân liên quan như thế nào? Theo tôi không thể nói một cách đơn giản là do các cán bộ lãnh đạo của Tập đoàn Vinashin, một mình Vinashin không thể làm sai luật được. Chúng tôi tự hỏi ai đã cho phép Vinashin phát hành trái phiếu với lượng tiền lớn như vậy? Ai đã cho phép Vinashin vay vượt hạn mức quy định của một khách hàng theo quy định của luật là 15% vốn điều lệ của ngân hàng. Ai đã để Vinashin đầu tư tràn lan như vậy? Và đặc biệt là tại sao đã có 11 đoàn vào kiểm tra, giám sát nhưng vẫn không phát hiện ra sai phạm? Và tại sao Quốc hội đã có quyết định đưa Vinashin vào danh sách giám sát từ năm 2009 nhưng Chính phủ vẫn đề nghị để hoãn lại, cho Thanh tra Chính phủ làm việc trước và cho đến bây giờ kiểm toán Nhà nước của Quốc hội vẫn chưa vào kiểm toán được. Vậy tại sao Thanh tra Chính phủ vẫn không phát hiện ra điều gì. Vậy tất cả những việc đó là xuất phát từ mục đích gì? trách nhiệm thuộc về ai?

Chính phủ không báo cáo QH, bây giờ sai thì trách nhiệm về ai?:

Đặc biệt tại Khoản 3, Điều 168, Luật doanh nghiệp qui định: định kỳ hàng năm Chính phủ trình Quốc hội báo cáo tổng hợp về thực trạng kinh doanh vốn chủ sở hữu Nhà nước. Thực trạng bảo toàn và phát triển giá trị vốn đầu tư và tài sản sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp, nhưng nhiều năm nay Quốc hội chưa nhìn thấy có bản báo cáo nào trình Quốc hội từ phía Chính phủ theo như qui định nêu trên. Vậy việc không tuân thủ pháp luật để gây hậu quả nghiêm trọng như vụ Vinashin thì trách nhiệm cuối cùng sẽ thuộc về ai?

Phải truy trách nhiệm đến cùng:

Tôi đồng tình với các ý kiến trước tôi về việc phải qui trách nhiệm đến cùng và đặc biệt Quốc hội, Đảng cần phải làm rõ trách nhiệm của những người quản lý Nhà nước. Theo tôi nghĩ những người làm sai cũng cần phải có một lời xin lỗi với nhân dân và có lẽ là cũng nên nghĩ đến văn hóa từ chức để nhân dân còn có lòng tin với lãnh đạo Nhà nước và với Đảng.

Vấn đề thiếu điện và sự phụ thuộc TQ về năng lượng là rất đáng lo ngại:

Vấn đề chiến lược về năng lượng của Chính phủ như thế nào. Vừa qua khắp nơi nhân dân kêu thiếu điện, cắt điện tùy tiện không đúng Luật điện lực, EVN kêu thiếu vốn, thủy điện thiếu nguồn nước để phát điện, EVN kêu lỗ vốn trong năm hơn 6.000 tỷ Việt Nam đồng, giá mua điện cao hơn giá bán, các nhà đầu tư điện ngoài EVN kêu khó ký hợp đồng bán điện cho EVN, có hợp đồng bán rồi thì có được phép lên lưới hay không, lại phải xin - cho. Trong khi đó các nhà máy nhiệt điện lớn do Trung Quốc làm EPC chạy không ổn định, tốn nhiều than, công nghệ sử dụng than không phù hợp với loại than trong nước sản xuất được.

Về thủy điện thì các nhà thầu EPC từ Trung Quốc chiếm đến 90% các dự án EPC về điện và ta đang phải phụ thuộc họ về vấn đề hậu mãi, phụ tùng, phụ kiện trong vận hành. Mặt khác Trung Quốc đang kiểm soát nguồn nước thượng nguồn, lúc khô họ có thể giữ nước, lúc lũ lụt họ có thể xả nước gây nguy cơ cho ta. Gần đây họ đang chuẩn bị xây nhà máy điện hạt nhân gần biên giới của ta với mục tiêu sẽ bán điện cho ta và thực tế hiện nay ta đang phải mua điện của họ với giá cao hơn giá mua điện trong nước. Vậy rõ ràng đang có nguy cơ ta sẽ bị phụ thuộc vào nguồn điện của Trung Quốc và nếu vậy thì an ninh năng lượng có nguy cơ bị hệ lụy vì sự phụ thuộc này.

*Trích từ “Bản tổng hợp thảo luận tại hội trường (ghi theo băng ghi âm)” – Văn phòng Quốc hội

Quốc hội có một loại văn bản như thế

Quốc hội có một loại văn bản như thế

Vài hôm nay nhiều bạn đọc phàn nàn báo chí chính thống tường thuật không hết ý tứ của ĐBQH phát biểu tại diễn đàn cao nhất về lập pháp. Có vị còn lo thế thì lời nói gió bay, nội dung các điều nghị sĩ nói không khéo rồi thoảng đi đâu mất cả...

Thưa không, mọi người hãy bình tâm. Cho dù báo chí tuyên truyền vì một lý do nào đó không nêu rõ việc này việc kia, thiếu các chi tiết cần thiết và cụ thể chăng nữa thì đã có các văn bản của QH ghi lại tất cả. Khi đó thì báo chí mất quyền, trôi đi một vai trò rất vinh quang là “thư ký thời đại”.

Thôi thì bạn nào không có điều kiện theo dõi trực tiếp buổi truyền hình họp QH buổi sáng ngày 1/11, sau đó tìm đọc báo viết, rồi nghe đài xem truyền hình mà không tìm thấy các nội dung dư luận đang xôn xao bàn tán, các bạn có thể đọc toàn văn các bài phát biểu ĐBQH kể trên tại Biên bản họp QH tôi post dưới đây. Đây là toàn văn được mở ra từ băng ghi âm, lưu tất cả tại Văn phòng Quốc hội. Xưa hồi còn đi làm, tôi đã được người bạn công tác bên văn phòng quốc hội chỉ cho đọc một tập tài liệu có nội dung tương tự của hồi đó.

Chỉ xin mở ngoặc, dư luận gần hai ngày qua rộ lên rằng buổi họp QH sáng 1/11/2010 này sẽ được ghi nhớ lâu dài. Có người không ngại gọi đó là buổi họp lịch sử của Quốc hội Việt Nam… Lý do là tại đây có phát lên nhiều ý kiến xuất sắc, những ý kiến rất hợp lòng dân lúc này về tình hình kinh tế-xã hội đất nước.

Và trong đó, bài phát biểu của ông Nguyễn Minh Thuyết được coi là “đúng đắn nhất”, “xuất sắc nhất” và “dũng cảm nhất”. Nói thêm bài ông Thuyết còn được cộng đồng cư dân mạng nhất trí cho điểm cao nhất, điểm 10. Đồng thời họ đánh giá đây là một bài viết thuộc loại mẫu mực cho loại ý kiến phản biện xã hội…

Ngoài ý kiến của ông Nguyễn Minh Thuyết, có ba bài phát biểu khác cũng được dư luận rất chú ý và ngợi khen là của các đại biểu Phạm Thị Loan - TP Hà Nội; Lê Thị Nga - Thái Nguyên và Lê Văn Cuông - Thanh Hoá.

Mời các bạn cùng tham khảo.

NV

-----------------------------------

BẢN TỔNG HỢP THẢO LUẬN TẠI HỘI TRƯỜNG

(Ghi theo băng ghi âm)

Buổi sáng ngày 01/11/2010
Nội dung:

Thảo luận ở hội trường về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng chủ trì

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên chủ trì điều khiển nội dung

Nguyễn Đức Kiên - Phó Chủ tịch Quốc hội
Kính thưa Quốc hội,

Kính thưa các đại biểu, quý khách.

Theo chương trình, trong 2 ngày: ngày hôm nay và ngày mai Quốc hội thảo luận Báo cáo của Chính phủ và các cơ quan hữu quan dự kiến đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2010 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011. Đầu kỳ họp các đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại tổ nửa ngày. Ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội đã được tổng hợp thành văn bản và đã gửi đến các vị đại biểu Quốc hội. Để tập trung vào những vấn đề lớn và được nhiều đại biểu Quốc hội phát biểu ý kiến tại Hội trường trong điều kiện có hạn về thời gian, tôi trân trọng xin phép Quốc hội như sau:

Thứ nhất, về những vấn đề cần tập trung thảo luận. Đối với dự kiến đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2010 xin đề nghị với Quốc hội:

Một là Quốc hội thảo luận tình hình thực hiện mục tiêu, phương hướng tổng quát gắn với các chỉ tiêu chủ yếu ở tầm cả nước, ở cấp địa phương và cơ sở. Đánh giá một cách khách quan, đánh giá đúng, làm rõ và sâu sắc những kết quả tiến bộ việc làm được, làm tốt, những việc chưa làm được, chưa tốt, hạn chế, yếu kém, nguyên nhân của tình hình trên.

Hai là Quốc hội thảo luận về việc xác định ban hành, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp, cơ chế chính sách để thực hiện mục tiêu, phương hướng tổng quát, các chỉ tiêu chủ yếu theo nghị quyết của Quốc hội.

Ba là Quốc hội cho ý kiến về những bài học về việc xác định mục tiêu, phương hướng, các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, cơ chế chính sách và việc tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện trên thực tế.

Đối với dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011 xin Quốc hội cho ý kiến:

Một là tính hợp lý đầy đủ về mục tiêu, phương hướng tổng quát và sự tương thích của các chỉ tiêu chủ yếu với mục tiêu và phương hướng tổng quát.

Hai là, cho ý kiến về việc lựa chọn những ngành, lĩnh vực, những khâu, những việc cần phải tập trung nguồn lực, tập trung chỉ đạo, tổ chức triển khai để vừa hoàn thành được nhiệm vụ của năm 2011, vừa tạo đà thế và lực mới để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn trong những năm sau của kế hoạch 5 năm 2011 - 2015.

Ba là, thảo luận, đề xuất những nhiệm vụ giải pháp cơ chế, chính sách để nâng cao sức cạnh tranh, hiệu quả chất lượng của nền kinh tế, tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô, tăng khả năng bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội, nhân dân ở mọi vùng đều được hưởng hợp lý thành quả của sự phát triển đất nước và cải thiện đời sống nhân dân trên thực tế. Đặc biệt là giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa các chỉ tiêu vĩ mô, mục tiêu của tăng trưởng kinh tế để kiên quyết chỉ đạo, giải quyết hợp lý, đảm bảo tính bền vững vấn đề bội chi ngân sách Nhà nước, nợ công, nợ Chính phủ, nhập siêu, lạm phát, giá cả, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí với đảm bảo nâng cao đời sống thực tế của nhân dân.

Bốn là, Quốc hội thảo luận và đề xuất những biện pháp mạnh để ngăn chặn, giải quyết có hiệu quả tình trạng bạo lực xã hội, bạo lực học đường, trọng tội, vi phạm pháp luật về môi trường đang gây bức xúc trong nhân dân, bảo đảm và cải thiện rõ rệt vấn đề trật tự an ninh xã hội.

Năm là, Quốc hội đề xuất những biện pháp để ngăn chặn thất thoát, quản lý, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của Nhà nước ở mọi khâu.

Về vấn đề điều hành thảo luận, xin Quốc hội một số ý kiến dưới đây.

Một là, khi phát biểu các đại biểu Quốc hội cố gắng bảo đảm đúng thời lượng như đã quy định, đi thẳng, trực tiếp vào vấn đề, nêu tình hình địa phương cũng chỉ để minh họa nhưng cũng rất ngắn gọn và cô đọng, không nhất thiết phải có nghi lễ thưa gửi, cảm ơn nhiều.

Hai là, khi điều hành Đoàn Chủ tịch cố gắng bố trí để có được ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội hoạt động ở các ngành, các lĩnh vực, các khu vực, các địa phương, các chính giới.

Ba, để làm rõ đi sâu hiểu đúng bản chất của một số vấn đề Đoàn Chủ tịch sẽ bố trí để các vị Bộ trưởng, trưởng ngành dù là đại biểu Quốc hội, hay không phải là đại biểu Quốc hội phát biểu ý kiến. Do đó có vấn đề cần trao đi, đổi lại giữa các vị đại biểu Quốc hội với các vị bộ trưởng, trưởng ngành, giữa các vị đại biểu Quốc hội với nhau. Xin Quốc hội bắt đầu đi vào thảo luận.

Xin mời đại biểu Bùi Văn Tỉnh - đoàn Hòa Bình phát biểu ý kiến.



Bùi Văn Tỉnh - Hoà Bình
Kính thưa Quốc hội.

Tôi cơ bản tán thành với báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010 và kế hoạch phát triển kinh tế. xã hội năm 2011. Cũng như đánh giá khách quan của Ủy ban kinh tế của Quốc hội về kết quả và một số vấn đề tồn tại cần khắc phục về chỉ đạo, điều hành của Chính phủ trong việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011. Năm 2010, năm cuối thực hiện kế hoạch 5 năm, năm 2006 - 2010 và chiến lược 10 năm giai đoạn 2001 - 2010. Các số liệu thống kê chính thức đến thời điểm này cho thấy nền kinh tế đã có những dấu hiệu khả quan, đó là tốc độ tăng trưởng GDP sẽ đạt khoảng 6,7% vượt chỉ tiêu đã được Quốc hội thông qua là thành quả của sự chỉ đạo điều hành quyết liệt của Chính phủ. Chín tháng đầu năm giá trị sản suất công nghiệp cả nước tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá với số lượng lớn doanh nghiệp được thành lập mới chứng tỏ môi trường đầu tư và cơ hội kinh doanh trong nước tiếp tục được cải thiện đáng kể. Đặc biệt là dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sau thời kỳ suy giảm đã tăng trở lại, tăng gấp 1,5 lần so với cùng kỳ năm 2009. Đó là những yếu tố quan trọng góp phần ổn định và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên nỗi lo về giá cả, thị trường thế giới có xu hướng tăng cao, gây áp lực đến mặt bằng giá cả trong nước, đặc biệt những tháng cuối năm. Hiệu quả đầu tư của khối doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước được xác định là yếu tố chủ đạo của nền kinh tế là chưa được cải thiện. Tình trạng chậm trễ, sử dụng kém hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước còn khá phổ biến.

Mặt bằng lãi suất luôn ở mức khá cao cho dù cơ quan quản lý Nhà nước đã có những nỗ lực nhất định, nhưng các quyết định trong việc điều hành chính sách tiền tệ vẫn còn nặng tính hành chính, chưa sát với thực tiễn của diễn biến thị trường, thiếu điện gay gắt đã làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, giảm môi trường đầu tư, dân bức xúc.

Tình trạng hạn hán của các tỉnh miền núi phía Bắc gây thiếu nước cung cấp cho các nhà máy thủy điện diễn ra gay gắt. Đã vào cuối mùa mưa nhưng mực nước hồ thủy điện Hòa Bình hiện nay thấp hơn hàng năm khoảng 12m. Tính đến nay, riêng Nhà máy thủy điện Hòa Bình mới đạt khoảng 23% công suất và giảm 1,3 tỷ kW giờ điện so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó là bộ máy cồng kềnh và thủ tục hành chính rườm rà, chất lượng công vụ còn thấp. Hội chứng các tổng cục, chi cục, trung tâm liên tục phát triển. Ở cấp tỉnh hiện nay đã có đến 13 chi cục và 70 trung tâm trực thuộc các sở, ngành nhất là ngành Y tế, ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Bộ máy cán bộ quản lý cấp xã theo quy định mới có tới hơn 20 công chức chuyên trách và không chuyên trách là rất lớn. Việc triển khai một số văn bản pháp quy chưa kịp thời, trong đó việc hướng dẫn Nghị định số 912 của Chính quá chậm và lúng túng trong thực hiện. Việc cải cách hành chính theo Đề án 30 của Thủ tương Chính phủ đã được triển khai, nhưng vẫn còn nhiều thủ tục hành chính rất rườm rà như thủ tục về đầu tư xây dựng. Quy trình đầu tư phải trải qua 30 bước và sử dụng 30 lượt con dấu gây chậm trễ và chi phí đầu tư tăng cao. Nhưng chi phí quản lý tư vấn, quản lý dự án, quyết toán công trình có dự án đã chiếm tới 22,7% tổng mức đầu tư. Riêng việc mua sắm ô tô phải trải qua 17 thủ tục trong thời gian khoảng 2 tháng. Từ thực tế trên, xin kiến nghị:

Một là, dừng việc thành lập và rà soát, sắp xếp lại các tổng cục, trung tâm, chi cục của các bộ và địa phương theo hướng giảm đầu mối để giảm bớt khâu trung gian về thủ tục hành chính và thực hiện tinh giảm biên chế theo nghị quyết của Quốc hội. Sớm quy định rõ về ổn định việc phân cấp quản lý, kinh tế và xã hội, làm rõ phân cấp quản lý xã theo Thông tư 03 của liên Bộ Y tế - Nội vụ cho phù hợp với tình hình thực tế ở cơ sở và quy định của pháp luật.

Hai là, để khắc phục tình trạng giải ngân cao, giá trị khối lượng hoàn thành thấp, không nên gọi là giải ngân trong thanh toán vốn đầu tư, mà nên gọi là tạm ứng theo cơ chế tạm ứng không quá 50% kế hoạch vốn hàng năm, không quá 50% tổng mức đầu tư của dự án có quy định thời hạn tạm ứng, nếu tạm ứng quá hạn sẽ tính lãi, bởi lãi suất tiền gửi ngân hàng. Tiến hành kiểm tra cơ sở để hình thành lãi suất, để điều chỉnh chính sách tiền tệ linh hoạt, nghiên cứu cơ chế huy động cao nhất các nguồn vốn còn rất lớn ở trong dân. Tăng cường kiểm soát giá cả, đặc biệt là giá các mặt hàng để phục vụ sản xuất và tiêu dùng thiết yếu.

Thứ ba, do điều kiện khó khăn của một số tỉnh chưa có khả năng tự cân đối về ngân sách để bị điều chỉnh đề án kiên cố hóa trường lớp học và nhà công vụ cho giáo viên theo hướng tăng định mức hỗ trợ xây dựng phòng học. Vì hiện nay mức bình quân đầu tư lên đến 250 triệu đồng/1 phòng học. Để nâng cao hiệu quả trong quản lý giáo dục Chính Phủ cần nghiên cứu làm điểm việc thành lập trường phổ thông theo khu vực để hạn chế bộ máy quản lý giáo dục cồng kềnh như hiện nay.

Thứ tư, thời gian qua số vụ và số người chết vì tai nạn giao thông không giảm mặc dù các cơ quan chức năng đã đưa ra rất nhiều biện pháp ngăn chặn, xử lý. Văn hóa ứng xử xuống cấp đáng kể, thói quen xả rác và vệ sinh bừa bãi diễn ra khá phổ biến từ thành thị đến nông thôn. Việc tuyên truyền giáo dục thực hiện nếp sống văn minh, mĩ quan đô thị chưa thực sự được chú trọng, thiếu chế tài điều chỉnh. Rất cần sự đồng thuận của cả xã hội trong việc xây dựng đề án quốc gia về văn hóa ứng xử, kỷ cương và chấp hành pháp luật của Nhà nước nhằm xây dựng hình ảnh con người Việt Nam đẹp hơn trong cộng đồng quốc tế. Xin cám ơn Quốc hội.



Vũ Quang Hải - Hưng Yên
Kính thưa Chủ tọa phiên họp.

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội.

Báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội năm 2010 và tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2011. Về mặt cơ bản tôi hoàn toàn nhất trí với Báo cáo. Tuy nhiên, tôi xin tham gia về một số vấn đề như sau:

Năm 2010 tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ở mức 6,7% GDP là khá cao so với khu vực. Điều này thể hiện sự quyết tâm của Chính Phủ và của Việt Nam thoát ra khỏi việc suy giảm kinh tế. Đây cũng là một bước rất đáng khích lệ và điều đó chứng tỏ Việt Nam với quyết tâm rất cao trong khu vực chúng ta vừa thoát khỏi việc suy giảm kinh tế nhưng vừa tiếp tục phát triển. Tuy nhiên tôi đánh giá rằng trong báo cáo tuy có thể hiện nhưng theo tôi chất lượng tăng trưởng chưa cao, chỉ số lạm phát hiện nay đã tiến tới mức 8,64% và 2 tháng cuối năm có thể tiến tới sát 2 con số. Điều này chứng tỏ rằng chất lượng tăng trưởng kinh tế của chúng ta chưa thật sự cao. Đây là điều phải nói rằng chúng ta cần hết sức suy nghĩ và cân nhắc, vì tăng trưởng kinh tế mà không gắn với đời sống nhân dân được tăng lên thì đó là sự tăng trưởng chất lượng thấp.

Một vấn đề cũng đáng suy nghĩ đó là tăng trưởng trong nông nghiệp chỉ chiếm 2,6%, tuy nhiên tôi hiểu rằng tăng trưởng trong nông nghiệp là rất khó khăn, nhưng vùng lũ lụt bị tàn phá ở miền Trung nếu tính đúng, tính đủ thì tăng trưởng trong nông nghiệp sẽ dưới 2,6% và Chính phủ chưa đưa vào trong báo cáo. Tôi đề nghị sau này Chính phủ nên có báo cáo bổ sung với Quốc hội để Quốc hội thấy được tình hình thiệt hại của nông nghiệp ở miền Trung và các thiệt hại nói chung của lũ bão miền Trung.

Một chỉ số nữa có thể nói là liên quan đến chất lượng tăng trưởng đó là chỉ số ICO và chỉ số lạm phát. Chỉ số ICO đang kéo tăng trưởng Việt Nam với một chất lượng rất hạn chế. Chỉ cần tính mức đầu tư cho phát triển là 41% theo như báo cáo để có thể được 6,7% tăng trưởng thì chỉ số ICO của chúng ta là 6,2%, nếu ở khu vực công thì có thể lên tới 10%. Như vậy chúng ta là một trong những nước có chỉ số đầu tư công khá cao trong khu vực và điều đó chứng tỏ rằng tăng trưởng và đầu tư công đang là vấn đề rất bức xúc. Tôi đề nghị Quốc hội nên cùng với Chính phủ tập trung vào giải quyết những vấn đề căn bản mà nhiều kỳ họp chúng tôi đã nêu lên, nhưng vấn đề này xử lý chưa hiệu quả.

Hai, về vấn đề nợ công, theo Báo cáo nợ Chính phủ là 44.5%, trong đó nợ nước ngoài là 42.2% nhưng nếu tính đúng, tính đủ theo quy định và theo Luật đầu tư công thì chúng tôi sẽ thấy chỉ số nợ đầu tư công của chúng ta cao hơn mức hiện nay. Bởi lẽ chúng ta chưa tính hết nợ ngân hàng, nợ doanh nghiệp của Nhà nước, nợ phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp mà Chính phủ phải bảo lãnh. Nợ công của Việt Nam đang tiệm cận đến những vấn đề không an toàn, tuy nhiên theo chỉ số trong Báo cáo của Chính phủ đang ở mức an toàn nhưng theo tôi nợ công của Việt Nam đang tiệm cận đến những vấn đề không an toàn bởi một số lý do như sau:

Một, các khoản nợ của các dự án không tạo ra giá trị gia tăng là khá nhiều, chúng ta vay nợ để làm ra giá trị gia tăng hoặc làm ra hiệu quả xã hội nhưng nếu vay nợ làm ra giá trị gia tăng thấp thì hiệu quả xã hội thấp, đồng thời chất lượng sau này để trả nợ rất khó khăn.

Hai, hiện nay chúng ta chưa phải trả nợ nhiều bởi theo tôi được biết số liệu trả nợ cho đến năm gần đây mới chỉ khoảng 250 - 270 triệu đô, đến năm 2020 và những năm tiếp theo đến kỳ trả nợ sẽ phải trả nợ nhiều hơn con số này rất nhiều. Như vậy chỉ số giá trị gia tăng để chúng ta phát triển sản xuất mang hiệu quả xã hội và trả nợ đang là vấn đề quan hệ mật thiết với nhau. Có rất nhiều doanh nghiệp Nhà nước khi vay để làm các dự án thì dự án đó mang lại hiệu quả rất thấp, chưa nói đến việc dự án đó mất đi khá nhiều vốn, ví dụ như Vinashin là trường hợp điển hình. Theo số liệu có khoảng 80.000 tỷ đồng chìm theo con tàu Vinashin, tương đương khoảng 4 tỷ đô la, nhưng theo số liệu của kiểm toán độc lập thì con số này lên tới 96.635 tỷ, thậm chí có những con số nói tới 120.000 tỷ. Với một số doanh nghiệp tương tự như vậy thì không hiểu còn PR gì nữa, nhưng cứ như thế này thì số nợ công của chúng ta, giá trị gia tăng sẽ rất thấp và sẽ là tiềm ẩn với nguy cơ mà tôi nghĩ Quốc hội và Chính phủ phải đặt trong tình trạng giám sát chặt chẽ hơn.

Nguyên nhân tiếp theo tôi xin phân tích làm rõ thêm đó là chúng ta có khoản nợ nước ngoài với 42,2% và với khoản nợ lớn như vậy chỉ cần tính chênh lệch giá so với chỉ số giá đô la, đồng Euro, đồng Yên đang bị trượt giá rất nhiều so với đồng tiền Việt Nam, chỉ riêng khoản trượt giá này cũng phải kéo theo hàng tỷ đôla mà sau này chúng ta phải cộng thêm khoản nợ. Đó là những vấn đề chúng tôi thấy trong kỳ họp lần này, chúng tôi xin đặt vấn đề một lần nữa là đề nghị với Quốc hội và Chính phủ phải đặt việc quản lý nợ công vào trong một sự kiểm soát đặc biệt của Quốc hội và Chính phủ để chúng ta mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn.

Vấn đề thứ ba là vấn đề nông nghiệp và phát triển nông thôn. Đây là vấn đề mà cũng có nhiều cử tri và nhiều đại biểu cũng rất gửi gắm rằng chúng ta tăng trưởng kinh tế nhưng làm sao để đời sống bà con nhân dân được phát huy. Nhưng gần đây chúng ta thấy cùng với biến đổi khí hậu và rất nhiều yếu tố khác làm cho tình hình nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng có phần phát triển chậm lại. Đặc biệt là bão lũ miền Trung với 4 năm Quốc hội rút gắn đã qua 2 lần Quốc hội và Chính phủ phải chứng kiến sự thật rất thảm hại đó là việc bão lũ miền Trung tàn phá làm cho nông nghiệp khu vực này mất trắng, mất trơn và làm cho những vành khăn tang luôn là nỗi bức xúc, day dứt của nhiều đại biểu Quốc hội và nhiều cử tri trong cả nước.

Tôi nghĩ chúng ta phải xây dựng một kịch bản như thế nào để chúng ta giải quyết vấn đề thực hiện việc mà chúng ta phòng, chống lũ bão ở miền Trung. Tôi xin hết.



Lê Như Tiến - Quảng Trị
Kính thưa Quốc hội,

Tôi xin phát biểu một vấn đề, đó là tầm nhìn và chất lượng quy hoạch.

Quy hoạch được hiểu là hoạch định trước những việc cần làm và đặt ra những mục tiêu cần đạt đến trong dài hạn. Trong những năm qua, công tác quy hoạch của ta còn nhiều bất cập đó là tầm nhìn và chất lượng quy hoạch. Thiếu tầm nhìn xa, thiếu tính dự báo các quy hoạch sẽ rời rạc, chắp vá, thiếu liên kết, kém bền vững, không hiệu quả, gây lãng phí về cơ hội, về tài nguyên, đất đai, vốn đầu tư, nguồn nhân lực.

Do thiếu tầm nhìn nên chỉ trong vòng 12 năm Bộ Xây dựng đã phải trình Thủ tướng Chính phủ 4 lần điều chỉnh quy hoạch ngành xi măng do bị vỡ quy hoạch, cung vượt quá cầu. Với 108 dây chuyền xi măng đang hoạt động, công suất thiết kế khoảng 65 triệu tấn/năm thì năm 2010 thì cung vượt cầu khoảng 3 triệu tấn và năm 2011 là 7 triệu tấn xi măng dư thừa.

Cũng rơi vào tình cảnh tương tự, quy hoạch ngành thép có nguy cơ bị đổ bể, Bộ Công thương đã phải soạn thảo đề án trình Chính phủ điều chỉnh quy hoạch ngành thép, nguyên nhân là do nhiều địa phương xé rào quy hoạch. Trong 65 dự án sản xuất thép có tới 32 dự án được các địa phương cấp giấy chứng nhận đầu tư song chưa được ý kiến chấp thuận của Thủ tướng hoặc ý kiến thỏa thuận của Bộ Công thương, đó là hiện tượng "tiền trảm hậu tấu" trong quy hoạch. Đến nay tổng công suất thép cả nước đã lên tới hơn 20 triệu tấn/năm, trong khi nhu cầu chỉ ở mức 11,5 triệu tấn. Ở một tỉnh miền Đông Nam Bộ có tới 18 dự án thép thì 9 dự án nằm ngoài quy hoạch, các nhà máy thép này ngang nhiên sài tới trên 60% sản lượng điện cả tỉnh. Ngành điện hụt hơi vì ngành thép, các ngành công nghiệp khác và các khu dân cư cũng bị vạ lây do cắt điện bởi sự bành trướng thái quá của quy hoạch ngành thép. Tỉnh này đang rơi vào bi kịch là thiếu điện, thừa ô nhiễm và đang đánh mất dần lợi thế do thiên nhiên ban tặng của một thành phố du lịch biển đẹp vào bậc nhất miền Đông Nam Bộ. Đồng cảm và chia sẻ với nỗi bức xúc của cử tri, đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh đã phải vào cuộc.

Từ thực tế trên có vấn đề đáng báo động là công tác quản lý quy hoạch, Chính phủ cần chấn chỉnh ngay những dự án sai quy hoạch, ngoài quy hoạch và lách quy hoạch như trên. Một nghịch lý đang diễn ra là khi nhiều ngành công nghiệp là nạn nhân của ngành điện thì đến lượt mình ngành điện lại trở thành nạn nhân. Quy hoạch điện 6 có nguy cơ bị phá vỡ do thiếu than, mỗi năm ngành công nghiệp khai thác than xuất khẩu tới 50% sản lượng. Hiện nay ngành than đang hối hả xuất khẩu 18 triệu tấn than để hoàn thành kế hoạch năm 2010, trong khi đó 31 nhà máy nhiệt điện đang đói than từng ngày, dự kiến phải nhập khẩu khoảng 8 triệu tấn than/năm. Hàng chục nhà máy xi măng cùng hàng ngàn xí nghiệp gốm sứ, vôi gạch, thủ công mỹ nghệ phải ăn đong than từng giờ. Nhiều nhà máy, phân xưởng có nguy cơ ngừng sản xuất do thiếu than. Các quy hoạch khoáng sản, thủy lợi, thủy điện, quy hoạch giao thông cũng đang có vấn đề đặt ra.

Thực trạng quy hoạch ở các khu công nghiệp, khu chế xuất cũng không mấy sáng sủa. Trong hơn 20 năm qua cả nước đã hình thành một hệ thống trên 130 khu công nghiệp, khu chế xuất, chiếm 26.517 ha đất tự nhiên. Nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất tuy được hình thành nhưng không được lấp đầy gây tình trạng lãng phí quỹ đất, nhiều quy hoạch treo, treo cả chục năm, treo xuyên thế kỷ, trong khi nhiều người dân thiếu đất canh tác. Các ngành này chưa có sự liên kết hài hòa giữa quy hoạch ngành với quy hoạch lãnh thổ, chưa gắn kết và thúc đẩy các chương trình mục tiêu quốc gia, chưa giải được bài toán quy hoạch vùng nguyên liệu với quy hoạch sản xuất nên không tận dụng được lợi thế so sánh, đôi khi còn cạnh tranh gay gắt, xung đột lợi ích ngay trong khu công nghiệp, khu chế xuất, thiếu sự hỗ trợ lẫn nhau, không cộng hưởng nguồn lực, khó tạo ra giá trị gia tăng.

Quy hoạch vùng, quy hoạch đô thị và quy hoạch khu dân cư của chúng ta còn đang mất cân đối nghiêm trọng giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, giáo dục, y tế và các vấn đề xã hội. Theo Báo cáo giám sát của Ủy ban Văn hóa giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh sau 35 năm giải phóng mới chỉ có thêm một rạp hát Hòa Bình, Thủ đô Hà Nội và các đô thị khác cũng tương tự, trong khi hàng chục nghìn cao ốc, siêu thị, khách sạn, nhà hàng, văn phòng cho thuê mọc lên dày đặc, nhưng bệnh viện, trường học, rạp chiếu phim, nhà hát, khu vui chơi giải trí cho trẻ em và các thiết chế văn hóa dường như không phát triển được bao nhiêu, chưa tương xứng với tăng trưởng kinh tế. Lâu nay trước mỗi dự án chúng ta thường quen hỏi vốn ở đâu, đất đai ở đâu, ít ai hỏi nguồn nhân lực ở đâu.

Mặc dù muộn màng so với các quy hoạch, các ngành kinh tế nhưng chúng tôi thiết tha đề nghị Chính phủ cần khẩn trương sớm chỉ đạo xây dựng quy hoạch phát triển nguồn nhân lực quốc gia giai đoạn 2011 - 2020. Để có tầm nhìn và chất lượng quy hoạch chúng tôi xin kiến nghị, trước khi xây dựng quy hoạch cần điều tra khảo sát kỹ lưỡng, phải có đội ngũ làm công tác quy hoạch chuyên nghiệp, phải có những hội đồng thẩm định quy hoạch khách quan, khoa học, độc lập, công tâm, có tầm nhìn vì lợi ích quốc gia, không bị chi phối bởi nhóm lợi ích hoặc lợi ích trước mắt của ngành, của địa phương mình, cần công khai minh bạch các quy hoạch để nhân dân và các tổ chức giám sát, nên huy động tối đa tiềm năng, thế mạnh các chuyên gia, đội ngũ các nhà khoa học, đặt hàng với các Viện nghiên cứu, các trường đại học, các hiệp hội nghề nghiệp tham gia, tham vấn phản biện quy hoạch.

Để chuẩn bị cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm tiếp theo chúng tôi đề nghị Chính phủ rà soát đánh giá lại toàn bộ các quy hoạch hiện có, bắt mạch và khám bệnh cho các quy hoạch, nhất là các quy hoạch thiểu năng về kinh tế - xã hội, phải có những liều kháng sinh mạnh như thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều chỉnh, đình chỉ, chấm dứt hiệu lực đối với các quy hoạch thiểu năng này.

Kính thưa Quốc hội, có thể nói tầm nhìn và chất lượng qui hoạch vừa là nguyên nhân vừa là bài học sâu sắc đắt giá cho công tác chỉ đạo điều hành đất nước trong thời gian qua và trong tương lai. Xin cảm ơn Quốc hội.



Nguyễn Minh Thuyết - Lạng Sơn
Kính thưa Quốc hội.

Theo Báo cáo của Chính phủ, năm 2010 này nước ta đã đạt và vượt 16/21 chỉ tiêu do Quốc hội đề ra. Cũng như đông đảo người dân tôi rất hân hoan trước tin vui này và sự trân trọng những kết quả đã đạt được. Tuy nhiên tôi cũng vô cùng lo lắng trước những khuyết điểm nghiêm trọng trong điều hành nền kinh tế, phân tích chưa sâu, chưa đủ cụ thể và nghiêm khắc. Trong thời gian có hạn tôi chỉ tập trung nói về vụ Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin sụp đổ. Vâng, thực sự nó đã sụp đổ, mặc dù chúng ta có thể dùng từ ngữ nhẹ nhàng hơn theo truyền thống tu từ của mình. Tập đoàn Vinashin sụp đổ đã trút lên vai đồng bào món nợ khổng lồ không dưới 100.000 tỷ đồng. Món nợ mà một tỉnh thu nhập cỡ 1000 tỷ đồng một năm phải làm quần quật không mua sắm, ăn uống, may mặc gì suốt, một thế kỷ mới trả nổi. Đối với đồng bào nhiều nơi nhất là nông thôn. miền núi thì trả món nợ khổng lồ này có nghĩa là chậm làm đường, làm cầu, xây trường, xây bệnh viện v.v... những nhu cầu rất thiết yếu của cuộc sống đồng bào. Sai phạm trong chỉ đạo điều hành thì đã rõ. Nhưng có một câu hỏi đến nay vẫn chưa có câu trả lời là ngoài lãnh đạo Vinashin còn những ai phải chịu trách nhiệm về những sai phạm này.

Báo cáo của Chính phủ cho biết Chính phủ có trách nhiệm và đã nghiêm túc kiểm điểm, nhưng cụ thể như thế nào? Theo tôi hiểu trong trường hợp này các thành viên Chính phủ có liên quan phải kiểm điểm và nhận kỷ luật trước Quốc hội - cơ quan đại diện nhân dân cả nước bầu ra mình. Không thể chỉ nhận khuyết điểm một cách chung chung và tuyên bố đã kiểm điểm nội bộ là rũ xong trách nhiệm.

Vụ việc này nhắc tôi nhớ đến vụ án Lã Thị Kim Oanh ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cách đây hơn 6 năm. Vì nuông chiều, luôn áp dụng những siêu cơ chế cho công ty của Lã Thị Kim Oanh dẫn đến thất thoát trên 100 tỷ đồng mà một vị Bộ trưởng đang rất được lòng dân, được lòng đại biểu Quốc hội đã phải từ chức và 2 vị Thứ trưởng đã phải ra trước vành móng ngựa. Vinashin là một kiểu Lã Thị Kim Oanh phóng đại cỡ 1000 lần. Thẩm tra Báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng năm nay, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội đã nhận định có dấu hiệu bao che cho những sai trái, vi phạm pháp luật của Vinashin, làm thiệt hại lớn đến tiền và tài sản Nhà nước. Nhưng ai bao che? Bao che thế nào? Vì nguyên nhân gì? Nhằm mục đích gì và phải chịu trách nhiệm ra sao thì Ủy ban Tư pháp chưa có điều kiện kết luận. Thế mà nếu Quốc hội không làm rõ được điều này thì không hoàn thành nhiệm vụ trước Đảng, trước dân.

Vì vậy, căn cứ Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội, tôi trân trọng đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức để Quốc hội biểu quyết thành lập Ủy ban lâm thời điều tra trách nhiệm của các thành viên Chính phủ trong vụ việc này. Trên cơ sở đó vào thời gian cuối kỳ họp bỏ phiếu tín nhiệm Thủ tướng và một số thành viên Chính phủ có liên quan. Để tạo điều kiện cho công tác điều tra của Ủy ban lâm thời, tôi đề nghị Quốc hội tạm đình chỉ chức vụ của các vị cần được điều tra.

Thưa quý vị Chủ tọa,

Thưa quý vị đại biểu khách mời,

Nói những điều trên tôi cảm thấy rất đau xót và khó khăn, nhưng chúng ta có xử lý nghiêm vụ việc này thì mới thể hiện được sự công minh của pháp luật, hạn chế được những dự án làm ăn phá của bốc trời, đưa hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước vào quỹ đạo lành mạnh, đảm bảo cho kinh tế phát triển bền vững và lấy lại được niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng.

Thưa quý vị, hôm nay tôi đọc một bài đã chuẩn bị sẵn là để ngay sau buổi họp này trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội như một kiến nghị chính thức của đại biểu. Trân trọng đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội khẩn trương xem xét và cho biểu quyết về kiến nghị của tôi. Xin trân trọng cảm ơn.



Nguyễn Hữu Nhị - Nghệ An
Kính thưa Quốc hội.

Tiếp xúc cử tri trước kỳ họp Quốc hội thì cử tri bày tỏ sự tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự điều hành linh hoạt, kịp thời, quyết liệt của Chính phủ và vui mừng trước thành tựu chung của đất nước. Tuy nhiên cử tri, nhất là cử tri ở nông thôn còn rất nhiều băn khoăn, trăn trở khi mà nước ta trở thành cường quốc trong lĩnh vực xuất khẩu gạo, cà phê, thủy hải sản, v.v. nhưng người làm nông nghiệp vẫn là người đối mặt với nhiều khó khăn vất vả nhất, những người thuộc nghèo nhất của xã hội. Một thực trạng là người làm nông nghiệp đang nảy sinh tâm lý chán ruộng vì thu nhập quá thấp, việc làm của thanh niên nông thôn đang là một bài toán nan giải trong nông nghiệp và nông thôn hiện nay. Có thể nói rằng ở nông nghiệp nông thôn hiện nay đang tồn tại những bất cập lớn gồm 5 vấn đề sau :

Một là vấn đề ruộng đất. Đất nông nghiệp quá manh mún. Theo nhiều nguồn tài liệu thì ở Việt Nam chúng ta có đến 70 triệu thửa đất nông nghiệp trên chưa đến 4 triệu hécta đất trồng lúa. Đất ít, manh mún đang chứng tỏ một nền kinh tế tiểu nông. Chưa nói đến việc đất canh tác đang ngày một bị loang lổ bởi vì sự xâm lấn của sân golf, khu công nghiệp. Theo tài liệu của Viện nghiên cứu định cư thì mỗi năm chúng ta mất khoảng 70 nghìn hécta đất nông nghiệp. Điều đó dẫn đến thực trạng là doanh nghiệp chưa dám mạnh dạn đầu tư vào nông nghiệp. Chính sách đất đai hiện hành của chúng ta còn bộc lộc quá nhiều bất cập, chậm được sửa đổi.

Thứ hai là vấn đề thị trường. Chúng ta đều biết với một thị trường nông sản bấp bênh hiện nay thì chuyện nông dân nay trồng, mai chặt là bình thường. Rõ ràng đã bấp bênh thì không ai muốn đầu tư cho nông nghiệp. Chúng ta đã định hướng phát triển kinh tế thị trường có vai trò quản lý của Nhà nước rằng muốn ổn định thị trường thì Nhà nước phải thực sự vào cuộc. Người dân cảm thấy không được như những ngành khác, dường như vai trò của Nhà nước đối với thị trường nông sản vẫn chưa đủ mạnh.

Thứ ba là giá cả đầu vào vừa cao lại vừa loạn, hàng giả, hàng kém chất lượng, giá giống, giá vật tư phân bón, thuốc trừ sâu tăng liên tục. Giá cả tăng, vấn nạn hàng giả, hàng kém chất lượng lại tràn lan, không trừ bất cứ mặt hàng gì. Rõ ràng từ giá cả cho đến chất lượng vật tư nông nghiệp chúng ta đã quản lý chưa tốt, nguy cơ là chưa có một giải pháp đồng bộ, chưa có một chế tài đủ mạnh và thuyết phục để chống hàng giả, hàng kém chất lượng như hiện nay.

Thứ tư là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, bài toán không mới nhưng vẫn chưa có những lời giải hữu hiệu, về vệ sinh an toàn thực phẩm đang đặt ra cho nông nghiệp nước ta trước sự cạnh tranh hết sức gay gắt, ngay cả trên sân nhà chưa nói đến việc xuất khẩu.

Thứ năm là việc biến đổi khí hậu đã gây ra hạn hán, lũ lụt lịch sử, dịch bệnh gia súc, gia cầm, sâu bệnh phá hoại mùa màng đang là những thách thức lớn đối với nông nghiệp của nước ta.

Từ năm tồn tại, bất cập nên trên, tôi xin có một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, đề nghị Chính phủ cần sớm tổng kết việc thực thi chính sách đất đai, nhất là chính sách đất đai trong nông nghiệp để sớm sửa đổi một cách toàn diện Luật đất đai hiện hành vốn còn rất nhiều bất cập như hiện nay. Có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp thuê đất, đầu tư sản xuất nông nghiệp, vì doanh nghiệp thuê đất đầu tư sản xuất nông nghiệp thì mới có thể có hàng hóa lớn. Khuyến khích nhân rộng mô hình dồn điền đổi thửa tốt.

Thứ hai, tăng cường quản lý Nhà nước về thị trường, nhất là thị trường nông sản, thị trường cung ứng giống, vật tư cho sản xuất nông nghiệp. Chính phủ phải phân định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các cấp và phải có chế tài đủ mạnh để xử lý các vi phạm, phải vào cuộc một cách quyết liệt hơn nữa. Thiết nghĩ, đầu tư một hệ thống kho tàng dự trữ tốt hơn để khi giá thấp mua dự trữ cho nông dân hoặc cho dân gửi tạm nông sản miễn phí, chờ giá lên sẽ luôn có lợi cho người sản xuất. Nhà nước miễn thuế nông nghiêp, miễn thủy lợi phí được cho dân thì việc đầu tư để ổn định thị trường cũng là một giải pháp để kích cầu cho lãi suất.

Thứ ba, tiếp tục ưu tiên đầu tư mạnh cho hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, nhất là giao thông thủy lợi. Đặc biệt cần ưu tiên cho những vùng thường xuyên chịu ảnh hưởng nặng nề của thiên tai.

Thứ tư, có chính sách và giải pháp đồng bộ để khuyến khích có trách nhiệm đầu tư công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt là đầu tư để có nguồn lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp gắn với phát triển nhanh công nghiệp và dich vụ, gắn với phát triển nông thôn với phát triển đô thị. Vậy là lực lượng quốc gia có hơn 70% dân số ở khu vực nông nghiệp và nông thôn, vì thế phải phấn đấu làm sao tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với phát triển đời sống của nhân dân và làm thế nào để người nông dân thực sự nếm được vị ngọt của tăng trưởng kinh tế. Xin cảm ơn Quốc hội.



Võ Minh Phương - Lâm Đồng
Kính thưa Quốc hội,

Chúng tôi nhất trí với Báo cáo của Chính phủ, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế về tình hình kinh tế - xã hội của đất nước năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế năm 2011 như trong báo cáo đã nêu. Năm nay chúng ta đã đạt được những kết quả khá toàn diện, qua đánh giá có trên 15/21 chỉ tiêu đạt và vượt so với kết hoạch, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế được nguy cơ lạm phát cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2009. Bên cạnh đó lĩnh vực an sinh xã hội đạt được nhiều kết quả, đời sống nhân dân ổn định và phát triển. Tuy nhiên chúng ta cũng phải đối mặt với những thách thức lớn giữa tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, tiếp tục chống lạm phát cao, khắc phục các hạn chế thiếu sót như Báo cáo của Chính phủ và Báo thẩm tra đã đưa ra. Nhất là tăng trưởng chưa gắn chặt với tiến bộ và công bằng xã hội, những chỉ tiêu về môi trường chưa đạt được. Chúng tôi xin phát biểu một số ý kiến mà cử tri quan tâm như sau:

Một, tình trạng giá cả tăng cao không kiểm soát được của nhiều mặt hàng thiết yếu như giá lương thực, thực phẩm, vật tư nông nghiệp, vật liệu xây dựng, giá sữa, giá thuốc tân dược v.v... đều tăng là băn khoăn, lo lắng của đông đảo cử tri.

Đối với nông dân, tình trạng bấp bênh của giá nông sản là câu chuyện muôn thủa đã khiến người nông dân gặp nhiều khó khăn. Tình trạng giá nông sản quá thấp trong khi giá vật tư nông nghiệp không ngừng tăng cao, dẫn đến người nông dân sản xuất không có lãi hoặc lãi thấp. Ở vùng Tây Nguyên nông dân trồng cà phê bấp bênh với giá cả nhiều tháng qua, mới đây giá nhích lên khoảng trên 30.000 đồng/kg nhưng vẫn là lo lắng. Bên cạnh đó vẫn tiếp tục chịu tác động bởi nạn phân bón, thuốc trừ sâu giả hoặc kém chất lượng mà phần thua thiệt luôn về phía nông dân.

Về giá hàng hóa tiêu dùng tăng rất cao, dự báo khoảng 8 - 8,5% tác động xấu đến đời sống của nhân dân, đặc biệt là bộ phận dân cư có thu nhập thấp. Theo Báo cáo của Chính phủ, dự báo số chỉ số giá tiêu dùng năm nay khoảng 7 - 8% nhưng thực tế khó giữ được ở mức đó, do đó năm nay tăng trưởng cao, nhưng đời sống của người dân chưa thấy được cải thiện, nhất là giá cả thường tăng vào những tháng cuối năm.

Đề nghị Chính phủ cần có giải pháp quyết liệt hơn trong điều hành và kiểm soát giá cả, nhất là sử dụng quỹ bình ổn giá, đảm bảo giá các mặt hàng thiết yếu và các loại vật tư nông nghiệp ổn định, tạo điều kiện cho nông dân yên tâm sản xuất, tăng cường hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm. Riêng đối với cà phê, đề nghị Chính phủ có chủ trương, chủ động mua tạm trữ từ đầu vụ thu hoạch góp phần giữ giá cà phê để nông dân yên tâm sản xuất.

Thứ hai, về vốn đầu tư cho các dự án giao thông, thủy lợi, giảm nghèo, đầu tư mạnh mẽ cho hạ tầng giao thông là giải pháp hữu hiệu chống suy giảm và phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Thực trạng hạ tầng giao thông nước ta còn yếu và chưa đáp ứng được các hoạt động của các ngành kinh tế. Ở Lâm Đồng lĩnh vực phát triển hạ tầng giao thông thủy lợi mặc dù được các bộ và Chính phủ có nhiều cố gắng đáp ứng phần nào theo kiến nghị của cử tri tại các kỳ họp trước, nhưng nguồn vốn đầu tư còn quá ít. Có những dự án nâng cấp làm mới các công trình đã được duyệt nhiều năm rồi nhưng chưa triển khai được vì chưa có vốn như các dự án giao thông của Quốc lộ 20, 27, đập chắn thủy điện Đồng Nai 3 v.v...., các dự án thủy lợi của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đầu tư như hồ Đạ Lây, huyện Đạ Tẻh v.v....

Bên cạnh đó quá trình thi công một số dự án lại kéo dài không đảm bảo chất lượng như công trình sửa chữa, nâng cấp các quốc lộ trên địa bàn Lâm Đồng, thi công kéo dài nhiều năm gây khó khăn cho giao thông đi lại. Có đoạn vừa thi công xong đã phải sửa chữa chắp vá lại, gây nhiều bức xúc trong nhân dân. Ngoài ra một số ít đường có ý nghĩa tạo điều kiện cho sự phát triển của tỉnh ở vùng như tuyến đường cao tốc Dầu Giây - Đà Lạt đã được Chính phủ chấp thuận đầu tư từ nhiều năm nay nhưng chưa thu xếp được nguồn vốn. Chúng tôi đề nghị các bộ và Chính phủ chỉ đạo rà soát các dự án, hỗ trợ các địa phương đẩy nhanh tiến độ, cụ thể bằng vốn ODA và phát hành trái phiếu để nhanh chóng đầu tư hệ thống giao thông huyết mạch, các dự án thủy lợi giúp cho sự phát triển của địa phương kịp với sự phát triển chung.

Về vốn cho chương trình giảm nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ cũng còn rất thấp, khó hoàn thành mục tiêu xóa nghèo nhanh và bền vững như mục tiêu đề ra. Ví dụ Lâm Đồng có một huyện Đam Rông nằm trong 62 huyện nghèo của Chương trình 30a này, theo đề án giảm nghèo nhanh, bền vững được duyệt của huyện trong 10 năm với tổng số vốn đầu tư hơn 200 tỷ đồng/1 năm, nhưng thực tế 2 năm nay số vốn đầu tư hơn 200 tỷ đồng/năm nay mỗi năm chỉ khoảng 20%, do vậy rất khó để đạt yêu cầu đề ra. Cử tri đề nghị Chính phủ chỉ đạo sát sao hơn trong việc lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn của các huyện nghèo để tổng hợp và bố trí đủ các nguồn vốn đầu tư giúp cho chương trình có hiệu quả hơn.

Ý kiến thứ ba, về tình hình phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, lãng phí luôn được cử tri quan tâm. Báo cáo của Chính phủ có đánh giá tình hình tham nhũng năm 2010 tuy có giảm nhưng trên một số lĩnh vực vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp và trở lên tinh vi hơn. Mặc dù năm nay các ngành, các cấp đầu tư khá nhiều thời gian, công sức cho công tác này nhưng xem ra kết quả còn ít. Thực tế số địa phương phát hiện là rất ít, chỉ có 25 cơ quan như trong Báo cáo phát hiện có tham nhũng, ở địa phương không có vụ nào, qua thanh tra phát hiện nhiều sai phạm, xử lý kỷ luật hơn 500 tập thể, hơn 2000 cá nhân nhưng chỉ chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 62 vụ, 84 đối tượng liên quan đến tham nhũng. Trong những vụ đã khởi tố nhiều vụ điều tra kéo dài, hồ sơ trả đi trả lại gây hoài nghi trong nhân dân. Trong khi xét xử số vụ án xử án nhẹ chiếm tỷ lệ khá cao, bị can khởi tố tội tham nhũng chủ yếu là cán bộ cấp xã, cấp phường chiếm tỷ lệ là 1/3 số bị can. Những con số thực tế này phù hợp với dư luận xã hội cho rằng tình trạng tham nhũng trong bộ máy công quyền vẫn còn phổ biến, tính chất còn rất nghiêm trọng, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Cử tri cũng nghi ngờ tính nghiêm minh trong thanh tra, kiểm tra nội bộ và trong xử lý tham nhũng, đề nghị Chính phủ, các bộ, ngành xác định rõ hơn và sát hơn để tiếp tục có giải pháp đẩy lùi tham nhũng trong thời gian tới.

Về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Năm nay Chính phủ tiếp tục chỉ đạo triển khai nhiều biện pháp tích cực để ý thức thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của toàn xã hội có chuyển biến hơn trước. Tuy vậy hiệu quả đích thực thì dư luận xã hội còn nhiều nghi ngờ, từ tình hình quản lý, sử dụng vốn tài sản như Tập đoàn Vinashin đã công bố vừa qua như các đại biểu đã phát biểu chưa nói đến tham nhũng tiêu cực thì lãng phí cũng đã là quá lớn.

Một vấn đề nữa cũng cần đề cập là năm nay đất nước chúng ta tổ chức nhiều ngày lễ lớn, trong đó có nhiều ngành tổ chức kỷ niệm ngày thành lập, các đại hội thi đua điển hình tiên tiến, cả nước tổ chức nhiều sự kiện chào mừng và tiến tới Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Tình hình lãng phí qua tổ chức lễ hội được Quốc hội nêu ra từ kỳ họp trước nhưng chưa khắc phục được nhiều. Thực tế có nhiều nội dung cũng chưa được cân nhắc, chọn lựa kỹ, trong đó đáng chú ý là chất lượng một số công trình chào mừng chưa bảo đảm, không ít sản phẩm ăn theo mang tính hình thức không cần thiết, gây tốn kém tiền của công sức của xã hội. Đề nghị Chính phủ cần có chỉ đạo, tổng kết các lễ hội trong năm 2010, nhất là Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội để công bố cho nhân dân biết tổng chi phí từ ngân sách Nhà nước phục vụ cho lễ hội. Qua đó rút kinh nghiệm chỉ đạo công tác thực hành tiết kiệm tốt hơn trong thời gian tới. Tôi xin hết ý kiến, xin cảm ơn Quốc hội.



Lê Văn Cuông - Thanh Hoá
Kính thưa Quốc hội,

Qua nghiên cứu Báo cáo của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của các cơ quan Quốc hội về tình hình kinh tế - xã hội năm 2010, nhiệm vụ năm 2011 tôi cơ bản tán thành. Sau đây tôi xin được tham gia thảo luận 3 vấn đề.

Thứ nhất, về việc quản lý các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước. Từ nhiều năm nay Đảng và Nhà nước ta có chủ trương rất đúng đắn là cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước. Qua đó tách chức năng quản lý Nhà nước ra khỏi chức năng sản xuất kinh doanh, nhưng chưa được Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Trái lại ở một số nơi đã cố níu bám mô hình khép kín ấy để hình thành các nhóm lợi ích, để bảo vệ quyền lợi riêng của mình họ đã tìm mọi cách cản trở tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước. Sự cố Vinashin đã được cảnh báo sớm về kết quả quản lý yếu kém, tiêu cực, nhưng vì có biểu hiện bao che, ưu ái, nuông chiều nên cái u, cái nhọt lâu ngày đã vỡ tung để lại hậu quả hết sức nặng nề. Tổng vay nợ có thể lên đến con số 120 nghìn tỷ đồng, bình quân mỗi công dân Việt Nam từ lớn đến bé, từ người giàu đến người nghèo phải gánh nợ cho Vinashin khoảng 1,5 triệu đồng. Vinashin là giọt nước làm tràn ly, bộc lộ rõ trình độ quan liêu, yếu kém, thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý vốn, tài sản Nhà nước của Chính phủ, các Bộ ngành chức năng đối với các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước được xác định là những đầu tàu, là quả đấm thép của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bởi Chính phủ đã đứng ra bảo lãnh cho tập đoàn này được vay hàng tỷ đôla trái phiếu quốc tế, tạo điều kiện cho họ mang tiền Nhà nước đi tung hoành khắp đó đây từ Nam ra Bắc, kể cả đến các tỉnh miền núi thu gom nhiều xí nghiệp làm ăn thua lỗ về, thành lập đến 200 công ty con, công ty cháu, thật khó hiểu. Không biết quản lý kiểu gì mà Vinashin đi mua tàu, mua nhà máy phát điện cũ và đầu tư khắp nơi. Nhưng bộ chủ quản, các bộ chức năng và cả Thủ tướng Chính Phủ cũng không có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn kịp thời. Đặc biệt, có hai lần Thanh tra Chính Phủ đề nghị được vào cuộc, nhưng đã bị chặn lại. Mặt khác, kể từ năm 2006 đến năm 2009, có tới 11 đoàn đến làm việc nhưng vẫn không phát hiện ra được căn bệnh hiểm nghèo của Vinashin.

Còn nhớ cách đây mấy năm, có thành viên Chính phủ trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội đã giải trình, tiền cấp cho người ta rồi, người ta muốn làm gì tùy họ, mình quản sao được. Và hệ lụy để Vinashin sụp đổ thảm hại như hôm nay cũng là điều dễ hiểu, có điều để xảy ra hậu quả nghiêm trọng như thế nếu ở các nước, Chính Phủ hoặc ít ra có vài ba vị trí đã phải lên tiếng xin từ chức rồi, nhưng ở nước ta thì chưa. Cho nên cử tri kiến nghị tại kỳ họp này, Quốc hội cần xác định rõ nguyên nhân, trách nhiệm cụ thể của Chính Phủ, Thủ tướng Chính Phủ, Phó Thủ tướng phụ trách ngành, Bộ trưởng Bộ chủ quản, Thủ trưởng các Bộ, ngành chức năng có liên quan, chứ không thể nêu chung chung như nội dung các Báo cáo của Chính Phủ.

Tôi tán thành ý kiến đại biểu Nguyễn Minh Thuyết đề nghị Quốc hội tại kỳ họp này cần thành lập Ủy ban lâm thời theo quy định của pháp luật, để điều tra xác làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan qua vụ tiêu cực ở Vinashin, nhằm ngăn chặn kịp thời, hữu hiệu các tập đoàn kinh tế lũng loạn Nhà nước.

Về Tập đoàn điện lực Việt Nam là doanh nghiệp Nhà nước độc quyền sản xuất, phân phối trên 60% sản lượng điện của cả nước. Nhiều năm qua họ được coi như con cưng của nền kinh tế, nên nhận được nhiều ưu ái. Khi có thành tích họ vơ vào và chia tiền thưởng cao, còn khi thiếu điện thì không thấy ai đứng ra nhận trách nhiệm. Thử hỏi vai trò, trách nhiệm của Nhà nước ở đâu, trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chúng ta đặt quyết tâm đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp. Vậy bây giờ thiếu điện triền miên, các cơ quan Chính phủ, lãnh đạo Bộ Công thương và lãnh đạo Tập đoàn điện lực Việt Nam cứ hứa tới, hứa lui để biện minh cho sự yếu kém, thiếu trách nhiệm của mình. Để thiếu điện nhiều năm liên tục và sắp tới lại thiếu điện nữa, tôi xin hỏi Chính phủ ai là người phải chịu trách nhiệm chính? Tôi đề nghị Chính phủ làm rõ nguyên nhân, báo cáo trước Quốc hội để nếu còn gì vướng mắc thì Quốc hội, Chính phủ tập trung xem xét, tháo gỡ để sớm khắc phục tình trạng thiếu điện, đáp ứng nhu cầu, năng lực của nền kinh tế đất nước.

Thứ hai, về nông nghiệp phục vụ nông thôn. Qua các cuộc tiếp xúc cử tri phàn nàn đã kiến nghị nhiều về tình trạng các loại giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật không đảm bảo chất lượng, gây thất thiệt cho nhà nông nhưng đến nay vẫn chưa được ngăn chặn. Việc phân bón, thuốc bảo vệ thực vật kém chất lượng gia tăng, theo lý giải của Cục bảo vệ thực vật là do có quá nhiều cơ sở tham gia sản xuất kinh doanh nên các cơ quan chức năng gặp nhiều khó khăn trong công tác quản lý và giám sát.

Đề nghị Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cho biết đã có giải pháp và chế tài gì để ngăn chặn, xử lý trách nhiệm những đơn vị, cá nhân vi phạm, hay chỉ phạt rồi cho tồn tại. Hoặc có những lúc phải bó tay cứ để mặc cho kiến nghị của cử tri luôn giữ nguyên giá trị năm này qua năm khác.

Thứ ba, về giáo dục, đào tạo, đạo đức lối sống và dư luận xã hội qua các kỳ họp của Quốc hội. Ngành giáo dục đào tạo phát động rộng khắp "phong trào hai không" đến nay không biết đã đi đến đâu, về đâu mà kết quả kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm học vừa qua tăng vọt đến bất ngờ, làm đau đầu nhiều người tâm huyết với sự nghiệp giáo dục nước nhà, bởi không hiểu thật hay giả. Người trong cuộc cho rằng kỳ thi diễn ra bình thường, an toàn, nghiêm túc. Còn dự luận khẳng định đỗ cao là do đề thi quá dễ, đáp án càng dễ và kỷ luật phòng thi lỏng lẻo. Trong khi đó đề án "hai trong một" có đến chục lần được chỉnh sửa, tốn kém không biết bao nhiêu công sức giấy tờ, nhưng phải hoãn đi, hoãn lại nhiều lần. Tuy nhiên như lời một vị Thứ trưởng của Bộ thì không biết đến bao giờ mới được thực hiện, vì người khởi xướng ra nó đã về hưu hoặc chuyển công tác khác.

Kính thưa Quốc hội,

Cuộc vận động "học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" đã được triển khai bốn năm trên phạm vi cả nước, nhưng kết quả làm theo lời Bác chưa được nhiều, trái lại có một số vấn đề bức xúc như chạy chức, chạy quyền, tham nhũng, lãng phí, tư lợi, đạo đức xuống cấp trong một bộ phận cán bộ công chức ngày càng có biểu hiện tinh vi, phức tạp.

Tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội Khóa XII, có một số vị lãnh đạo Chính phủ cho rằng cứ sai là chặt chém kỷ luật hết thì lấy ai làm việc và bầu sao cho kịp. Hay chất lượng giáo dục như hôm nay, các Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo từ năm 1975 đến nay cùng chịu trách nhiệm đã không đón nhận được sự đồng tình của cử tri và đại biểu Quốc hội.

Tuy nhiên, sau Kỳ họp thứ 7, Ủy ban kiểm tra Trung ương đã ra Thông báo số 32 đề nghị xem xét, xử lý một số cán bộ cao cấp, đã góp phần củng cố niềm tin trong nhân dân trước thềm Đại hội XI của Đảng. Xin trân trọng cám ơn.



Huỳnh Ngọc Đáng - Bình Dương
Kính thưa Quốc hội.

Trước hết, tôi bày tỏ sự vui mừng với những thành tựu kinh tế - xã hội mà chúng ta đã đạt được. Với 16/21 chỉ tiêu kế hoạch của năm 2010 đã đạt và vượt cho thấy nền kinh tế đất nước đã phục hồi, cân kinh tế vĩ mô cơ bản được ổn định, kết quả hoạt động xuất khẩu rất đáng phấn khởi. Tôi thật sự ấn tượng với những thành tựu trong công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế, nhất là những kết quả nổi bật đạt được qua các Hội nghị cấp cao ASEAN vừa qua. Chúng ta đã tận dụng tốt cơ hội để nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam, qua đó góp phần bảo vệ lợi ích và chủ quyền quốc gia. Trong những ngày qua có thể nói cả dân tộc tự hào và chia sẻ niềm vui trước những thành tựu ngoạn mục về ngoại giao của đất nước. Chính phủ, ngành ngoại giao và các ngành liên quan đã hoạt động xuất sắc, xứng đáng với niềm tin của tất cả đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.

Tuy nhiên, qua Báo cáo Chính phủ, các thông số vẫn tiếp tục gây lo lắng cho mỗi người Việt Nam. Nếu tăng trưởng 6,7% nhưng chỉ số giá tiêu dùng tăng từ 7 đến 8% thì chất lượng tăng trưởng đó đối với người lao động, đối với người nông dân là rất thấp, thậm chí chỉ bằng không.

Kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 3 lần chỉ tiêu kế hoạch nhưng vẫn còn nhập siêu ở mức cao. Các cán cân tổng thể thâm hụt, xấp xỉ 4 tỷ đôla không hé lộ khả năng tích cực nào cho tương lai của cán cân thanh toán thương mại.

Thu ngân sách tăng 12,7% nhưng bội chi ngân sách vẫn ở mức gần 6% GDP và dư nợ công vẫn trên 56% GDP, chứng tỏ chính sách tiền tệ và tài chính của ta còn nhiều vấn đề cần phải đặc biệt lưu ý. Tôi nghĩ cần phải có những liệu pháp mạnh để làm chuyển biến tình hình này.

Thứ hai, về sự kiện Vinashin. Ngay trước thềm Đại hội Đảng đã xảy ra sự kiện Vinashin. Có thể xem đây như là một biến cố quan trọng trong lịch sử hình thành và hoạt động của các tập đoànkinh tế Việt Nam, gọi nó là một biến cố vì hệ quả của nó tác động sâu rộng không chỉ về kinh tế mà cả về xã hội, chẳng những làm suy yếu tình hình quốc gia, mà còn gây sụp giảm niềm tin của nhân dân đối với Chính phủ. Tuy nhiên sự kiện này không được Báo cáo của Chính phủ đánh giá tác động đúng mức và thật thỏa đáng khi đúc rút các nguyên nhân, sẽ thật không công bằng và phải đạo nếu cho rằng sự yếu kém về năng lực và những sai phạm của lãnh đạo tập đoàn là nguyên nhân chính bao trùm, càng không nên đổ cho tình trạng thiếu luật pháp và thể chế quản lý các tập đoàn kinh tế. Luật pháp, thể chế đều do chúng ta đặt ra. Trong một thời gian dài để thiếu luật pháp và thể chế quản lý các tập đoàn kinh tế có vốn hàng chục ngàn tỷ đồng đang quản lý hầu hết các nguồn tài nguyên quốc gia, trước hết đó chính là khuyết điểm của Chính phủ và sau đó có trách nhiệm liên đới của Quốc Hội. Tôi và nhiều cử tri hiện nay đang quan tâm nhiều hơn về các vấn đề của hậu Vinashin và kế đó là "tân Vinashin". Sau sự kiện Vinashin liệu sẽ còn những Vinashin nào khác trong số các tập đoàn kinh tế và tổng công ty của chúng ta. Các lỗ hổng về luật pháp và thể chế quản lý các tập đoàn kinh tế và các công ty sẽ được khắc phục như thế nào. Những cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc buông lỏng quản lý để gây ra hậu quả nghiêm trọng của Vinashin phải được truy cứu trách nhiệm thế nào cho công minh v.v... Những câu hỏi đó tôi biết rất khó trả lời, nhưng tôi đề nghị Chính phủ cần nghiêm túc có lời đáp thỏa đáng với cử tri cả nước. Tôi đề nghị Quốc hội cần có nghị quyết chuyên đề về các vấn đề này.

Còn về tân Vinashin tôi cho rằng một Vinashin mới không thể chỉ là Vinashin cũ cộng với bộ máy lãnh đạo mới. Tái cấu trúc Vinashin không chỉ là bán bớt tài sản của Vinashin để trả nợ, thu hẹp ngành nghề và thay đổi nhân sự lãnh đạo tập đoàn. Tôi cho rằng Vinashin là điển hình của những hạn chế yếu kém trong sản xuất kinh doanh và quản lý của doanh nghiệp Nhà nước. Do vậy một Vinashin mới phải là một điển hình đổi mới của doanh nghiệp Nhà nước. Tân Vinashin đòi hỏi chúng ta có những chuyển đổi phù hợp trong tư duy và luật pháp về doanh nghiệp Nhà nước. Tôi xin đề nghị như vậy.

Thứ ba, tôi muốn đề cập đến tình trạng thiếu điện hiện nay, hơn 10 năm qua năm nào chúng ta cũng thiếu điện. Năm nay có thêm cái mới là ngành điện đã phải cúp điện luân phiên ngay giữa mùa mưa, điện đang là bức tranh ảm đạm. Trong hiện trạng cơ sở hạ tầng đất nước, thiếu điện là điểm nghẽn kiên cố và bảo thủ nhất. Điện không chỉ là sản xuất, thu hút đầu tư, là đời sống văn minh, mà còn là chỉ số hài lòng của người dân đối với Chính phủ, do vậy khủng hoảng thiếu điện cũng nguy hiểm ngang bằng tham nhũng và nguy cơ thụt hậu. Để xảy ra khủng hoảng thiếu điện tức là đã cản trở đất nước hướng tới mục tiêu trở thành một nước công nghiệp phát triển. Trong 10 năm qua có quá nhiều ý kiến lập luận về nguyên nhân thiếu điện, người thì cho rằng tại thủy điện, có vị cho rằng do giá điện chưa theo giá thị trường. Cử tri mong muốn các vị đừng tranh luận nữa mà hãy làm đi cho dân nhờ. Tôi thấy Báo cáo của Chính phủ chưa thực sự quan tâm tình trạng đang rất khẩn cấp này. Xin đề nghị Chủ tọa kỳ họp, nếu quy chế kỳ họp cho phép, nên yêu cầu lãnh đạo Tập đoàn điện lực Việt Nam đến trực tiếp báo cáo, giải trình về tình hình thiếu điện trước Quốc hội.

Thứ tư, về diễn biến tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm, như Báo cáo của Chính phủ và các ngành chức năng đã nỗ lực hết mình trong công tác phòng chống, ngăn ngừa, nhưng rất tiếc các loại tội phạm chẳng những không giảm, mà còn gia tăng và biểu hiện ngày càng phức tạp. Tội phạm ngày càng trẻ hơn, hoạt động trắng trợn hơn, kỹ thuật và phương tiện phạm tội ngày càng tinh vi và hiện đại hơn, các tổ chức băng nhóm ngày càng lộ hình rõ nét những quy mô lớn hơn. Theo tôi tình hình đã trở lại xấu đi như thời kỳ băng nhóm Năm Cam còn hoạt động. Bây giờ người lương thiện bước ra đường là phải đối mặt với nhiều bất trắc, mà không bất trắc sao được khi còn hơn 17.769 đối tượng truy nã, trong đó có hơn 4.464 đối tượng nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm đang nhởn nhơ rình rập khắp mọi nẻo đường. Bọn tội phạm bây giờ hình như ngày càng được thế, cứ ngang nhiên hoạt động, lo cho mình chưa xong nói gì đến việc giúp đỡ người khác chống lại tội phạm. Vì vậy, bây giờ người tốt ra đường phải ngoảnh mặt làm ngơ, các bậc nghĩa hiệp thì cũng thu mình mà suy tư. Ở trong Bình Dương có một câu lạc bộ của những người bắt cướp từng được gọi là câu lạc bộ hiệp sỹ đường phố, các bạn ấy hoạt động rất tốt, nhiều hiệp sỹ được ngành Trung ương biểu dương nhưng số hiệp sỹ đó ít quá, làm sao để xã hội ta ở các nơi có nhiều các hiệp sỹ đường phố là việc lớn nên làm. Chúng ta cần tiến hành ráo riết các cuộc tấn công trấn áp, triệt hạ tội phạm nhất là các băng nhóm tội phạm có tổ chức, thiết lập lại trật tự trị an làm cho xã hội ta trở lại trong lành, yên ổn, giảm thiểu tối đa các bức bách để người lương thiện và quần chúng xã hội thở phào nhẹ nhõm như trước đây ta triệt hạ được băng nhóm Năm Cam.

Kính thưa Quốc hội, đây là kỳ họp cuối của Quốc hội khóa này, tôi cũng đã mạnh dạn có những ý kiến đóng góp như trên, mong các vị quan tâm tham khảo. Xin cảm ơn Quốc hội.



Nguyễn Văn Sỹ - Quảng Nam
Kính thưa Quốc hội,

Năm 2010 trong bối cảnh kinh tế thế giới còn khó khăn, nhiều nền kinh tế lớn tăng trưởng không ổn định, trong nước chúng ta thiếu điện, thiên tai, dịch bệnh xảy ra ở một số nơi, nhưng chúng ta là một trong số ít các nước đạt được những thành tựu đáng kể về phục hồi và duy trì tăng trưởng kinh tế. Đã đạt và vượt 15/21 chỉ tiêu kinh tế - xã hội do Quốc hội đề ra. Dự kiến tổng sản phẩm trong nước và thu ngân sách đều đạt và vượt chỉ tiêu, bội chi ngân sách giảm so với chỉ tiêu của Quốc hội. An sinh xã hội được chăm lo tốt hơn. Với nhiều chính sách hỗ trợ tác động cho vùng nghèo, người nghèo, vùng thiên tai, dịch bệnh, chính sách hỗ trợ tiếp cận các dịch vụ cơ bản về giáo dục, về y tế cho người dân.

Đây là một thành công lớn, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, sự điều hành quyết liệt và kịp thời xử lý những vấn đề cụ thể của Chính phủ.

Song 6 chỉ tiêu không đạt được tập trung vào lĩnh vực xã hội, môi trường, hai trụ cột quan trọng của phát triển bền vững. Một số năm gần đây các chỉ tiêu về môi trường không hoàn thành. Cần xem xét lại việc đề ra các chỉ tiêu và điều hành có vấn đề gì chưa ổn. Ngay chỉ tiêu về nước sạch tôi được biết đến nay có khoảng 75% dân số có nước sạch để dùng, trong đó số dân được sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế mới chiếm khoảng 40%. Như vậy trên thực tế mức độ đáp ứng về nước sạch cho người dân tại các địa phương còn thấp hơn nhiều so với Báo cáo của Chính phủ.

Về xử lý rác thải và nước thải ở các khu dân cư, các khu công nghiệp, các cụm công nghiệp, xử lý chất thải rắn về y tế nhiều nơi chưa tốt. Ô nhiễm môi trường trong khai thác khoáng sản ảnh hưởng các dòng sông, nguồn nước gây bức xúc trong nhân dân. Cần đẩy mạnh cuộc vận động giữ gìn môi trường và có chính sách đầu tư tốt hơn để xử lý, chú trọng hơn tới việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, hạn chế ô nhiễm môi trường đối tới từng dự án triển khai.

Chỉ số giá tiêu dùng 10 tháng đã tăng 7,58%, khó kìm chế ở mức 8% như dự kiến của Chính phủ. Hiện nay giá cả nhiều hàng hóa tiêu dùng đang trên đà tăng mạnh như lúa gạo, thực phẩm, gas, sữa, thuốc chữa bệnh v.v..... Kế hoạch kìm chế lạm phát chắc là sẽ bị vỡ, cuộc sống của người nghèo, người nông dân, người sống bằng tiền lương khó khăn, hiệu quả đầu tư thấp, ICO khu vực Nhà nước cao gấp đôi so với khu vực tư nhân. Hiệu quả vốn đầu tư khu vực Nhà nước nhìn chung là không tương xứng với ưu đãi được nhận.

Một vấn đề các đại biểu trước tôi đã có ý kiến và tôi cũng xin phản ánh ý kiến cử tri là Vinashin là một điển hình làm xấu đi hình ảnh của các tập đoàn kinh tế Nhà nước. 11 cuộc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán không phát hiện được, đến khi Ủy ban kiểm tra Trung ương vào thì mới rõ được vấn đề. Những bài học gì cần được rút ra trong quá trình quản lý từ thất bại của Vinashin, cần nghiêm túc chấn chỉnh, cần nhanh chóng xây dựng cơ chế kiểm soát và giám sát chặt chẽ các tập đoàn kinh tế Nhà nước để tránh những vấn đề tương tự có thể xảy ra.

Về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, tôi xin thống nhất với mục tiêu tổng quát, cần ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó tập trung kìm chế lạm phát như Báo cáo của Chính phủ, giảm thâm hụt ngân sách, giảm thâm hụt cán cân thương mại, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn năm 2010, gắn với đảm bảo an sinh xã hội, trong đó trọng tâm là vấn đề xóa đói giảm nghèo, cân bằng xã hội, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân. Việc làm thường xuyên và lâu dài để nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân vùng nông thôn, đầu tư tốt hơn cho khu vực nông thôn. Thực tế thu nhập hiện nay của cư dân nông thôn là 76.6% bình quân chung của Nhà nước, chỉ bằng 47,5% so với khu vực đô thị, có tới 84,5% hộ nghèo trong tổng số hộ nghèo cả nước sống ở khu vực nông thôn. Tập trung tháo gỡ những điểm vướng của nền kinh tế, đặc biệt là vấn đề giao thông, điện và nguồn nhân lực, huy động các nguồn lực đi đôi với tăng cường hợp tác công, tư trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông, điện, nguồn lực trong và ngoài nước. Đề nghị nâng cấp tuyến quốc lộ 1A rộng gấp đôi so với hiện nay, tập trung nguồn lực trong một số năm đầu tư tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam, đường ven biển, đặc biệt là qua khu vực miền Trung vừa phục vụ cứu hộ, cứu nạn khi thiên tai, khi lũ, vừa thực hiện chiến lược biển Việt Nam. Tỉnh Quảng Nam đang triển khai xây dựng cầu Cửa Đại mới gắn liền với Đà Nẵng, khu kinh tế Chu Lai, khu kinh tế Dung Quất. Cử tri đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ tiếp tục hỗ trợ vốn theo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ là 50% cho cây cầu này để tạo thế phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo vùng ven biển của tỉnh.

Chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề nóng không chỉ hiện nay mà cả tương lai của đất nước, chúng ta đang hội nhập thì nguồn nhân lực phải đảm bảo tính cạnh tranh, đáp ứng được thị trường lao động. Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế là do số lượng lao động đào tạo ở nước ta ở mức thấp, chất lượng còn nhiều vấn đề bất cập. Theo Báo cáo mới nhất của Diễn đàn kinh tế thế giới về mức độ hài lòng với chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam thì chúng ta đứng thứ 85/123 quốc gia, vùng lãnh thổ.

Số lượng sinh viên đại học, cao đẳng ra trường gia tăng nhưng việc làm rất khó vì không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, cơ quan tuyển dụng. Khả năng thực hành hạn chế do đào tạo thiên về lý thuyết hơn thực hành, sinh viên rất bỡ ngỡ khi tiếp cận với thiết bị hiện đại, công nghệ nên doanh nghiệp phải đào tạo lại. Cần đổi mới hơn nữa phương pháp giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng theo hướng nâng cao kỹ năng thực hành. Hiện đại hóa các cơ sở đào tạo nghề, đào tạo kỹ sư. Có chính sách đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòng thí nghiệm, thư viện, xây dựng đội ngũ nhà giáo để nâng cao chất lượng đào tạo, kỹ năng thực hành cho sinh viên. Xin hết.


Lê Thị Nga - Thái Nguyên
Kính thưa Quốc hội,

Tôi xin phát biểu về cơ sở pháp lý của việc thí điểm thành lập và hoạt động của tập đoàn kinh tế Nhà nước. Hiện nay chúng ta có 12 tập đoàn kinh tế Nhà nước thí điểm, 8 tập đoàn thành lập năm 2005 - 2006; 4 tập đoàn thành lập năm 2009 - 2010. Chúng tôi hoan nghênh những cố gắng của Thủ tướng, của Chính phủ và những đóng góp của các tập đoàn thời gian qua, nhất là việc Chính phủ đã kịp thời tái cơ cấu Vinashin. Việc tiêu lỗ của Vinashin là bài học lớn, trong đó có cả trách nhiệm của Chính phủ, của Quốc hội. Từ những hạn chế trong hoạt động của các tập đoàn trong thời gian qua, tôi xin phân tích những vấn đề pháp lý về sự ra đời và hoạt động của các tập đoàn kinh tế Nhà nước.

Một, về cơ sở pháp lý của việc thí điểm, trước hết chúng tôi khẳng định chủ trương của Đảng về thí điểm thành lập tập đoàn kinh tế Nhà nước là đúng đắn, hợp với xu hướng quốc tế và có bước đi thận trọng phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam.

Về nguyên tắc thí điểm tức là làm thử những việc mà pháp luật chưa quy định thí điểm thì có thể thành công hoặc thất bại. Vì vậy, phạm vi thí điểm chỉ nên hẹp, sau một thời gian nhất định phải đánh giá, tổng kết, chấn chỉnh những thiếu sót, nếu khẳng định thành công thì mới triển khai trên diện rộng.

Mô hình tập đoàn kinh tế Nhà nước là một mô hình rất phức tạp về địa vị pháp lý, về tư cách pháp nhân, về cơ cấu tổ chức và nhất là việc thực hiện quyền đối với phần vốn Nhà nước tại tập đoàn. Những nước còn tập đoàn kinh tế Nhà nước trên thế giới hiện nay không phải tập đoàn nào cũng thành công.

Thí điểm về thành lập tập đoàn kinh tế Nhà nước là một vấn đề rất quan trọng liên quan đến quản lý, bảo toàn nguồn tài sản thuộc sở hữu toàn dân được quy định trong Hiến pháp. Tuy là thí điểm nhưng các tập đoàn của chúng ta đều được thành lập chính thức, là một chủ thể quan trọng của nền kinh tế. Nên từ chủ trương của Đảng cho đến thực tiễn cần thiết phải có bước thể chế hóa thành văn bản quy phạm pháp luật về thí điểm ở tầm một nghị quyết của Quốc hội trong đó quy định rõ phạm vi lĩnh vực, thời gian thí điểm, mô hình tổ chức, địa vị pháp lý xử lý những vấn đề mâu thuẫn với các luật, phân công trách nhiệm kiểm tra, giám sát và xác định thời hạn tổng kết thì mới đảm bảo.

Nhưng ngay từ giai đoạn đầu tiên năm 2005, chúng ta đã bỏ qua bước thể chế hóa quan trọng này mà chỉ dùng các quyết định cá biệt để thành lập từng tập đoàn. Đáng lưu ý là có 8 tập đoàn thành lập đầu tiên gồm: than khoáng sản, dệt may, Bảo Việt, dầu khí, cao su, điện lực, tàu thủy, viễn thông ra đời và họat động từ năm 2005- 2006 khi chưa có văn bản pháp lý nào điều chỉnh về địa vị pháp lý, mô hình tổ chức và đã hoạt động trong tình trạng này từ đó cho đến ngày 5/11/2009, Chính phủ mới ban hành Nghị định 101 về thí điểm thành lập tổ chức họat động và quản lý tập đoàn kinh tế Nhà nước. Như vậy 4 năm sau ngày thành lập chúng ta mới có hành lang pháp lý ở tầm nghị định cho tổ chức, hoạt động quản lý của 8 tập đoàn này.

Cuối năm 2009 Quốc hội tiến hành giám sát việc chấp hành pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước. Bên cạnh đánh giá mặt được thì Quốc hội cũng đã chỉ ra khá nhiều thiếu sót trong công tác quản lý vốn, tài sản Nhà nước tại các Tập đoàn và ban hành Nghị quyết 42 yêu cầu Chính phủ tổng kết, đánh giá mặt tốt, mặt chưa tốt, chấn chỉnh những thiếu sót và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp thứ 8. Trong 2 tháng kể từ khi Quốc hội giám sát Chính phủ tiếp tục thí điểm thành lập thêm 4 tập đoàn mới: Viễn thông quân đội, phát triển nhà đô thị, hóa chất, Sông Đà và cho đến nay Chính phủ vẫn chưa có báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết 42 theo yêu cầu của Quốc hội.

Hai, về thẩm quyền và phạm vi thí điểm, các Tập đoàn thí điểm đều thuộc những lĩnh vực trọng yếu, xương sống của nền kinh tế nhất là đối với 8 tập đoàn đầu tiên. Do đó, nếu chỉ một Tập đoàn không thành công sẽ kéo theo cả những dây chuyền và có ảnh hưởng lớn đến các cân đối kinh tế, đến uy tín quốc gia, đến người lao động và Vinashin hiện nay là một minh chứng điển hình. Việc chúng ta thí điểm ngay trên phạm vi rất rộng với nhiều lĩnh vực trọng yếu và gần đây lại càng mở rộng là vấn đề rất đáng cân nhắc, nhiều luật gia cho rằng việc thí điểm liên quan đến hàng trăm ngàn tỷ đồng vốn Nhà nước mà về mặt pháp luật ngay từ đầu chúng ta lại không ràng buộc trách nhiệm của Quốc hội với tư cách là thiết chế quyền lực Nhà nước cao nhất để cùng chia sẻ trách nhiệm mà chỉ đặt trách nhiệm quá nặng nề lên vai Chính phủ là chưa thật hợp lý. Cử tri đặt câu hỏi Quốc hội khóa XI, XII có trách nhiệm gì trong việc thí điểm thành lập các Tập đoàn kinh tế lớn nắm giữ nhiều nguồn lực chủ yếu của đất nước như điện, dầu khí, khoáng sản để đến bây giờ khi xác định trách nhiệm trong vụ Vinashin và trách nhiệm về những sai phạm khác của các tập đoàn kinh tế thì trách nhiệm của Quốc hội phải chăng chỉ còn là trách nhiệm của cơ quan giám sát.

Ba, việc Chính phủ quản lý Nhà nước và thực hiện quyền chủ sở hữu tài sản Nhà nước tại các tập đoàn. Trong quá trình quản lý, Chính phủ đã phát hiện ra rằng việc thực hiện quyền chủ sở hữu của Nhà nước, việc quản lý Nhà nước đối với các tập đoàn có rất nhiều bất cập và lúng túng. Thậm chí lãnh đạo Bộ Kế hoạch, đầu tư đã nói là rất khó khăn khi bộ vào làm việc với tập đoàn thì không có cơ sở pháp lý. Cử tri cho rằng về mặt lý luận. Tập đoàn kinh tế Nhà nước không có tư cách pháp nhân, nhưng trên thực tế đã trở thành siêu pháp nhân. Nhiều tập đoàn kinh tế đã biến độc quyền Nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp, nhưng từ năm 2005 đến nay Chính phủ chưa kịp thời đề nghị Quốc hội sửa luật để khắc phục những bất cập và lúng túng đó, để cho đến nay khi một trong những tập đoàn thí điểm đó đổ vỡ Chính phủ mới báo cáo Quốc hội tại Báo cáo số 153 rằng sự lúng túng và bất cập này cộng với mô hình tập đoàn đang ở giai đoạn thí điểm, thể chế còn thiếu là một trong những nguyên nhân dẫn đến sai phạm của Vinashin. Về phía cơ quan giám sát chúng ta cũng chưa chủ động phát hiện để kịp thời khắc phục.

Bốn, về việc đầu tư ngoài ngành sản xuất kinh doanh chính.

Kính thưa Quốc hội. Đảng ta chủ trương xây dựng tập đoàn kinh tế Nhà nước mạnh, tức là mạnh về ngành sản xuất kinh doanh chính. Mỗi tập đoàn sẽ là một mũi nhọn của nền kinh tế, nhưng khi triển khai chúng ta lại cho tất cả các tập đoàn dàn hàng ngang để kinh doanh tất cả các lĩnh vực như nhau thì còn đâu là mũi nhọn.

Nghiên cứu kỹ các quyết định thành lập 8 tập đoàn đầu tiên cho thấy chúng ta đã cho 8 tập đoàn này đầu tư đa lĩnh vực, trùng chéo nhau, trong đó không xác định lĩnh vực nào là chính, lĩnh vực nào là phụ. Do đó, về mặt pháp lý sẽ không có khái niệm đầu tư ra ngoài lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính. Theo các quyết định này cả 8 tập đoàn đều được đầu tư bất động sản, tài chính, chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm là những lĩnh vực đầy rủi ro. Điện lực được kinh doanh viễn thông, còn cao su, dầu khí, than thì được đầu tư kinh doanh điện. Rõ ràng thực trạng nhiều tập đoàn ồ ạt đổ xô vào đầu tư bất động sản, đầu tư tài chính, chứng khoán trong khi quản trị yếu, thiếu trách nhiệm, dẫn đến thất thoát tài sản Nhà nước mà Quốc hội và cử tri đã lên tiếng, chính là hệ quả của việc chúng ta đã cho phép kinh doanh đa ngành nhưng không phân biệt ngành chính, ngành phụ và trong hoạt động đã không được các bộ kiểm soát chặt chẽ.

Tập đoàn điện lực để xảy ra thiếu điện, cắt điện thường xuyên, ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân, trong khi luôn kêu thiếu vốn, lỗ và đòi tăng giá điện thì năm 2008 đề nghị thưởng cho cán bộ trong ngành hơn 1.000 tỷ đồng và lại bỏ ra hơn 2.000 tỷ đồng để đầu tư lĩnh vực tài chính, chứng khoán nhưng về cơ bản là không hiệu quả. Chúng tôi hoan nghênh Thủ tướng Chính phủ đã nghiêm túc thực hiện ý kiến chỉ đạo của Trung ương và của Quốc hội chỉ đạo chấn chỉnh tình trạnh này trong thời gian gần đây và 4 tập đoàn mới đã phân biệt ngành nghề chính và ngành nghề liên quan.

Từ thực tế trên chúng tôi kiến nghị: một, ngoài Vinashin đề nghị Quốc hội và Chính phủ cho kiểm toán, thanh tra toàn bộ hoạt động của các tập đoàn kinh tế Nhà nước còn lại, nhất là đối với Tập đoàn điện lực, trên cơ sở đó báo cáo với Quốc hội toàn diện về tổ chức và họat động của các tập đoàn thí điểm. Nếu khẳng định thành công thì đề nghị Quốc hội sửa luật để tạo hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động của tập đoàn kinh tế Nhà nước.

Hai, đề nghị Chính phủ thực hiện nghiêm quy định tại Khoản 3, Điều 168 Luật doanh nghiệp, theo đó hàng năm Chính phủ báo cáo Quốc hội về thực trạng kinh doanh vốn Nhà nước, thực trạng bảo toàn và phát triển giá trị vốn và tài sản thuộc sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp.

Ba, đề nghị Chính phủ sớm báo cáo Quốc hội kết quả tổng kết mô hình Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước và kết quả thực hiện Nghị quyết 42 về kết quả giám sát của Quốc hội. Xin cảm ơn.



Phạm Thị Loan - TP Hà Nội
Kính thưa Quốc hội,

Về tình hình kinh tế - xã hội năm 2010 và nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2011 tôi cơ bản tán thành với Báo cáo của Chính phủ. Tôi xin đóng góp một số ý kiến sau:

Một, tình hình kinh tế vĩ mô. Theo Báo cáo của Chính phủ thì tăng trưởng GDP năm 2010 khoảng 6,7% cao hơn dự kiến của Quốc hội đưa ra. Tuy nhiên cử tri còn nghi ngờ về các số liệu báo cáo tăng trưởng này, vì nếu theo dõi các báo cáo Đại hội Đảng của các tỉnh thì con số các tỉnh báo cáo tăng trưởng của các tỉnh từ 12 - 15%. Cử tri lo lắng về tình trạng chạy đua tăng trưởng về số mà thiếu quan tâm tăng trưởng về chất và tính bền vững của sự phát triển.

Thực tế cho thấy việc nhập siêu năm 2009 là 12,92 tỷ, dự kiến năm 2010 thâm hụt mậu dịch khoảng 13 tỷ đôla, giá vàng tăng trong năm khoảng 20 đến 25%, tỷ giá hối đoái chênh lệch tỷ giá đang là nỗi bức xúc của doanh nghiệp. Lãi suất ngân hàng đứng vào hàng cao nhất trên thế giới, lạm phát cao, chỉ số giá tiêu dùng cao, ICO vẫn chưa được cải thiện, nhập siêu từ Trung Quốc rất cao, chiếm 90% nhập siêu của cả nước, nhưng Chính phủ vẫn chưa có biện pháp để cân đối, trong khi đó vẫn đang mở rộng cửa cho hàng hóa và những dự án EPC mà trong nước có đủ khả năng làm dành cho các doanh nghiệp của Trung Quốc thực hiện. Việc hạn chế quotar nhập khẩu vàng và để giá vàng tăng cao, để cho thị trường tự do thản nhiên thao túng nhập lậu vàng qua biên giới gây tác động xấu đến tỷ giá ngoại tệ. Sự khan hiếm ngoại tệ ảnh hưởng đến cả thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán. Nhưng trong kế hoạch năm 2011 và kể cả định hướng chiến lược những năm tiếp theo chúng tôi chưa thấy đưa ra được biện pháp thực sự hữu hiệu nào. Vậy Chính phủ sẽ làm gì cho xã hội và kinh tế Việt Nam cân bằng và phát triển bền vững?

Vấn đề thứ hai là vấn đề quản lý Nhà nước và trách nhiệm cuối cùng của ai trong việc quản lý kinh tế Nhà nước. Vừa qua theo Báo cáo của Chính phủ và thông báo của Ủy ban kiểm tra Trung ương Đảng ai cũng thấy được sự thật về Vinashin, đó là sản phẩm của việc thí điểm tập đoàn kinh tế Nhà nước. Vấn đề tôi muốn nêu ra ở đây là ai sẽ là người chịu trách nhiệm cuối cùng trong việc để Vinashin rơi vào tình trạng như vậy. Trách nhiệm của Thủ tướng, của Chính phủ và các Bộ, ngành, cá nhân liên quan như thế nào? Theo tôi không thể nói một cách đơn giản là do các cán bộ lãnh đạo của Tập đoàn Vinashin, một mình Vinashin không thể làm sai luật được. Chúng tôi tự hỏi ai đã cho phép Vinashin phát hành trái phiếu với lượng tiền lớn như vậy? Ai đã cho phép Vinashin vay vượt hạn mức quy định của một khách hàng theo quy định của luật là 15% vốn điều lệ của ngân hàng. Ai đã để Vinashin đầu tư tràn lan như vậy? Và đặc biệt là tại sao đã có 11 đoàn vào kiểm tra, giám sát nhưng vẫn không phát hiện ra sai phạm? Và tại sao Quốc hội đã có quyết định đưa Vinashin vào danh sách giám sát từ năm 2009 nhưng Chính phủ vẫn đề nghị để hoãn lại, cho Thanh tra Chính phủ làm việc trước và cho đến bây giờ kiểm toán Nhà nước của Quốc hội vẫn chưa vào kiểm toán được. Vậy tại sao Thanh tra Chính phủ vẫn không phát hiện ra điều gì. Vậy tất cả những việc đó là xuất phát từ mục đích gì? trách nhiệm thuộc về ai?

Trong Điểm c, Khoản 1, Điều 168, Luật doanh nghiệp qui định tách việc chức năng thực hiện các quyền chủ sở hữu với chức năng quản lý hành chính Nhà nước. Nhưng trong thực tế Bộ trường Bộ tài chính làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty SCIC. Thứ trưởng Bộ công thương làm Chủ tịch tập đoàn TKV và Thủ tướng thì đang trực tiếp quản lý 19 tập đoàn Tổng công ty Nhà nước 90 - 91.

Theo tôi được biết với việc Thủ tướng đang trực tiếp quản lý 19 tập đoàn Tổng công ty Nhà nước như vậy. Các tập đoàn Tổng công ty Nhà nước này làm ăn thua lỗ thì trách nhiệm của Thủ tướng như thế nào? Tại sao Thủ tướng vẫn trăm công nghìn việc điều hành chung đất nước mà lại còn trực tiếp quản lý, điều hành các tập đoàn Tổng công ty này. Tại sao không ban hành cơ chế điều hành chung để họ hoạt động theo pháp luật. Đặc biệt tại Khoản 3, Điều 168, Luật doanh nghiệp qui định: định kỳ hàng năm Chính phủ trình Quốc hội báo cáo tổng hợp về thực trạng kinh doanh vốn chủ sở hữu Nhà nước. Thực trạng bảo toàn và phát triển giá trị vốn đầu tư và tài sản sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp, nhưng nhiều năm nay Quốc hội chưa nhìn thấy có bản báo cáo nào trình Quốc hội từ phía Chính phủ theo như qui định nêu trên. Vậy việc không tuân thủ pháp luật để gây hậu quả nghiêm trọng như vụ Vinashin thì trách nhiệm cuối cùng sẽ thuộc về ai?

Tôi đồng tình với các ý kiến trước tôi về việc phải qui trách nhiệm đến cùng và đặc biệt Quốc hội, Đảng cần phải làm rõ trách nhiệm của những người quản lý Nhà nước. Theo tôi nghĩ những người làm sai cũng cần phải có một lời xin lỗi với nhân dân và có lẽ là cũng nên nghĩ đến văn hóa từ chức để nhân dân còn có lòng tin với lãnh đạo Nhà nước và với Đảng.

Vấn đề thứ ba là vấn đề chiến lược về năng lượng của Chính phủ như thế nào. Vừa qua khắp nơi nhân dân kêu thiếu điện, cắt điện tùy tiện không đúng Luật điện lực, EVN kêu thiếu vốn, thủy điện thiếu nguồn nước để phát điện, EVN kêu lỗ vốn trong năm hơn 6.000 tỷ Việt Nam đồng, giá mua điện cao hơn giá bán, các nhà đầu tư điện ngoài EVN kêu khó ký hợp đồng bán điện cho EVN, có hợp đồng bán rồi thì có được phép lên lưới hay không, lại phải xin - cho. Trong khi đó các nhà máy nhiệt điện lớn do Trung Quốc làm EPC chạy không ổn định, tốn nhiều than, công nghệ sử dụng than không phù hợp với loại than trong nước sản xuất được.

Về thủy điện thì các nhà thầu EPC từ Trung Quốc chiếm đến 90% các dự án EPC về điện và ta đang phải phụ thuộc họ về vấn đề hậu mãi, phụ tùng, phụ kiện trong vận hành. Mặt khác Trung Quốc đang kiểm soát nguồn nước thượng nguồn, lúc khô họ có thể giữ nước, lúc lũ lụt họ có thể xả nước gây nguy cơ cho ta. Gần đây họ đang chuẩn bị xây nhà máy điện hạt nhân gần biên giới của ta với mục tiêu sẽ bán điện cho ta và thực tế hiện nay ta đang phải mua điện của họ với giá cao hơn giá mua điện trong nước. Vậy rõ ràng đang có nguy cơ ta sẽ bị phụ thuộc vào nguồn điện của Trung Quốc và nếu vậy thì an ninh năng lượng có nguy cơ bị hệ lụy vì sự phụ thuộc này.

Tôi xin có ý kiến về 3 vấn đề nêu trên, xin cảm ơn Quốc hội.



Lý Kim Khánh - Cà Mau
Kính thưa Quốc hội,

Cơ bản thì tôi cũng tán thành với Báo cáo của Chính phủ và Báo cáo thẩm tra của Ủy ban kinh tế của Quốc hội. Cùng với những ý kiến của các vị đại biểu đã phát biểu trước về những nhận định, thành tựu đã đạt được. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã được thì kinh tế - xã hội của nước ta vẫn còn bộc lộ không ít những hạn chế, bất cập và đòi hỏi cần phải được phân tích một cách thấu đáo và có những biện pháp thật cụ thể nhằm tạo bước chuyển biến cho năm tới và giai đoạn tiếp theo.

Vấn đề thứ nhất, đó là vấn đề chương trình, mục tiêu quốc gia nói chung và những chính sách xóa đói, giảm nghèo nói riêng. Qua thực tiễn và qua Báo cáo của Chính phủ về các chương trình mục tiêu quốc gia đã được triển khai, thì phát huy có hiệu quả kinh tế - xã hội và góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo tạo việc làm theo mục tiêu đã được đề ra. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia đã bộc lộ tồn tại và hạn chế. Do đó, tôi cũng đồng tình cao với Báo cáo của Chính phủ và việc đề xuất danh mục các chương trình, mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011 - 2015 và có một số kiến nghị, giải pháp như sau.

Thứ nhất là mục tiêu, chỉ tiêu của chương trình mục tiêu quốc gia được lựa chọn phải thật cụ thể, rõ ràng, đo lường được, phù hợp với các mục tiêu của chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của quốc gia trong khoảng thời gian xác định. Đồng thời không trùng lắp với những mục tiêu, đối tượng của các chương trình khác đang được thực hiện và cần tăng mức đầu tư để các địa phương có thêm nguồn lực phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân ở những vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ hai, tiến độ triển khai thực hiện phải phù hợp với kế hoạch hàng năm, điều kiện thực tế và khả năng huy động nguồn lực, các mục tiêu cụ thể phải xác định được theo thứ tự ưu tiên hợp lý, đảm bảo đầu tư tập trung và có hiệu quả đối với vùng sâu, vùng xa, vùng kém phát triển để giảm khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, miền.

Thứ ba là cần lồng ghép các chương trình mục tiêu, dự án đầu tư theo hướng là tăng cường phân cấp đề cao vai trò, trách nhiệm của chính quyền địa phương và sự kiểm tra giám sát của các ngành của Trung ương để tập trung nguồn vốn đầu tư. Khắc phục tình trạng bố trí phân tán, dàn trải các nguồn vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Thứ tư, đề nghi các Ủy ban của Quốc hội có liên quan đến những vấn đề về tài chính, khoa học công nghệ và các vấn đề xã hội cùng các cơ quan của Chính Phủ nghiên cứu, đề xuất về các cơ chế, chính sách pháp luật, tạo môi trường pháp lý về đất đai, rừng, tài nguyên, môi trường và các chính sách phát triển sản xuất. Đồng thời, các chính sách mới phải phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế của từng vùng, miền nhằm phát huy và khai thác tiềm năng, lợi thế để xóa đói, giảm nghèo, phát triển bền vững cho các vùng đặc biệt khó khăn.

Thứ năm, cần triển khai đồng bộ các chính sách và giải pháp xóa đói, giảm nghèo gắn với giải quyết việc làm và đào tạo nghề, nhất là đối với người nghèo, lao động ở nông thôn. Ngoài ra, cần tiếp tục hoàn thiện chính sách đối với người có công, chính sách đối với thanh niên xung phong và chính sách trợ cấp xã hội.

Vấn đề thứ hai, đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Để thực hiện tốt hơn nữa về chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc trong hội nhập. Kiến nghị với Chính Phủ, Quốc Hội cần quan tâm những vấn đề sau:

Thứ nhất, cần tăng cường tốt hơn nữa về công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao giác ngộ hiểu biết trong đồng bào dân tộc về đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Thứ hai, đề nghị Quốc hội, Chính Phủ tiếp tục có chủ trương, chính sách, những giải pháp phù hợp và đòi hỏi phải có sự phối hợp thật đồng bộ nhiều giải pháp về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đồng thời cần có sự nỗ lực đầu tư toàn diện ở các cấp, các ngành từ cơ sở đến Trung ương và của toàn xã hội thì sẽ làm chuyển biến được toàn bộ đời sống và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ ba, cần đổi mới nội dung và các phương thức công tác dân tộc để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng gắn liền với nhiệm vụ xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc. Xây dựng cả về số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác vùng dân tộc. Đặc biệt cần chú trọng và quan tâm hơn về việc đào tạo, bồi dưỡng và cơ cấu hợp lý cán bộ là người dân tộc thiểu số ở các ngành, các cấp tại các địa phương.

Thứ tư, thực hiện tốt hơn nữa phương châm dân vận: "cận dân, gần dân, hiểu dân và hợp dân, có trách nhiệm với dân", cần chú trọng xây dựng lực lượng nòng cốt để nắm chắc và giải quyết kịp thời nguyện vọng chính đáng của đồng bảo dân tộc, thực hiện tốt chính sách của Nhà nước và quán triệt quan điểm xây dựng đời sống văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Vấn đề thứ ba, vấn đề liên quan đến y tế và chăm sóc sức khẻ nhân dân, hiện nay ta chưa có cơ chế để cơ quan bảo hiểm xã hội kiểm soát giá thuốc, trong khi hàng năm cơ quan chi trả một số lượng tiền rất lớn, năm 2009 quỹ bảo hiểm y tế chi trả tiền thuốc cho các bệnh viện khoảng 9.500 tỷ đồng, dự kiến trong năm 2010 sẽ là 13.000 tỷ đồng, không biết đó là đắt hay rẻ, có đúng với giá hay không?

Thứ hai, theo quy định của Luật bảo hiểm y tế, một số nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm y tế thực hiện cùng chi trả 5% hoặc 20% kinh phí khám, chữa bệnh nên một số đối tượng là người nghèo, người cận nghèo, người bị bệnh mãn tính, bệnh nặng gặp rất nhiều khó khăn trong việc cần chi trả kinh phí khám chữa bệnh.

Thứ ba, thời gian qua về tình trạng giá thuốc tăng làm dư luận xã hội rất bức xúc và bất bình trong nhân dân. Về vấn đề này tôi kiến nghị Chính phủ:

Thứ nhất, sớm chỉ đạo nghiên cứu bổ sung sửa đổi các quy định để có căn cứ phát lý về giá thuốc khi xét thầu, bảo đảm tính công khai, minh bạch về giá thuốc, hạn chế các công ty kinh doanh dược trung gian và hạn chế tình trạng hoa hồng cho các hiệu thuốc. Đông thời, bổ sung quy định trách nhiệm của cơ quan bảo hiểm xã hội trong việc tham gia kiểm soát giá thuốc và sớm sửa đổi một số quy định còn bất cập của Luật bảo hiểm y tế để một số nhóm đối tượng gặp nhiều khó khăn được bảo vệ sức khỏe tốt hơn.

Thứ hai, Bộ Y tế cần phối hợp thường xuyên với cơ quan truyền thông đại chúng để thông tin chính xác, kịp thời diễn biến của giá thuốc trên thị trường cũng như triển khai thực hiện Luật bảo hiểm y tế một cách toàn diện và các chính sách về y tế khác. Trước mắt cần nghiên cứu để trình với Chính phủ sửa đổi một số văn bản pháp luật để tạo điều kiện bình ổn giá thuốc chữa bệnh cho nhân dân.

Thứ ba là cần kiện toàn bộ máy thanh tra, tăng cường phối hợp liên ngành trong thanh tra, kiểm tra việc quản lý Nhà nước về thuốc, giá thuốc và xử lý nghiêm về các vi phạm trong các lĩnh vực này. Tôi xin hết ý kiến, xin cám ơn Quốc hội.



(Quốc hội nghỉ giải lao)


Trần Ngọc Vinh - TP Hải Phòng
Kính thưa Quốc hội,

Mặc dù kinh tế toàn cầu phục hồi chậm, nhưng kinh tế nước ta đã sớm ra khỏi tình trạng suy giảm và có mức tăng trưởng khá cao, kinh tế vĩ mô có bước cải thiện, an sinh xã hội được bảo đảm tốt hơn. Có được kết quả đó là do sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự chỉ đạo điều hành quyết liệt, linh hoạt của Chính phủ, sự giám sát tích cực có hiệu quả của Quốc hội, sự phấn đấu nỗ lực và sáng tạo của các ngành, các cấp cộng đồng doanh nghiệp và toàn thể nhân dân. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn còn đối mặt với những khó khăn, thách thức, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững không chỉ trước mắt mà cho cả những năm sau. Nhất là nguy cơ về chất lượng tăng trưởng còn thấp, lạm phát có xu hướng tăng cao. Vì vậy, chúng ta phải nghiêm túc đánh giá phân tích một cách khách quan, đầy đủ hơn nữa về những hạn chế, tồn tại của năm 2010 để từ đó đưa ra những giải pháp hữu hiệu, bổ khuyết cho năm 2011. Với nhận thức như vậy, tôi xin tham gia cụ thể một số nội dung sau.

Trước tình hình giá cả thị trường trong nước có xu hướng tăng cao, thâm hụt thương mại lớn, thanh khoản của nhiều ngân hàng khó khăn, lãi suất tín dụng cao, các doanh nghiệp rất khó tiếp cận với nguồn vốn, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn. Để thực hiện Nghị quyết của Quốc hội đề ra, Chính Phủ đã kịp thời ban hành Nghi quyết số 18 với nhiều giải pháp cụ thể nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát tăng cao, tốc độ tăng trưởng kinh tế ước khoảng 6,7% trong năm 2010. Song, trong 21 chỉ tiêu của Quốc hội đề ra, còn 6 chỉ tiêu không hoàn thành, chủ yếu liên quan đến đời sống của nhân dân, nhất là chỉ tiêu về lạm phát, môi trường, giáo dục và một số chỉ tiêu khác. Đề nghị Chính Phủ cần đánh giá sâu sắc về nguyên nhân không hoàn thành các chỉ tiêu đó để có giải pháp khắc phục.

Về kinh tế tăng trưởng, nhưng đánh giá tổng thể thì thiếu bền vững. Trong đó nhập siêu vẫn là một vấn đề báo động mà nhiều năm, năm nào cũng nêu trong báo cáo nhưng chưa có biện pháp xử lý thích hợp. Mức nhập siêu quá lớn làm giảm dự trữ ngoại tệ, thâm hụt ngân sách vãng lai. Nhiều mặt hàng trong nước sản xuất được nhưng vẫn cho nhập khẩu, như vậy công tác quản lý của các cơ quan công quyền còn lỏng lẻo. Hoạt động nhập khẩu chủ yếu dựa vào các doanh nghiêp nước ngoài chi phối. Đề nghị Chính Phủ có chính sách cụ thể với nhập siêu và đẩy mạnh hiệu quả của ngành công nghiệp phụ trợ.

Năm 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta tương đối cao. Tuy nhiên, chủ yếu nhờ vào tăng vốn, chất lượng tăng trưởng thấp, hiệu quả đầu tư công thấp. Kinh tế tăng trưởng nhưng thị trường tiền tệ vẫn diễn biến phức tạp, đồng Việt Nam bị phá giá, lãi suất cao, giá vàng lên xuống thất thường, đôla tăng cao khiến doanh nghiệp gặp khó khăn, ảnh hưởng đến thu nhập của người dân, giảm tác dụng đến chính sách hỗ trợ người nghèo của Chính phủ.

Việc khống chế lạm phát chưa thực sự hiệu quả, giá tiêu dùng ngày càng tăng cao gây khó khăn cho đời sống những người làm công, ăn lương, đối tượng hưởng lương hưu trí, người có thu nhập thấp. Việc bình ổn giá chỉ mang tính tình thế, chưa có giải pháp lâu dài. Đề nghị Chính phủ cần có biện pháp mạnh hơn để chống độc quyền về giá.

Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song trong công tác dự báo tình hình cung cấp điện còn yếu kém, quy hoạch thủy điện và chỉ đạo, xử lý thiếu điện chưa tốt. Việc để tình trạng thiếu điện kéo dài gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt, tạo tâm lý bức xúc cho người dân. Do đó, đề nghị Chính phủ phải đặt ưu tiên hàng đầu cho việc quy hoạch và cơ cấu ngành điện một cách hợp lý nhất.

Về các tập đoàn và tổng công ty hiệu quả hoạt động không tương xứng với nguồn lực của nhà nước đã đầu tư, mất lòng tin của nhân dân. Đề nghị Chính phủ cần đánh giá và phân tích sâu sắc hơn nữa về nguyên nhân tồn tại, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước trong thời gian tới.

Về nông nghiệp nông thôn, chúng ta có hơn 70% dân số làm nông nghiệp nên vấn đề bảo đảm an sinh xã hội là rất quan trọng. Đảng ta đã có Nghị quyết Trung ương 7 về xây dựng nông thôn mới, song trên thực tế chưa có chuyển biến tích cực. Năm 2009, nông nghiệp đóng vai trò 21% GDP nhưng chỉ được đầu tư có 6,45% GDP, xu hướng ngày càng giảm, chưa thực sự ưu tiên cho người nông dân, một số chính sách vừa qua nghiêng phần lợi cho các doanh nghiệp. Đề nghị Chính phủ cần triển khai đồng bộ các chính sách để điều tiết tốt hơn, tạo sự cân bằng vững chắc.

Trong năm 2011, đề nghị Chính phủ cần đẩy mạnh hơn nữa, phát triển kinh tế điểm xa và có những giải pháp chỉ tiêu cụ thể để tập trung xử lý những vấn đề như ô nhiễm môi trường; khắc phục tình trạng thiếu điện; ách tắc giao thông; đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước; nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính; đầu tư thỏa đáng cho nông nghiệp nông thôn; chấn chỉnh, nâng cao đạo đức xã hội, tăng cường kỷ cương phép nước.

Kính thưa Quốc hội.

Hiện nay lượng hàng đến và đi tại cảng Hải Phòng ngày một tăng; xe chở hàng chạy trên đường 5 ngày càng quá tải, nhiều lúc gây ách tắc giao thông, tai nạn thường xảy ra. Đề nghị Chính phủ tiếp tục chỉ đạo quyết liệt hơn nữa để đẩy nhanh việc xây dựng cảng nước sâu Lạch Huyện và tiến độ đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, tạo động lực phát triển kinh tế xã hội cho các tỉnh khu vực sông Hồng.

Trên đây là một số ý kiến của tôi xin kính trình Quốc hội và Chính phủ. Xin trân trọng Quốc hội.



Đồng Hữu Mạo - Thừa Thiên - Huế
Thưa Quốc hội,

Tôi xin phát biểu 2 vấn đề.

Vấn đề thứ nhất, cũng vào thời điểm này năm trước khi thảo luận về kinh tế - xã hội với những tác động bất lợi của nền kinh tế thế giới. Cộng với những khó khăn trong nước, chúng ta lo sợ năm 2010 kinh tế của nước nhà có những diễn biến xấu. Tuy nhiên, đến nay chúng ta giữ được sự ổn định và phát triển tốc độ tăng trưởng GDP cao, chính trị ổn định, quốc phòng an ninh giữ vững, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng cao. Kết quả đó không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả của sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng, của Quốc hội đặc biệt là sự điều hành linh hoạt nhạy bén của Chính phủ. Dù vậy tình hình hiện nay vẫn đang hết sức phức tạp, nhất là sự biến động của giá cả. Đề nghị Quốc hội, Chính phủ có những giải pháp chủ động, kịp thời đối phó, đừng để lạm phát cao trở lại, ảnh hưởng bất lợi đến kinh tế - xã hội.

Vấn đề thứ hai, năm ngoái phát biểu trước Quốc hội, tôi đã đề xuất các chính sách hỗ trợ phòng, chống bão lụt. Lần này lẽ ra không nên phát biểu lại, nhưng tình hình bão lụt vừa qua tại miền Trung, tôi thấy nhiều điều ray rứt. Vì vậy, tôi xin trở lại chủ đề này. Nhìn cảnh nhiều gia đình ngồi trên nóc nhà, đu trên cành cây trong những trận lụt vừa qua tôi thầm nghĩ giá như lúc đó mỗi gia đình của họ có một góc nhà an toàn để trú ẩn, góc nhà không cần phải rộng, càng không cần phải tiện nghi, miễn là có chỗ an toàn để nằm, có chỗ đứng để nấu ăn để khỏi đói rét trong những ngày bão lụt thì hạnh phúc biết mấy, nhưng họ lại không có nơi an toàn như thế để trú ẩn, nóc nhà, cành cây không phải là nơi làm ra để tránh trú bão. Năm ngoái ở tỉnh chúng tôi có hai vợ chồng có đứa con nhỏ rơi xuống nước chỉ vì trú ẩn qua đêm ở những nơi như thế. Những cảnh thương tâm đó làm tôi nghĩ tới công tác phòng, tránh bão lụt.

Trước hết nói về người dân sinh ra và lớn lên trong vùng thấp trũng và không năm nào là không trực tiếp với bão lụt hoặc bị bão lụt đe dọa, nên chắc chắn không một gia đình nào là không có những giải pháp đề phòng bão lụt. Tuy nhiên trừ một số gia đình có điều kiện xây nhà kiên cố, còn phần lớn đều là phòng tránh sơ sài, không đủ sức phòng chống về bão lụt, chưa nói đến những trận bão lụt lịch sử, chỉ cần một trận bão lụt bình thường thì cũng đã thiệt hại khá nặng nề rồi.

Đối với Nhà nước đã thực sự quan tâm đến công tác phòng, chống bão lụt, đã đầu tư nhiều hồ, đập, đê điều đã hết hàng ngàn tỷ đồng, hàng vạn tấn gạo để cứu trợ đồng bào. Các cấp ủy Đảng, chính quyền từ Trung ương xuống địa phương đã làm hết mình để cứu dân. Nhưng chúng ta chưa hỗ trợ nhân dân, nhất là người nghèo có một chỗ ở an toàn để tránh trú bão. Không có chỗ an toàn để tránh bão lụt, nên khi bão lụt xảy ra thì thiệt hại khôn lường, người chết, tài sản trôi, bị hỏng, đặc biệt là người nghèo nhà cửa đơn sơ, dành dụm được một ít vốn liếng chưa kịp thoát nghèo thì bão lụt lại xóa sạch. Những hình ảnh mà các phương tiện truyền thông đưa tin trận lụt vừa qua tại Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An làm cho bất cứ một ai không khỏi động lòng. Những tiếng kêu cầu cứu trong đêm, những cánh tay nhô lên từ các mái nhà, có những gia đình chịu đói, chịu khát nhiều ngày, có người phụ nữ bồng con đứng suốt đêm vì không có chỗ ngồi, tất cả đều nói lên vì không có một chỗ ở an toàn. Cũng nói thêm là thiệt hại vừa qua mới chỉ là thiệt hại đơn, tức là thiệt hại do lụt chưa kèm theo bão, nếu gặp lụt kèm theo bão mà chỗ ở không an toàn như hiện nay thì thiệt hại gấp hàng chục, thậm chí hàng trăm lần.

Năm trước tôi có đề xuất Quốc hội cần có chính sách hỗ trợ nơi ở an toàn cho nhân dân vùng bão lụt, năm nay qua tình hình bão lụt vừa rồi càng thôi thúc tôi đề nghị mạnh hơn. Nơi ở an toàn là vấn đề hết sức bức thiết, là mong muốn lớn nhất của nhân dân sống trong vùng bão lụt, vì vậy sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong phòng, chống bão lụt trước hết phải là sự quan tâm hỗ trợ cho nhân dân có nơi ở an toàn. Nơi ở an toàn ở mỗi vùng, miền khác nhau, miền Nam có thể tôn nền vượt lũ, còn miền Trung có thể xây dựng công trình có độ cao hơn 3m, trong điều kiện còn khó khăn, nhất là người nghèo không đủ khả năng xây dựng ngôi nhà có độ cao như vậy, vì vậy tôi đề nghị nhà nước hỗ trợ các hộ nghèo và cận nghèo xây dựng góc nhà an toàn, đó là góc nhà có độ cao vượt được lũ lịch sử, có kết cấu chịu được bão mạnh, với diện tích tối thiểu đủ để cất giữ tài sản thiết yếu và trú ẩn cho gia đình trong những lúc cần thiết. Vì là diện tích tối thiểu nên nó sẽ không tiện nghi, nhưng theo tôi nghĩ đó là phương án lựa chọn tối ưu khi bão lụt thường xuyên đe dọa, nhưng nhân dân chưa đủ điều kiện để xây dựng nhà kiên cố. Tôi không có điều kiện để tính toán cụ thể nhưng tôi nghĩ chi phí để xây dựng một nơi ở như vậy là có thể thực hiện được nếu có sự nỗ lực của Nhà nước và nhân dân.

Thưa Quốc hội, việc Nhà nước, các tổ chức từ thiện, người hảo tâm hỗ trợ giúp đỡ người nghèo về nhà ở là việc đã và đang làm. Vì vậy, việc tôi kiến nghị giúp đỡ người nghèo có nơi ở an toàn là không có gì quá đáng. Trước khi đưa ra đề xuất này tôi đã tìm hiểu chính sách Nhà nước hiện hành như Chương trình 134, Quyết định 193, Quyết định 167 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ nhà ở cho người nghèo. Những chính sách này đã thực hiện được nhiều năm và sắp đến thời kỳ kết thúc. Đây là điều kiện thuận lợi cả nguồn kinh phí và kinh nghiệm để thực hiện hỗ trợ người nghèo về nơi ở an toàn. Nếu có chỗ ở an toàn, có nơi trú ẩn và cất giữ tài sản thiết yếu sẽ không bị thiệt hại nặng nề khi có bão lụt. Đó là điều kiện đầu tiên để người nghèo vươn lên thoát nghèo.

Việc hỗ trợ ngân sách Nhà nước cho người nghèo có chỗ ở an toàn là cách hỗ trợ chủ động, hỗ trợ 1 lần khác với hỗ trợ sau bão lụt là hỗ trợ nhiều lần. Hỗ trợ trước bão lũ để không xảy ra thiệt hại, hỗ trợ sau bão lũ dù nhiều cũng không thể bù đắp được những thiệt hại do bão lũ gây ra. Xin cảm ơn Quốc hội.



Nguyễn Hồng Quân - Bộ trưởng Bộ Xây dựng
Kính thưa Quốc hội,

Được phép của Đoàn Chủ tịch, tôi xin phép báo cáo với Quốc hội về tình hình quy hoạch xi măng.

Trước hết, tôi cũng chia sẻ và đồng tình với ý kiến của đại biểu Tiến ở Quảng Trị phát biểu trước đây về công tác quy hoạch của chúng ta có vấn đề về chất lượng, về sự đồng bộ. Trước hết phải nói rằng quy hoạch ở đây chúng ta cũng phải nhận thức là nó 2 phạm trù khác nhau là quy hoạch ngành và quy hoạch lãnh thổ, hay nói cách khác là quy hoạch phi vật thể và quy hoạch vật thể. Tôi xin phép nói về quy hoạch ngành, quy hoạch xi măng là thuộc phạm vi chức năng của ngành xây dựng. Như đại biểu nêu số liệu cũng có cái đúng, tức là hiện nay nếu xét trong quan hệ cung cầu của xi măng thì các dự án xi măng trong nước của chúng ta cung đang lên cao dần và như năm nay con số của cung là vượt cầu. Thưa Quốc hội, mỗi năm thị trường xi măng của chúng ta tăng trưởng khoảng 11%, tức là khoảng 4,5-5 triệu tấn/1 năm, năm nay chúng ta tiêu thụ khoảng 50,5-51 triệu tấn xi măng, dự báo cuối năm nay chúng ta sẽ có khoảng 55-56 triệu tấn xi măng. Trong những năm vừa qua không phải chúng tôi điều chỉnh quy hoạch xi măng đến 4 lần như đại biểu nói mà quy hoạch 108 được Thủ tướng Chính phủ cách đây 5 năm, bây giờ chúng tôi đang điều chỉnh.

Điều chỉnh quy hoạch ngành nhiệm vụ quan trọng là mục tiêu đảm bảo bình ổn thị trường, có nghĩa là cung cầu nhất trí, cung với cầu mà nhất trí với nhau có nghĩa là mình đảm bảo bình ổn thị trường. Quan hệ cung cầu có tác động bởi các quy luật của kinh tế thị trường và nhiệm vụ của nhà nước là làm sao chúng ta nhìn thấy trước được việc đó và chúng ta tăng được cung để đảm bảo cầu, tăng cầu tức là phát triển thị trường và tăng cung lên để đảm bảo bình ổn sự cung cầu đó, hiện nay đang làm việc này. Thị trường xi măng của chúng ta trong những năm vừa qua, chúng ta cũng phải nhìn nhận nhập khẩu clinke khoảng 3-3,5 triệu tấn/1 năm. Như ngay trong năm nay mình nói là thừa xi măng như thế nhưng trên thực tế vẫn còn phải nhập khẩu tới 1,7 triệu tấn clinke, đó là tình hình thị trường, vì thị trường giờ chúng ta hội nhập rồi, không phải mình cấm đoán, doanh nghiệp ở thị trường cảm thấy nhập khẩu còn tiêu thụ được thì người ta lại nhập khẩu. Chính phủ chỉ đạo một mặt mình tăng cung, mặt khác mình hạn chế nhập khẩu clinke, năm nay Chính phủ đã làm việc đó, Bộ Xây dựng đã làm việc đó, năm ngoái nhập khẩu 3,5 triệu tấn clinke, năm nay nhập 1,7 triệu tấn, cung đang từng bước hạn chế. Khi chúng tôi làm quy hoạch vật liệu có xác định rõ trên các vùng nguyên liệu là làm quy hoạch. Báo cáo Quốc hội, trên cơ sở các vùng nguyên liệu của nước ta chia ra làm 6 vùng nguyên liệu xi măng và gắn với phát triển kinh tế - xã hội của vùng để đảm bảo việc các dự án xi măng có hiệu quả. Thị trường xi măng của ta có đặc điểm ở khu vực miền Bắc nguồn nguyên liệu dồi dào cho nên cung ở miền Bắc lớn nhưng cầu không cao bằng miền Nam nên khu vực ở miền Nam nguồn nguyên liệu đá vôi ít, tiêu thụ xi măng cao. Khi làm quy hoạch xi măng chúng tôi phải tính toán việc này làm sao đảm bảo cân đối hợp lý giữa các vùng miền và đảm bảo cân đối cung cầu.

Chúng tôi dự báo trong những năm tới thị trường xi măng của chúng ta tiếp tục tăng, hiện nay các dự án xi măng đưa vào quy hoạch đang đảm bảo cung phù hợp với cầu, nó có cao hơn cầu cũng có bởi tính toán bằng hệ số. Trong những năm tới dư thừa xi măng từ 2 - 5 triệu tấn xi măng, trong những năm tới đây chúng tôi đang đề xuất những biện pháp để báo cáo với Chính phủ, trong đó có:

Biện pháp thứ nhất là tăng cường tiêu thụ xi măng hơn nữa, đẩy cầu lên bằng việc đưa xi măng vào các công trình giao thông, công trình thủy lợi, kênh mương, nội đồng, đường giao thông nông thôn và chúng tôi cũng đang bàn với Bộ Giao thông vận tải là cả đường quốc lộ. Xi măng là một mặt hàng trong nước sản xuất được mà nếu chúng ta tiêu thụ trong nước được thì đó là một việc tốt, việc này cũng đang còn có những ý kiến tranh luận về vấn đề giá thành đầu tư đường xi măng, đường nhựa v.v..., việc này từng bước chúng tôi đang bàn với Bộ Giao thông vận tải để giải quyết.

Thứ hai là tăng các dự án đầu tư vào vật liệu xây dựng không nung để thay thế cho gạch ngói, đất sét nung. Gạch ngói, đất sét nung ở nước ta hiện nay khoảng 15 - 20 tỷ viên một năm, ảnh hưởng đến môi trường tiêu thụ năng lượng, tiêu thụ than. Vật liệu xây dựng không nung có nhiều tính ưu việt và nếu thay thế cho gạch ngói, đất sét nung giải quyết vấn đề xi măng ngoài ra còn có những ưu điểm của nó như vấn đề về môi trường, vấn đề tiêu thụ năng lượng, vấn đề đất đai. Hiện nay trên cả nước chúng tôi đã trình đề án này Thủ tướng Chính phủ đang phê duyệt và đang phát động trên cả nước có 10 dự án nhà máy gạch vật liệu xây dựng không nung đang đầu tư xây dựng và có 2 nhà máy đã đi vào sản xuất. Đó là vấn đề thứ hai.

Thứ ba là cũng phải tính đến việc xuất khẩu, xuất khẩu hiện nay thì chúng tôi bàn với Hiệp hội xi măng để tăng cường thúc đẩy xuất khẩu xi măng nhưng thực chất là xuất khẩu clinke. Vì xi măng nó là một loại hàng có đặc thù giá trị không cao, vật liệu rời, mau hỏng, cho nên việc mình tính tới chuyện xuất khẩu của nó thì không phải dễ, cái này phải trên cơ sở tính toán về thị trường, có những giải pháp. Ví dụ, cảng dân dụng, tàu dân dụng v.v... thì mới thúc đẩy được cái này. Vì hiện nay đang khuyến khích xuất khẩu xi măng và một số doanh nghiệp của chúng ta cũng đang làm việc này.

Thưa Quốc hội, điều chỉnh quy hoạch 108 là quy hoạch về cân đối cung cầu xi măng do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2005 thì bây giờ chúng tôi mới đang chuẩn bị trình Thủ tướng Chính phủ để điều chỉnh việc thi hành này đảm bảo bình ổn thị trường xi măng ở trong cả nước. Còn việc cung tăng lên, thưa với Quốc hội là nó cũng có một tình hình nữa, tức là trong những năm vừa qua thì thường xi măng của mình cung nhỏ hơn cầu, làm xi măng ra bán không hết, các nhà doanh nghiệp thấy làm xi măng dễ quá nên cũng muốn đầu tư, nhiều nhà đầu tư muốn đầu tư. Đầu tư để phát triển thì cũng là tốt, cái này khi mình và các nhà doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp khu vực tư nhân người ta đầu tư thì tất nhiên người ta có quyền hạn của người ta, trong kinh tế thị trường thì mình cũng phải giải thích, chúng tôi cũng làm tuyên truyền và giải thích này để cho anh em doanh nghiệp, các nhà doanh nghiệp người ta cũng phải hiểu. Bởi vì đầu tư ra nhà máy xi măng cũng dễ nhưng làm xong nhà máy xi măng rồi mà không bán được xi măng thì người đầu tư cũng chết. Việc này cũng cần phải có một quá trình để thay đổi nhận thức, kể cả cho các khu vực doanh nghiệp, kể cả ngoài xã hội. Đặc biệt cần phải có sự phối hợp ở trên đối với các đồng chí, các cơ quan, các cấp chính quyền ở các địa phương nữa.

Thưa Quốc hội, tôi xin báo cáo có một đặc điểm là ở nhiều địa phương của mình, nhất là những địa phương nghèo, công nghiệp thì không có, kinh tế thì chậm phát triển, có nhà đầu tư đến thì mình cũng mừng. Cho nên tâm lý anh em hay ủng hộ, hay khuyến khích, thậm chí tạo điều kiện cho nhà đầu tư đầu tư xi măng vào.

Nhưng bức tranh vĩ mô về cung - cầu xi măng của toàn quốc có khi các đồng chí không biết, có khi lãnh đạo địa phương cũng không biết và nhà đầu tư có khi cũng không biết. Cho nên phong trào cũng đã có lúc, có nơi lên tiếng là phong trào đầu tư xi măng thì chúng tôi cố gắng giúp Chính Phủ hạn chế công việc này, không để xảy ra câu chuyện gọi là "phong trào xi măng".

Nếu chúng ta theo dõi trên thị trường thì thấy như năm ngoái, nhưng bây giờ tự thị trường làm cho mọi người cũng phải giác ngộ, kể cả các nhà đầu tư, các nhà doanh nghiệp và nhiều đồng chí lãnh đạo chính quyền địa phương. Ví dụ có những địa phương thấy mình có đá vôi được nhiều, có hàng tỷ tấn đá vôi có thể làm 5 triệu, 10 triệu tấn xi măng ở một chỗ thì chắc chắn thị trường không cho phép làm được như thế, không tiêu thụ được như thế. Đó là chưa nói đến chuyện hạ tầng, hạ tầng cơ sở không cho phép. Bởi vì đầu tư xi măng mà muốn tiêu thụ được thì nó phải có hạ tầng, phải có đường xá, bến cảng. Ví dụ tỉnh Quảng Bình có Nhà máy xi măng Sông Gianh nếu con đường tốt mà đưa ra được cảng Hòn La và bán được, tiêu thụ được thì tiết kiệm được 20.000 đồng nếu đưa ra được cảng Vũ Hán thì nó phải đồng bộ với hạ tầng. Vấn đề này thì không phải nhà đầu tư nào cũng biết được và không hỏi nhiều như các đồng chí lãnh đạo cấp chính quyền được. Chúng tôi giúp Chính phủ tuyên truyền vấn đề này. Quá trình xây dựng, quy hoạch cũng là quá trình tuyên truyền, vận động để cho mọi người hiểu về quy hoạch.

Năm nay thị trường đang từng bước đi vào ổn định. Chúng tôi tham mưu giúp Chính phủ để bình ổn thị trường xi măng. Hiện nay đã giảm nhập khẩu cờ lanh ke rồi, cung cầu ổn định.

Được phép của Đoàn Chủ tịch, tôi xin báo cáo Quốc hội thêm một số thông tin như vậy.



Vi Trọng Lễ - Phú Thọ
Kính thưa Quốc hội.

Tôi nhất trí với Báo cáo của Chính phủ đánh giá về tình hình thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010, cũng như Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội cho rằng mặc dù năm 2010 còn gặp nhiều khó khăn, song với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị; sự chỉ đạo, điểu hành quyết liệt trong tổ chức thực hiện, nhất là việc xử lý kịp thời, nhanh nhạy những tình huống phát sinh, chúng ta đã vượt qua khó khăn và đạt được những kết quả khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và công tác đối ngoại. Tôi cũng đồng ý với các chỉ tiêu và 6 nhóm nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội mà Chính phủ đưa ra cho năm 2011. Đóng góp vào các nhiệm vụ, giải pháp của năm 2011, tôi xin có 2 ý kiến sau đây:

Thứ nhất, về lĩnh vực phát triển nông nghiệp, nông thôn. Thời gian qua Chính phủ đã nỗ lực triển khai Nghị quyết của Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 về nông nghiệp, nông thôn và nông dân, kết quả bước đầu đạt được rất đáng khích lệ. Tuy nhiên qua khảo sát và nắm bắt thực tế chúng tôi nhận thấy việc đầu tư vào nông nghiệp hiện nay chứa đựng nhiều rủi ro, phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, giống, đất đai, thổ nhưỡng. Trong khi đất nông nghiệp lại manh mún không chỉ ở vùng trung du, miền núi mà ngay ở các tỉnh vùng đồng bằng. Do vậy việc đưa cơ giới vào đồng ruộng rất khó khăn, mặc dù trong các năm gần đây các địa phương đã nỗ lực tổ chức thực hiện việc dồn điền, đổi thửa. Ở những nơi có tiềm năng sản xuất lúa để xuất khẩu như vùng Đồng bằng sông Cửu Long thì sản lượng, chất lượng lúa không đồng nhất, do kỹ thuật chăm sóc của nông dân không giống nhau từ khâu chọn giống, chọn phân bón, chăm sóc từ chu kỳ đến khâu thu hoạch và chế biến sau thu hoạch cũng không đồng nhất. Do vậy theo các chuyên gia xuất khẩu lúa gạo thì chất lượng gạo của Việt Nam thấp, tỷ lệ tấm ở mức cao, kém lợi thế cạnh tranh.

Để chương trình xây dựng nông thôn mới có hiệu quả vừa đảm bảo chiến lược an ninh lương thực, vừa đảm bảo ở nông nghiệp, nông thôn phát triển bền vững, tôi xin đề nghị Chính phủ:

Một, chỉ đạo các Viện khoa học quan tâm nghiên cứu xây dựng một bộ giống cây lương thực chuẩn và ổn định, để từ đó có thể sản xuất đại trà tạo ra một sản lượng lương thực hàng hóa lớn, phục vụ cho tiêu dùng trong nước cũng như là xuất khẩu.

Hai, chỉ đạo các địa phương sớm hoàn thành việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp, bao gồm cả việc quy hoạch vùng nông nghiệp chuyên canh lớn, trong đó quan tâm đến quỹ đất nông nghiệp ổn định, đặc biệt là đất trồng cây lương thực, không cho lấy đất trồng lúa để sử dụng sang việc khác, nhằm giúp cho người nông dân yên tâm sản xuất lâu dài và có điều kiện thâm canh, chuyên canh sâu trên thửa ruộng của mình. Nhà nước nên tiếp tục triển khai việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2020.

Ba, để gắn kết người nông dân với nhau trong mô hình mới về hợp tác xã nông nghiệp, nhà nước phải tạo điều kiện để họ hỗ trợ lẫn nhau hoặc cộng đồng trách nhiệm trong sản xuất nông nghiệp nói chung, từ khâu chọn giống quy trình kỹ thuật chăm sóc đến khâu thu hoạch, chế biến và tiêu thụ. Muốn vậy phải sớm sửa đổi, hoàn thiện Luật hợp tác xã theo hướng nhà nước có nhiều ưu đãi để hỗ trợ hình thành và phát triển các hợp tác xã nói chung, trong đó có hợp tác xã nông nghiệp, thu hút người nông dân hăng hái vào hợp tác xã.

Bốn, mô hình liên kết 4 nhà là nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp trong sản xuất nông nghiệp đang được nhiều ngành, địa phương, doanh nghiệp và nông dân quan tâm. Tuy nhiên mối liên kết này còn rất lỏng lẻo, chưa phát huy được hiệu quả, nhất là mức độ liên kết giữa các khâu từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ của các thành phần kinh tế chưa chặt chẽ. Đề nghị Chính phủ cần quan tâm chỉ đạo để phát triển mối liên kết 4 nhà đảm bảo chặt chẽ và hiệu quả theo hướng xác định rõ trách nhiệm từng nhà đến đâu, cơ chế ràng buộc giữa các nhà nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp nông thôn phát triển. Theo chúng tôi nên bổ sung thêm một nhà trong mô hình liên kết 4 nhà, đó là nhà trường, vì muốn phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững, có hiệu quả thì người nông dân phải được đào tạo bài bản, nhà trường phải có trách nhiệm đào tạo nông dân theo nhu cầu ngành nghề, cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng đúng địa chỉ và phải là một mắt xích quan trọng trong quy trình khép kín phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững.

Vấn đề thứ hai tôi muốn phát biểu là về lĩnh vực lao động và việc làm. Theo Báo cáo của Chính phủ năm 2010 nước ta đã tạo được 1,6 triệu việc làm mới, tăng 6,65% so với năm 2009, đào tạo nghề cho trên 1,7 triệu người và thu nhập bình quân đầu người một tháng đạt 1.365.000 đồng. Các số liệu trên đây cho thấy lĩnh vực lao động, việc làm đã phục hồi và tăng trưởng trở lại sau khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tuy nhiên, qua khảo sát trên địa bàn tỉnh và theo dõi một số trung tâm công nghiệp lớn của cả nước, chúng tôi nhận thấy một bất cập đang xảy ra, đó là các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hiện nay đang rất khát lao động, họ cần tuyển một số lượng lớn lao động phổ thông và lao động có tay nghề nhưng đã rất khó khăn. Ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch sản xuất, kinh doanh và hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp.

Vậy nguyên nhân nào có tình trạng như vậy? Theo tôi nguyên nhân chủ yếu là do thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp còn rất thấp, không đảm bảo được các điều kiện sinh hoạt hàng ngày cho người lao động. Bên cạnh đó chính sách đào tạo nghề cho người lao động còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra khi nguồn cầu lao động ngày càng một lớn, do số lượng các doanh nghiệp ngày càng tăng. Một nguyên nhân khác mang tính quyết định đó là các doanh nghiệp sử dụng lao động chưa có chính sách thu hút lao động phù hợp, sự nhận thức về pháp luật lao động còn hạn chế nên đã vi phạm các điều khoản trong hợp đồng lao động cũng như các nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng lương, định mức lao động, lập quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm, trích kinh phí công đoàn, đóng bảo hiểm xã hội, vi phạm công tác vệ sinh an toàn lao động v.v... Để đáp ứng yêu cầu lao động cho các doanh nghiệp trong thời gian tới, khắc phục những hạn chế nêu trên, tôi xin kiến nghị với Chính phủ và các bộ, ngành liên quan một số nội dung sau:

Thứ nhất, Chính phủ cần dự báo được xu thế phát triển của thị trường lao động có khả năng ổn định trong 5 năm tới. Đồng thời không ngừng củng cố hệ thống các trường đào tạo nghề và các trung tâm giới thiệu việc làm hiện có, đảm bảo số lượng lao động đã được đào tạo nghề, dần dần đáp ứng với yêu cầu thực tiễn của các doanh nghiệp đặt ra. Muốn vậy thì sự liên kết giữa các cơ sở đào tạo nghề với các doanh nghiệp phải gắn bó chặt chẽ hơn nữa.

Thứ hai, tăng cường công tác quản lý Nhà nước, nhất là thanh tra, kiểm tra thực hiện các quy định của Nhà nước về lao động, việc làm, phải đề cao hoạt động của các tổ chức công đoàn, nhất là tổ chức công đoàn cơ sở, coi hoạt động của các tổ chức công đoàn là vấn đề cốt lõi để bảo vệ quyền lợi của người lao động cũng như giải quyết tranh chấp lao động tập thể và đình công, lãn công. Tăng cường các chế tài xử lý và xử lý nghiêm túc các doanh nghiệp vi phạm đến quyền lợi của người lao động cũng như quyền của các tổ chức công đoàn. Mặt khác, chủ sử dụng lao động, các tổ chức công đoàn cơ sở phải chú trọng đến công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về lao động cho người lao động, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của họ đối với doanh nghiệp.

Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hệ thống tiền lương, tiền công một cách đồng bộ, ổn định, đồng thời thực hiện thống nhất chính sách chế độ đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, các ngành nghề khác nhau, hoàn thiện hệ thống thể chế thị trường lao động, tạo hành lang pháp lý và bảo đảm bình đẳng hài hòa lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao động và lợi ích chung.

Thứ tư, tiếp tục quan tâm đến chính sách nhà ở cho công nhân cũng như các thiết chế văn hóa, trạm y tế, bệnh viện, trường mầm non ở những nơi tập trung đông người lao động. Trên đây là một số ý kiến của tôi xin được tham gia.



Huỳnh Nghĩa - TP Đà Nẵng
Kính thưa Chủ tọa kỳ họp,

Kính thưa Quốc hội,

Về tình hình kinh tế - xã hội năm 2010 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, tôi xin tham gia một số vấn đề sau đây:

Trước tiên, cần phải khẳng định năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự giám sát chặt chẽ của Quốc hội, sự chỉ đạo điều hành năng động quyết liệt của Chính phủ và chính quyền các cấp, chúng ta đã đạt được những thành tựu ấn tượng, to lớn và đáng phần khởi, GDP tăng 6,7%, có 15/21 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch, đặc biệt nền kinh tế phục hồi khá nhanh, càng cuối năm càng nhanh hơn, cân đối kinh tế vĩ mô cơ bản giữ được ổn đinh. Tuy nhiên, còn khá nhiều vấn đề bức xúc mà kỳ họp nào cũng đề cập, nhưng vẫn chưa xử lý kéo dài năm này qua năm khác, đó là giá cả tăng, thiếu điện trầm trọng, an toàn vệ sinh thực phẩm, ô nhiễm môi trường, dạy thêm học thêm, tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu, phân hóa giàu nghèo v.v... chưa có chuyển biến nhiều, chưa đưa ra giải pháp mạnh, đột phá để khắc phục cải thiện hữu hiệu trong năm tới.

Ba vấn đề quan trọng của đất nước hiện nay là nhập siêu, bội chi ngân sách và nợ công, trong Báo cáo của Chính phủ vẫn chưa thấy lối ra an toàn. Nhập siêu liên tục nhiều năm với mức khá cao và không có chiều hướng giảm. Năm 2006 là 4,8 tỷ, năm 2007 là 14 tỷ, năm 2008 là 18 tỷ, dự kiến năm 2010 là 13,5 tỷ đô la Mỹ. Bội chi ngân sách cao, liên tục nhiều năm làm nợ công những năm gần đây tăng nhanh. Năm 2007 là 33,8%, năm 2008 là 36,2% và năm 2010 ước tính 52,6% GDP, hàng năm phải bố trí 14, 16% ngân sách Nhà nước để trả nợ, đặc biệt nợ nước ngoài ngày càng tăng lên nhanh chóng nếu cộng tất cả con số lại thì mức nợ công của chúng ta mấp mé mức không an toàn, trong khi ngân sách đang bội chi, dự trữ ngoại tệ ngày càng giảm, làm cho nền kinh tế vĩ mô không ổn định, vững chắc và tạo nguy cơ bất trắc không kiểm soát được. Vì vậy, trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, chính sách tiền tệ phối hợp với chính sách tài khóa cần được xem là quốc sách lớn đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững.

Báo cáo của Chính phủ vừa không xác định rõ hướng đi, vừa không có giải pháp cụ thể để thực hiện từng bước chuyển nguồn, tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu là chủ yếu gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, hướng đột phá quan trọng nhất và tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách kinh tế và cơ chế quản lý, cùng với nâng cao tầm vóc, chất lượng hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước. Làm được điều này sẽ tạo nên xung lực mạnh, giải phóng mọi tiềm năng, lợi thế của đất nước, làm thay đổi nhanh chóng toàn diện và sâu sắc trạng thái hiện tại của một số lĩnh vực kinh tế trọng yếu, tạo những bước phát triển nhảy vọt và hiện đại hóa nhanh chóng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và chuyển sang nền kinh tế trí thức, kết hợp chặt chẽ tam giác phát triển kinh tế, môi trường, xã hội, làm cho đất nước phát triển bền vững.

Về giải pháp, xin đề xuất 4 vấn đề sau.

Chúng tôi đề nghị trước hết phải xác định đúng mức độ tăng trưởng GDP đi đôi với giải quyết vấn đề xã hội và phúc lợi xã hội. Không nên đặt mục tiêu tăng trưởng quá cao, mà nên tập trung ưu tiên kìm chế lạm phát, siết chặt quản lý thu, chi ngân sách, phải biết quý và có trách nhiệm đối với mỗi đồng tiền thuế của nhân dân đóng góp. Đồng thời cơ cấu lại đầu tư, chỉ tập trung cho những dự án thiết thực, có hiệu quả, cương quyết dừng những dự án chưa phải là cấp bách. Xem xét một cách nghiêm túc, hiệu quả hoạt động của các tổng công ty, tập đoàn kinh tế Nhà nước. Giảm bớt một số chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án hỗ trợ có mục tiêu thiếu hiệu quả. Kiểm soát chặt chẽ nợ công, vốn vay ODA cũng như sử dụng tiền từ nguồn trái phiếu Chính phủ.

Hai, đề nghị xây dựng thí nghiệm một số đặc khu kinh tế trên cơ sở 15 khu kinh tế mở hiện có trong cả nước để rút kinh nghiệm và mở rộng theo hướng xác định vai trò đặc khu kinh tế vừa là động lực, vừa là giải pháp đột phá phát triển kinh tế đất nước. Mạnh dạn trao các thể chế hành chính và cơ chế chính sách vượt trội, khác biệt rõ với hiện tại, tạo môi trường hết sức thuận lợi với những ưu đãi hấp dẫn nhằm thu hút các nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài nước.

Ba, ưu tiên phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng cao và xem đây là vấn đề then chốt, đột phá. Trước hết, phải đổi mới thật sự mạnh mẽ tư duy về đào tạo đại học và trên đại học. Cần có thái độ cách mạng thật sự trong lĩnh vực này mới hy vọng góp phần phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, đủ trình độ, năng lực tiếp thu ứng dụng phát triển các ngành khoa học kỹ thuật đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế.

Bốn, đề nghị tập trung chấn chỉnh kỷ cương phép nước. Có một sự thật là việc chống tham nhũng của chúng ta không thể vượt qua các bóng hình thức. Địa phương nào cũng có Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, cấp Trung ương có một Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, cấp Trung ương có một Ban chỉ đạo đầy uy quyền nhưng tình trạng tham nhũng vẫn không giảm mà ngày càng nghiêm trọng hơn, điển hình là vụ Vinashin.

Tôi đồng tình với phân tích và kiến nghị của đại biểu Thuyết ở Lạng Sơn, đại biểu Cuông ở Thanh Hóa, điều này đòi hỏi phải có sự mổ xẻ, đổi mới, làm quyết liệt hơn nữa nhằm đem lại lòng tin cho cử tri cả nước. Đã đến lúc phải xây dựng biện pháp cụ thể, phải có cơ chế kiểm soát và đưa hoạt động chống tham nhũng đi vào thực chất, hiệu quả hơn. Xin hết.



Vũ Huy Hoàng - Bộ trưởng Bộ Công thương
Kính thưa Quốc hội,

Được sự chỉ định của Chủ tọa kỳ họp, chúng tôi xin phép được báo cáo Quốc hội về 3 nhóm vấn đề:

Thứ nhất, xung quanh vấn đề cung ứng điện;

Thứ hai, quy hoạch của ngành thép; Thứ ba, vấn đề nhập siêu.

Về vấn đề cung ứng điện, trong các kỳ họp vừa qua, nhất là trong các kỳ họp gần đây cử tri cả nước và các đại biểu Quốc hội đã quan tâm, có yêu cầu Tập đoàn điện lực Việt Nam, Bộ Công thương có báo cáo với Quốc hội, với cử tri cả nước về tình hình sản xuất và cung ứng điện. Trong các kỳ họp trước chúng tôi đã được phép của Quốc hội giải trình và báo cáo làm rõ thêm một số vấn đề. Hôm nay, một lần nữa chúng tôi xin được báo cáo Quốc hội trách nhiệm về việc chưa đảm bảo cung ứng điện trong thời gian vừa qua có phần trách nhiệm của Bộ Công thương. Chúng tôi xin được giải trình thêm như sau:

Năm 2010, đặc biệt là mùa khô từ tháng 5 - 7 tình hình cung ứng điện có nhiều khó khăn, cử tri cũng như đại biểu Quốc hội đã có nhiều ý kiến, chúng tôi cũng đã có báo cáo. Khó khăn này có nhiều nguyên nhân, trước hết chúng tôi thấy có trách nhiệm về mặt chỉ đạo đó là việc thực hiện tổng sơ đồ phát triển điện giai đoạn sáu từ năm 2006 đến năm 2010 và có tầm nhìn đến năm 2015. Nếu thực hiện đúng theo quy hoạch sáu thì chúng ta sẽ không xảy ra tình trạng thiếu điện như vừa rồi. Các kịch bản về tăng trưởng phụ tải điện đã dự báo trong tổng sơ đồ sáu cho đến ngày hôm nay vẫn thể hiện dự báo đúng đắn.

Theo tính toán, trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2015, bình quân một năm chúng ta tăng phụ tải điện khoảng 16 đến 17%. Trên thực tế trong các năm qua từ năm 2007 đến năm 2010, chúng ta cũng tăng ở mức đó, tức là khoảng 15 - 16%, năm nay dự báo chúng ta sẽ tăng 15,7%. Như vậy , dự báo của chúng ta về nhu cầu điện là tương đối phù hợp với diễn biến nhưng trên thực tế việc huy động các nguồn điện vào sản xuất và cung ứng điện có chậm trễ. Báo cáo với Quốc hội, việc chậm trễ này có nhiều lý do, trong đó có một lý do cũng hết sức đáng quan tâm, đó là vấn đề thiếu vốn. Nhất là trong giai đoạn năm 2008 và năm 2009, đứng trước ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu, chúng ta cũng thực hiện một số giải pháp để thắt chặt chi tiêu, trong đó có giải pháp hạn chế đầu tư. Vì vậy, một số công trình trong ngành điện trong giai đoạn năm 2008, năm 2009 cũng rất khó khăn trong việc vay vốn. Vì vậy cũng ảnh hưởng đến tiến độ đưa một số công trình điểm vào huy động trong giai đoạn của năm 2010 và một số năm sau. Đứng trước tình hình đó Chính phủ có chỉ đạo Bộ Công thương, Tập đoàn điện lực Việt Nam và một số nhà phát điện độc lập, trong trường hợp này có Tập đoàn dầu khí Việt Nam và Tập đoàn công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam, đây là 3 đơn vị chủ lực tham gia vào việc xây dựng và cung ứng điện. Chính phủ đã chỉ đạo:

Trước hết, để khắc phục tình trạng thiếu điện hiện nay cũng như trong các năm tới thì giải pháp quyết liệt nhất và quyết định nhất là phải đẩy mạnh tiến độ xây dựng các công trình nguồn điện theo Tổng sơ đồ 6 và sắp tới đây là Tổng sơ đồ 7. Đây là giải pháp quan trọng nhất, phải có nguồn thì mới có khả năng cung ứng điện. Bên cạnh đó chính phủ đã chỉ đạo Bộ Công thương và các ngành phải nhanh chóng đưa những công trình nhiệt điện mới xây dựng đã đi vào hoạt động nhưng phải hoạt động ổn định. Trong thời gian qua chúng ta đã đưa một số nhà máy nhiệt điện chạy than vào hoạt động như nhiệt điện Hải Phòng công suất 600 Mw, nhiệt điện Quảng Ninh công suất 600 Mw, nhiệt điện Cẩm Phả và một số nhiệt điện nhỏ khác, các nhà máy này hoạt động chưa ổn định do những khiếm khuyết về mặt kỹ thuật. Đây cũng là một điều tương đối bình thường, bởi vì trong giai đoạn đầu nói chung các công trình đi vào hoạt động thì cũng phải có thời gian chạy thử để rà soát, căn chỉnh những cái chưa đồng bộ về mặt kĩ thuật. Chính phủ yêu cầu phải có biện pháp cuối năm 2010, chậm nhất là đầu năm 2011 phải đưa được các nhà máy này vào hoạt động ổn định. Đấy là giải pháp thứ nhất.

Giải pháp thứ hai mà các đại biểu Quốc hội và cử tri cả nước quan tâm là vấn đề tái cơ cấu ngành điện, trong đó có Tập đoàn điện lực Việt Nam.

Thưa Quốc hội, năm 2009 chúng tôi đã phối hợp với các bộ, các ngành xây dựng đề án về tái cơ cấu ngành điện. Tuy nhiên, do một số nội dung chưa đáp ứng được yêu cầu cho nên vừa qua Chính phủ yêu cầu chúng tôi tiếp tục phối hợp với các bộ, các ngành của Tập đoàn điện lực Việt Nam hoàn chỉnh đề án này và từ nay cho đến cuối năm 2010 thì trình Chính phủ đề án đó.

Vấn đề thứ ba là vấn đề xây dựng các phương án để chủ động cung ứng điện trong bất cứ tình huống nào xảy ra. Theo yêu cầu của Chính phủ thì dù khó khăn đến mấy trong năm 2011-2011 phải đảm bảo nhu cầu điện cho các nhu cầu sản xuất thiết yếu và phục vụ cho đời sống của nhân dân. Muốn xây dựng phương án cung ứng điện bằng cách tính toán như thế nào thì cũng phải đạt mức của 2 yêu cầu này. Chúng tôi đang chỉ đạo Tập đoàn điện lực Việt Nam triển khai tính toán. Trong tính toán có phối hợp với một số bộ, một số địa phương rà soát lại các công trình sử dụng điện không hiệu quả hoặc lãng phí, hoặc công nghệ lạc hậu, ở đây có cả các dự án thép, một số dự án trong lĩnh vực công nghiệp thì chúng tôi đang làm và cũng phải báo cáo Chính phủ trong năm 2010.

Vấn đề thứ tư là vấn đề tiếp tục xây dựng đề án điều chỉnh giá điện theo hướng bám sát chỉ đạo của Trung ương và đã được Quốc hội thông qua đó là theo cơ chế giá trị trường. Tuy nhiên, để thực hiện cơ chế giá thị trường thì phải đảm bảo một nguyên tắc đó là đối với những hộ nghèo, những hộ khó khăn thì phải có hỗ trợ của nhà nước, hỗ trợ trực tiếp hay hỗ trợ gián tiếp cũng phải hỗ trợ. Đối với các hộ tiêu dùng khác, đặc biệt là vấn đề sử dụng nhiều nhu cầu điện cho ánh sáng sinh hoạt, cho tiêu dùng thì phải có những biện pháp để vừa khuyến khích việc tiết kiệm điện, đồng thời cũng để sử dụng điện có hiệu quả. Vấn đề cuối cùng là vấn đề tăng cường giải pháp vận động tiết kiệm điện. Báo cáo Quốc hội, xung quanh vấn đề điện chúng tôi xin được báo cáo thêm với Quốc hội một số ý kiến như vậy.

Thứ hai, xung quanh vấn đề quy hoạch ngành thép, ý kiến của đại biểu Quốc hội nêu là có cơ sở. Trong thời gian vừa qua đúng là chúng ta có tình trạng một số dự án thép nằm ngoài quy hoạch, vấn đề này cũng tương tự như ý kiến của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Nguyễn Hồng Quân đã phát biểu liên quan đến quy hoạch xi măng. Đối với một số địa phương, đặc biệt là những địa phương còn nghèo, điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn cũng rất mong muốn có các dự án đầu tư vào địa phương mình để góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển công nghiệp. Chính vì thế cho nên cũng không tránh khỏi tình trạng chỗ này, chỗ kia, thời điểm này, thời điểm khác có thể có những dự án nó chưa nằm ở trong quy hoạch và vì thế nó cũng dẫn đến ảnh hưởng đến quy hoạch đã định hướng. Vừa qua thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và trước ý kiến của cử tri và đại biểu Quốc hội cả nước, chúng tôi cũng đã phối hợp với các ngành và các địa phương rà soát lại quy hoạch ngành thép và trên tinh thần, theo chỉ đạo của Chính phủ. Một là riêng đối với quy hoạch ngành thép thì không phải là một quy hoạch mềm, nghĩa là đối với ngành thép thì phải xác định ngay từ đầu một quy hoạch cứng, các dự án chỉ nằm trong quy hoạch thì mới được phép triển khai. Đấy là ý thứ nhất chúng tôi xin báo cáo với Quốc hội.

Ý thứ hai là qua rà soát kiểm tra, nếu phát hiện thấy những dự án thép, một là nằm ngoài quy hoạch và thứ hai là không có hiệu quả, sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu tốn năng lượng thì phải yêu cầu có thay đổi về công nghệ, hoặc là thay đổi về thiết bị, nếu không đáp ứng được yêu cầu đó thì phải đình chỉ và thậm chí là chấm dứt hoạt động.

Thứ ba là tăng cường công tác kiểm tra, phối hợp với các ngành, các địa phương để làm sao đảm bảo quy hoạch thép này nó đáp ứng được yêu cầu của chúng ta, trong đó hướng là chúng ta tập trung vào sản xuất các dự án sản xuất phôi thép. Còn hạn chế các dự án sản xuất thép sản phẩm. Bởi vì hiện nay chúng ta thiếu là thiếu phôi thép chứ không thiếu thép sản phẩm nhất là thép xây dựng. Chính vì vậy, cho nên trong thời gian vừa qua thì chúng ta cũng đã tập trung thực hiện một số dự án sản xuất phôi thép. Ví dụ, như dự án thép ở Vũng Áng ở Hà Tĩnh, công suất khoảng hơn 1 triệu tấn /1 năm. Chúng ta đang mở rộng dự án phôi thép ở Thái Nguyên công suất từ 500.000 tấn lên 1 triệu tấn phôi thép/1 năm. Chúng ta đang xây dựng dự án sản xuất phôi thép tại Lào Cai, ở mỏ Quý Sa vào khoảng 500.000 tấn phôi thép/1năm. Đấy là những hướng Chính phủ đang chỉ đạo. Còn các dự án cán thép thì tập trung vào những dự án cán thép chế tạo, chứ còn dự án sản xuất thép xây dựng thì hiện nay đã hạn chế rất nhiều, xin báo cáo với Quốc hội vấn đề thứ hai về thép.

Vấn đề thứ ba, về nhập siêu, đúng là trong tình hình hiện nay nhập siêu đang còn cao và đây cũng là một trong những khó khăn thách thức nó dẫn đến đe dọa ổn định kinh tế vĩ mô, nhưng chúng tôi xin báo cáo với Quốc hội như thế này.

Trước hết các con số về tình hình nhập siêu trong những năm gần đây, mặc dù nhìn chung tỷ lệ nhập siêu còn cao nhưng chúng ta cũng đã có những bước tiến bộ nhất định, tôi xin được báo cáo với Quốc hội mấy con số như thế này. Nếu mà nói về con số tuyệt đối thì đúng là năm 2007 chúng ta nhập siêu khoảng 14 tỷ đô la. Năm 2008 chúng ta là 18 tỷ. Năm 2009 là 12 tỷ 800 triệu đô la, tức là xấp xỉ 13 tỷ đô la. Năm 2010 trong báo cáo ước thực hiện năm 2010 mà được xây dựng từ tháng 9 thì con số vào khoảng 13,5 tỷ đô la. Nhưng thưa với Quốc hội đến giờ phút này qua nhiều tháng thực hiện và dự báo hai tháng cuối năm chúng tôi tính toán cùng với Tổng cục Hải quan và Tổng cục thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư con số nhập siêu của năm 2010 sẽ vào khoảng 12 tỷ đôla, thấp hơn so với dự báo là 13,5 tỷ và thấp hơn so với năm 2009. Như vậy, chiều hướng từ năm 2008 trở lại đây mỗi một năm chúng ta đều có giảm, tất nhiên mức giảm chưa lớn về con số tuyệt đối.

Về tỷ lệ nhập siêu trên kim ngạch xuất khẩu liên tục chúng ta cũng giảm. Năm 2007 xấp xỉ 30% trên tổng kim ngạch xuất khẩu; năm 2008 là 28,8%; năm 2009 là 22,5%; và năm nay khoảng 18%. Việc chúng ta khắc phục nhập siêu cũng đòi hỏi một quá trình tương đối dài chứ cũng không thể trong ngày một, ngày hai có thể khắc phục được bởi vì một lý do đó là chúng ta đang tập trung đầu tư rất nhiều cho kinh tế, đặc biệt cho xây dựng các năng lực sản xuất mới cho các năm sau. Ví dụ chúng ta xây dựng một nhà máy nhiệt điện công suất 1200 Mw thì tổng vốn đầu tư khoảng 2 tỷ đôla, bằng chúng ta xuất khẩu 6 triệu tấn gạo của một năm, mấy chục triệu nông dân của chúng ta làm một năm cũng chỉ làm ra một giá trị xuất khẩu đủ để đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện mà chúng ta xây dựng rất nhiều các công trình như vậy. Cho nên phải rất cố gắng và trong thời gian cũng không phải ngắn chúng ta mới có thể khắc phục được tình trạng nhập siêu. Hơn nữa, hiện nay công nghiệp hỗ trợ của chúng ta chưa phát triển nên rất nhiều sản phẩm của chúng ta xuất khẩu nhưng phải nhập khẩu mới có bán sản phẩm, có nguyên liệu để xuất khẩu. Ngành dệt may của chúng ta cũng như vậy, chúng ta xuất khẩu 10,5 tỷ đô la nhưng cũng phải nhập khẩu trên dưới 6 tỷ đô la, chúng ta lo trong nước khoảng 40%, ngành da giầy cũng như vậy. Chúng tôi cho rằng vấn đề nhập siêu là câu chuyện rất đáng quan tâm và chúng tôi sẽ thực hiện mọi biện pháp Quốc hội yêu cầu cũng như Chính phủ đề ra để trong thời gian tới đây và theo dự kiến của kế hoạch 5 năm 2011 - 2015, đến năm 2015 phải bằng mọi cách, cái này là dự kiến chứ chưa phải thông qua chính thức đưa tỷ lệ nhập siêu xuống 14%. Dự tính trong một vài năm sau năm 2015 sẽ tiến tới công bằng cán cân thanh toán. Tôi xin hết



Sùng Chúng - Lào Cai
Kính thưa Quốc hội,

Chúng tôi cơ bản nhất trí với Báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội năm 2010 và triển khai thực hiện kế hoạch năm 2011, mặc dù tình hình kinh tế trong nước và thế giới năm 2010 vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, giá vàng và ngoại tệ tăng cao nhưng với sự điều hành quyết liệt và năng động của Chính phủ nền kinh tế của nước ta đã sớm ra khỏi tình trạng suy giảm và đạt mức tăng trưởng cao. Tuy nhiên tình hình hiện nay giá cả có chiều hướng tăng và tăng vào những tháng cuối năm, nhất là ở những mặt hàng thiết yếu nhân dân đang rất lo ngại. Trên cơ sở phân tích đánh giá những nguyên nhân, chủ quan và khách quan, xuất phát từ thực tế của nền kinh tế đất nước, Chính phủ đã đề ra 6 nhóm nhiệm vụ và biện pháp chủ yếu để phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội. Qua nghiên cứu Báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội của Chính phủ, tôi đồng ý với những chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của năm tới. Nhân đây chúng tôi xin kiến nghị với Quốc hội và Chính phủ một số vấn đề như sau:

Thứ nhất là việc Chính phủ ban hành Quyết định số 60 quy định về các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước giai đoạn 2011 - 2015. Việc phân bổ được tính dựa theo các tiêu chí sau:

Tiêu chí thứ nhất là các tỉnh có số thu lớn sẽ được ưu tiên và những tỉnh có số thu thấp sẽ được ưu tiên thấp hơn. Có những tiêu chí như diện tích đất trồng lúa lớn như vậy thì những tỉnh khó khăn tới đây sẽ càng khó khăn hơn. Đề nghị Quốc hội và Chính phủ cần nghiên cứu, làm thế nào ưu tiên cân đối nguồn lực đầu tư cho các tỉnh vùng cao, vùng khó khăn.

Vấn đề thứ hai, cửa khẩu quốc tế Lào Cai khẳng định là vai trò cầu nối, nơi trung chuyển hàng hóa lớn trên hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; giữa Việt Nam với ASEAN với miền Tây Trung Quốc trong khu vực mậu dịch tự do ASEAN Trung Quốc. Vì vậy việc phát triển cửa khẩu Lào Cai không chỉ cho riêng Lào Cai mà phục vụ chung cho cả nước.

Về chủ trương đầu tư phát triển khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai và xây dựng khu hành chính mới, di chuyển các cơ quan phục vụ khu kinh tế cửa khẩu đã được Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, đồng chí Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Sing Hùng đồng ý hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách Trung ương 5 năm 2009 - 2013. Để thực hiện đầu tư khu kinh tế cửa khẩu và xây dựng khu hành chính mới, để thực hiện chủ trương trên tỉnh Lào Cai đã tích cực chỉ đạo xây dựng nhanh, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các dự án tại khu kinh tế cửa khẩu và khu hành chính mới. Tôi đề nghị Quốc hội, Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính cho phép tỉnh Lào Cai thực hiện có thời hạn cơ chế đặc thù là để lại 50% số thu từ kinh tế cửa khẩu, để đầu tư cho hạ tầng kinh tế xã hội của khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai trong thời gian 5 năm, từ năm 2011 - 2015 cho các dự án khu kinh tế của khẩu và hành chính mới của tỉnh Lào Cai.

Thứ ba, theo chiến lực phát triển giao thông vận tải đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 phê duyệt tại Quyết định số 35 ngày 03/03/2009 của Thủ tướng Chính phủ, quy hoạch xây dựng mới các tuyến đường sắt theo tiêu chuẩn quốc tế là 1,35m qua các tỉnh thuộc hai hành lang một vành đai kinh tế Việt Nam - Trung Quốc. Đề nghị Quốc hội, Chính phủ sớm có chủ trương nghiên cứu lập dự án đầu tư xây dựng mới tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội phía hữu ngạn sông Hồng theo tiêu chuẩn quốc tế để đáp ứng nhu cầu vận chuyển nguyên liệu cũng như hàng hóa từ Lào Cai về các tỉnh miền xuôi. Bởi vì các mỏ lớn hầu hết nằm ở phía hữu ngạn sông Hồng. Do đó, xây dựng tuyến đường sắt song song với đường cao tốc Hà Nội - Lào Cai thì rất thuận lợi cho việc vận chuyển quặng Apatít cho nhà máy DAP Đình Vũ và quặng Apatít cho nhà máy phân lân Lập Thạch và các sản phẩm thép như sản phẩm đồng đã được chế biến từ các nhà máy tuyển quặng tại Lào Cai về các khu công nghiệp lớn của đất nước. Theo quy hoạch được duyệt tại Quyết định số 35 năm 2009 của Chính phủ về mục tiêu phát triển đến năm 2020 sẽ xây dựng mới sân bay Lào Cai. Đề nghị Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo Bộ giao thông vận tải sớm thực hiện khảo sát và chuẩn bị đầu tư dự án khởi công xây dựng trước năm 2015. Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội.



Nguyễn Danh - Gia Lai
Kính thưa Chủ tọa,

Kính thưa Quốc hội,

Tôi xin tham gia thảo luận về 2 nội dung sau đây:

Một, liên quan đến nông nghiệp, nông thôn. Nông thôn nước ta chiếm trên 70% dân số lao động ở khu vực 1, chiếm 50% trong tổng số lao động các khu vực, đóng góp trên 20% GDP trong khi đây là lĩnh vực chịu nhiều rủi ro và bị ảnh hưởng thiên tai hàng năm. Lao động qua đào tạo ở nông thôn chỉ chiếm trên dưới 10% so với 25% ở khu vực thành thị. Dân trí thấp hơn 2 lần, nhân lực thấp hơn 10 lần, năng suất lao động nông nghiệp thấp, trên 80% hộ nghèo sống ở nông thôn v.v... là những khó khăn cho phát triển. Do đó đề nghị cần tăng cường ngân sách đầu tư cho khu vực này nhằm phát triển nông thôn nhanh hơn. Rừng và đất rừng nước ta chiếm gần 50% đất liền, đặc biệt là ở vùng miền núi, ngoài góp phần phát triển kinh tế, rừng còn có chức năng cân bằng môi trường sinh thái và tạo sinh cảnh cho đa dạng sinh học. Do đó cần hết sức coi trọng việc bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên bị suy giảm này, nhất là bình quân diện tích rừng/đầu người của nước ta đang rất thấp, chỉ bằng 14% bình quân của thế giới. Đến nay trong chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, chỉ tiêu trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đạt 87,8%; trồng rừng sản xuất đạt dưới 50%; độ che phủ của rừng năm 2010 không đạt Nghị quyết của Quốc hội là 40%. Nếu theo đà tăng trường bình quân, độ che phủ hàng năm tăng 0,5% những năm gần đây thì đến năm 2015 sẽ khó đạt 43% độ che phủ như dự thảo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra.

Lâm nghiệp là một ngành kinh tế quan trọng ngay ở những đất nước có địa hình bằng phẳng. Đối với nước ta, đồi núi chiếm hơn 2/3 lãnh thổ thì rừng càng có vai trò đa dạng, Đề nghị cần kịp thời rà soát, sửa đổi, bổ sung những bất cập và có những chính sách đầu tư đồng bộ, căn cơ và sự chỉ đạo quyết liệt nhằm nhanh chóng phục hồi rừng, xử lý nghiêm vi phạm lâm nghiệp, làm cho lâm nghiệp đóng góp tích cực hơn vào phát triển kinh tế và đặc biệt có cơ chế, chính sách bảo đảm đời sống cho những người sống dựa vào rừng, tạo sự gắn bó và có trách nhiệm với tài nguyên được giao. Cần tổng kết thực tiễn thực hiện lâm nghiệp xã hội hóa để đẩy mạnh giao đất, giao rừng cùng với thực hiện PTD sau giao rừng. Tổng kết việc giao đất lâm nghiệp lâu dài cho các thành phần nhằm đẩy mạnh xã hội hóa trong phát triển bền vững tài nguyên rừng. Trong quy hoạch thủy điện cần thiết phải gắn với quy hoạch lâm phần tương ứng để bảo đảm cung cấp nguồn nước cho hoạt động, tránh lãng phí thềm chứa nước.

Hai, liên quan đến chất lượng tăng trưởng và hướng đến mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. GDP bình quân tăng là điều đáng mừng, nhưng sự điều tiết về xã hội lại chưa tương xứng nên những đối tượng nghèo còn gặp rất nhiều khó khăn. Tốc độ tăng GDP đạt bình quân 7% nhưng tỷ lệ giảm nghèo chưa đến 2% mỗi năm, cùng với hệ số Gini tiếp tục tăng qua các năm càng làm giãn thêm cách biệt giàu nghèo và cơ hội tiếp cận từ nhóm đối tượng nghèo đối với mức GDP bình quân càng trở nên xa vời, do đó cần có chính sách điều tiết mạnh mẽ cho các nhóm yếu thế cũng như cho các vùng có nguồn lực thấp. Như Tây Nguyên nói chung và Gia Lai nói riêng có tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, các nguồn lực cho phát triển còn thấp, nguồn FDI, ODA hiếm hoi do đó cần có sự quan tâm đầu tư của nhà nước về ngân sách và cả các dự án đầu tư phát triển, trái phiếu Chính phủ v.v.... Cần có sự ưu tiên trong phân bổ các nguồn vốn, nếu không sẽ khó có điều kiện để theo kịp sự phát triển chung của cả nước và trong việc thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Tiêu chí phân bổ đầu tư phát triển không thể chung cho các địa bàn, mà phải chú ý đặc điểm vùng, miền và tình trạng phát triển của từng địa phương, miền núi không lấy đâu ra diện tích lúa như đồng bằng để đạt điểm số cao, để có lợi trong phân bổ vốn đầu tư. Số liệu cũng cho thấy tăng trưởng GDP chủ yếu dựa vào vốn 52, 53%, lao động 19, 20%, cả 2 yếu tố này chiếm gần 3/4 trong cả 3 yếu tố tác động đến tăng trưởng, chứng tỏ tỷ lệ đóng góp của năng suất tổng hợp vào tăng trưởng hàng năm của Việt Nam còn rất thấp, trên dưới 28%, trong khi các nước khác trong khu vực là 35, 40%. Tỷ trọng đóng góp vốn cao gấp 3 lần tỷ trọng yếu tố lao động, trong khi vốn là nguồn nước ta còn thiếu, lao động nước ta lại dồi dào hơn. Tỷ lệ sử dụng công nghệ đạt khoảng 2%, trong khi các nước thu nhập trung bình quanh ta trên 30%. Do đó, nếu kéo dài tình trạng này sẽ kìm hãm tăng trưởng, sẽ không có bước tiến mang tính đột phá cũng như dễ rơi vào vòng lẩn quẩn, khó thoát ra nước có thu nhập trung bình để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững theo công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Ngoài các biện pháp nâng cao hiệu quả đầu tư, đặc biệt trong đầu tư công, cần có biện pháp nâng cao tốc độ tăng năng suất tổng hợp giữa trên các yếu tố giáo dục đào tạo, phát triển khoa học công nghệ, áp dụng hệ thống tiên tiến và cơ cấu lại nền kinh tế, cơ cấu lao động trong nông, lâm nghiệp, giảm bình quân 0,95% hàng năm hàng năm. Như vậy đến năm 2020 đạt khoảng 40%, còn cao hơn nhiều so với tiêu chí nước công nghiệp là dưới 25%. Để trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì tỷ lệ dân số đô thị trên 50%, hiện tại chúng ta khoảng 30%, đóng góp cho khoa học, công nghệ và tăng trưởng kinh tế 60 - 70% ta mới đạt khoảng một nửa. Năng suất lao động của doanh nghiệp nước ta thấp hơn từ 2 đến 5 lần so với các nước trong khu vực v.v... Đây là những thách thức cần có giải pháp đúng mức. Xin cảm ơn Quốc hội.



Cao Sĩ Kiêm - Thái Bình
Kính thưa Đoàn Chủ tịch.

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội.

Ngoài phần nhất trí trong Báo cáo của Chính phủ cũng như Báo cáo của Ủy ban kinh tế, tôi xin bổ sung ba vấn đề mới trong chín tháng qua. Chín tháng qua thì đà khôi phục của kinh tế thế giới không đều, đang chậm lại và thất nghiệp vẫn tăng cao, khả năng suy thoái kép có thể xảy ra. Tài chính khôi phục đang mỏng manh và xung đột về tiền tệ đang diễn ra, nếu không được giải quyết thì có khả năng diễn tới một cuộc chiến tranh tiền tệ thế giới mới. Trong khi đó Việt Nam chúng ta đã chặn được đà suy giảm kinh tế, phục hồi kinh tế, có mức tăng trưởng khá cao, kinh tế vĩ mô được cải thiện và đảm bảo xuất khẩu tăng, bội chi ngân sách và nhập siêu đang được cải thiện. Đấy là điểm mới thứ nhất.

Điểm mới thứ hai, qua dự kiến thực hiện kế hoạch năm 2010 thì có thể nói rằng chúng ta đã thành công tiếp trong việc phục hồi kinh tế sau khủng hoảng và kế tiếp với việc thành công trong chống lạm phát 2008 và chống suy giảm 2009. Có thể khẳng định rằng chúng ta đã thành công trong những giải pháp tình thế, giải quyết những tác động rất bức bách của đất nước chúng ta và của thế giới khá thành công. Nhưng nhìn vào những khuyết điểm trong Báo cáo của Chính phủ 6 nội dung hạn chế, yếu kém, đặc biệt là những hạn chế yếu kém trong sức cạnh tranh, trong khoa học công nghệ, trong giáo dục, trong đào tạo, trong xây dựng thể chế, trong xây dựng hạ tầng, nâng chất lượng nguồn lực là những vấn đề rất cơ bản đảm bảo phát triển bền vững của đất nước chúng ta trong những năm tới, thì chưa thành công, hoặc chuyển biến rất chậm. Đây là một điểm mới yếu kém của chúng ta.

Thứ ba là Báo cáo của Chính phủ lần này cũng như Báo cáo của Ủy ban Kinh tế tôi thấy nêu và phân tích phần khuyết điểm, hạn chế khá toàn diện, sát thực tế. Đặc biệt là nêu nguyên nhân chủ quan về quản lý và điều hành, những điểm này rất trúng và rất đúng, nhưng tiếc rằng những điểm nêu trách nhiệm chưa cụ thể và chưa rõ ở một số vị trí. Khâu quản lý kinh tế và quản lý con người của chúng ta là nguyên nhân rất quan trọng và trầm trọng gây ra thất thoát tài sản tiền vốn, gây xói mòn lòng tin và sự xói mòn này đang càng tăng nhanh. Đó là 3 điểm mới trong việc thực hiện kế hoạch 9 tháng qua.

Về kế hoạch năm 2011 chúng tôi thấy với tồn tại đang mắc phải, nhất là những vấn đề về dài hạn và tính bền vững thì mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô chuyển cơ cấu nâng năng suất chất lượng, hiệu quả trung, dài hạn cho năm 2010 là rất đúng. Từ đó xác định tăng 7 - 7,5 GDP cũng như 8% lạm phát và các chỉ tiêu nêu trong kế hoạch tôi cho là phù hợp. Nhưng để đảm bảo cho tình hình đó được thực hiện, nhất là trong tình hình thế giới hiện nay, theo dự báo kinh tế thế giới sẽ khôi phục năm 2011 rất chậm và chứa đựng nhiều rủi ro, bất ổn, có thể gây ra những cái rất phức tạp cho tình hình mới.

Cho nên để đảm bảo các mục tiêu được thực hiện một cách đầy đủ, đặc biệt là những mục tiêu của năm 2011- năm đầu của kế hoạch 5 năm và năm đầu tiên chúng ta thực hiện những tư tưởng chỉ đạo mới của Đại hội XI, tôi đề nghị tập trung vào 3 vấn đề lớn.

Trước hết, muốn giải quyết cho kế hoạch năm 2010 này tốt và chuẩn bị điều kiện chúng ta đi vào năm 2011 thuận lợi, chúng tôi đề nghị có chương trình, lộ trình sửa một cách cơ bản, tạo chuyển biến một cách rõ rệt 6 khuyết điểm mà trong Báo cáo năm 2011 nêu lên. Trước mắt tập trung vào 3 việc ngay trong những tháng còn lại của năm 2010: Một là giải quyết thành công hoặc giải quyết thành công cơ bản những nút thắt của kinh tế hiện nay, mà nút thắt ấy chúng ta đã bàn nhiều lần.

Hai là chuyển biến cho bằng được, tạo tiền đề cho bằng được bội chi ngân sách và nhập siêu giảm càng nhanh càng tốt, càng nhiều càng hay.

Thứ hai, chúng tôi thấy để chuyển sang tư tưởng chỉ đạo mới là từ chiều rộng sang chiều sâu, từ tốc độ sang chất lượng, từ tính hiệu quả phải được nâng lên, năng suất, chất lượng phải được nâng lên, chúng tôi đề nghị làm mấy việc cụ thể để có chất lượng tăng trưởng cao.

Một, rất chú ý có những biện pháp, có những giải pháp khai thác một cách hiệu quả, tập trung một cách hiệu quả cho thành phần kinh tế tư nhân, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa. Kiên quyết chúng ta phải điều hành và chỉ đạo theo nguyên tắc thị trường nhất quán.

Thứ hai, có giải pháp nâng bằng được hiệu quả đầu tư công vào nợ quốc gia và sắp xếp một bước mạnh mẽ và có hiệu quả, có chất lượng doanh nghiệp nhà nước.

Thứ ba, tập trung hoàn chỉnh khâu đột phá là hệ thống thể chế và những quy định để đảm bảo thông thoáng trong hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ của các thành phần kinh tế. Đặc biệt chú ý đến chất lượng hạ tầng, kể cả trong đầu tư đường xá, bến cảng, nhà cửa v.v... đây là vấn đề rất nhức nhối và gây tổn hại nhiều.

Thứ tư, nâng bằng được một bước cơ bản chất lượng nguồn lực, đặc biệt là các ngành mũi nhọn cũng như khu vực nông thôn, nông dân. Đó là việc chúng tôi thấy để đảm bảo cho chuyển hướng sang chất lượng và nâng tính hiệu quả của nền kinh tế.

Chúng tôi đề nghị tất cả giải pháp kể cả cuối năm 2010 và năm 2011 nên tập trung vào những điểm yếu kém nhất, mà yếu kém nhất hiện nay trong tất cả những yếu kém là công tác quản lý, kể cả quản lý tiền vốn, vật tư, môi trường, khoáng sản, đất đai v.v... có một điểm quản lý quan trọng là vấn đề cán bộ, kể cả phẩm chất, đạo đức, năng lực và trách nhiệm làm việc. Trên cơ sở phải quy định rõ tiêu chuẩn, tiêu chí thanh tra, kiểm tra, phát hiện xử lý kịp thời gắn với trách nhiệm chính trị với trách nhiệm kinh tế, gắn nghị quyết với hành động làm cho việc thực hiện của chúng ta nghiêm và lòng tin được nâng lên. Đây là yếu tố đảm bảo cho kế hoạch năm 2011 thành công. Xin hết.



Trương Thị Thu Hằng - Đồng Nai
Kính thưa Quốc hội,

Trải qua 19 kỳ họp của gần 2 nhiệm kỳ Quốc hội, qua nghiên cứu tất cả các báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội của Chính phủ và các báo cáo của các ủy ban của Quốc hội tôi nhận thấy mức tăng trưởng GDP hàng năm tuy có thay đổi tăng ít hay nhiều, đạt cao hay thấp cũng đều được cảnh báo là thiếu bền vững, chất lượng thấp, nhập siêu cao, sản xuất hàng hóa trong nước thiếu cạnh tranh, đầu tư tăng cao nhưng hiệu quả thấp bởi chi tăng, các doanh nghiệp Nhà nước sản xuất kinh doanh kem hiệu quả, lãng phí, tham nhũng vẫn tồn tại và thách thức. Mặc dù Chính phủ luôn xác định được nguyên nhân và đưa ra nhiều giải pháp tích cực để điều hành. Quốc hội cũng ra nhiều nghị quyết để định hướng cho hoạt động điều hành của Chính phủ, nhưng những nhận định về tăng trưởng kinh tế nêu trên vẫn như một mặc định trong các báo cáo mà không biết khi nào mới chấm dứt. Trong hai năm thế giới lâm vào khủng hoảng kinh tế tài chính và rơi vào suy thoái, nhiều chuyên gia kinh tế đã cho đây là câu hỏi để tái cơ cấu, khắc phục những tồn tại, khuyết tật của nền kinh tế nước nhà và tranh thủ thời cơ để phát triển. Tuy nhiên suy thoái đi qua, kinh tế thế giới đang dần hồi phục, nhưng có vẻ ta chưa tận dụng được cơ hội đó. Chính phủ đã có nhiều cơ chế chính sách để hỗ trợ cho doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn này, nhưng có bao nhiêu doanh nghiệp sản xuất đã được tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình dây chuyền sản xuất nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần phục hồi tăng trưởng và nâng cao chất lượng tăng trưởng, chưa có báo cáo nào nêu được số liệu này.

Chính phủ báo cáo đã kiểm soát được lạm phát nhưng theo thông tin chính thức từ tổng Cục thống kê CPI 10 tháng đầu năm đã tiệm cận mức 8%, giá tiêu dùng liên tục tăng, thu nhập thực tế của người lao động giảm sút, mức tăng tiền lương của người lao động đã thấp xa so với mức tăng giá và sự sụt giảm của giá trị đồng tiền.

Ngay những ngày này khi Quốc hội đang nghị sự, giá cả lương thực, thực phẩm, hàng hóa từ thông thường đến đặc biệt đang phập phồng tăng từng giờ theo giá vàng, giá đô la. Người dân cầm đồng tiền ít ỏi trong tay hôm nay nhưng đến ngày mai trị giá đã không còn như hôm qua, mà không biết vì sao? Báo cáo cho biết trong năm 2010 có 25 bộ ngành và 31 địa phương đã tiết kiệm được trên 2.700 tỷ đồng, 9 tập đoàn tổng công ty Nhà nước tiết kiệm được 2.350 tỷ, nếu so với món nợ 86 ngàn tỷ mà ngân sách gánh cho Vinashin thật là như muối bỏ biển. Số tiền đó nếu đầu tư cho y tế, tôi chắc rằng sẽ có rất nhiều trẻ em bệnh tim được phẫu thuật để có đủ sức khỏe để tiếp tục đến trường, rất nhiều bệnh nhân ung thư được chữa trị, nhiều bệnh viện được mở rộng hoặc xây mới, không còn cảnh người bệnh phải nằm chen chúc như thực trạng tại một số bệnh viện hiện nay.

Chính phủ cũng báo cáo 100% tỉnh thành cả nước đạt được chuẩn phổ cập trung học cơ sở, nhưng bạo lực học đường ngày càng gia tăng, quan hệ thầy trò không còn như thời trước khi phổ cập. Bên ngoài học đường, va chạm nhỏ cũng sẵn sàng chém giết nhau, bạo lực gia đình ngày càng nghiêm trọng. Ý thức của người dân về chấp hành những quy tắc của xã hội như giữ trật tự , vệ sinh công cộng đều đáng báo động. Ngay giữa Thủ đô Hà Nội văn minh, thanh lịch, hào hoa, có không ít sự kiện quan trọng tầm cỡ quốc tế, có nhiều quan khách cấp cao nước ngoài lẫn du khách nhiều nước trên thế giới đến thăm, nhưng việc chen lấn, giành giật, dẫm đạp, phá nát cảnh quan, xả rác bừa bãi của người dân tại các điểm thăm quan công cộng trong các lễ hội. Đặc biệt, ngay trong Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội cũng diễn ra một cách đáng xấu hổ. Những điều đó đã làm giảm đi ý nghĩa của việc đạt chỉ tiêu phổ cập trung học cơ sở toàn quốc.

Việt Nam ta đến nay vẫn còn nghèo, dân đông, tiền của ít. Nhà nước ta đặt ra nhiều chế định nhằm quản lý chi tiêu, bảo tồn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ít ỏi do người dân chắt chiu đóng góp. Nhưng những chế định với những quy trình thực hiện chặt chẽ tưởng như rất hiệu quả ấy, đã làm phát sinh nhiều chi phí gián tiếp, tốn kém rất nhiều thời gian mà kết quả đi ngược với mong muốn ban đầu. Đó là tất cả những tài sản, thiết bị, công trình được mua sắm, xây dựng từ nguồn ngân sách Nhà nước đều có trị giá cao hơn rất nhiều so với giá trị thực. Còn chất lượng thì không tương xứng, còn chậm chễ, mất tính cấp thiết và giảm hiệu quả sử dụng. Những chế định đó đã tạo ra cơ chế xin, cho và một ý thức hệ là việc sử dụng tiền ngân sách như tiền chùa, hết sức lãng phí, góp phần đáng kể cho sự thiếu bền vững của tăng trưởng kinh tế.

Tôi đề nghị Chính phủ nghiên cứu sửa đổi các chế định về tài chính hiện hành theo hướng khoán thu, khoán chi, một cơ chế chống thất thoát, lãng phí đã được thực tế chứng minh là có hiệu quả. Chính phủ đề ra chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế GDP năm tới là 7-7,5%, cử tri mong rằng đằng sau con số đó là công ăn việc làm không bị ngăn trở bởi sự không nhất quán trong điều hành của Chính phủ và chính quyền địa phương, thu nhập được ổn định, không bị lạm phát ngốn mất, trẻ em đến trường không chỉ được dạy chữ mà còn biết lễ nghĩa, có kỹ năng sống và biết gắn kết với cộng đồng, người có bệnh vào viện không phải nằm đôi, nằm ba, ra đường không bị kẹt xe, ngập nước, sập hố, sập hầm, khi cần đến cơ quan Nhà nước không phải lót tay bồi dưỡng cán bộ thì mới được giải quyết. Mùa khô hay mưa cũng có điện đủ dùng cho sinh hoạt và sản xuất, có nước sạch để nấu ăn, tắm giặt, cử tri cũng muốn những đồng tiền do họ đóng góp vào ngân quỹ Nhà nước phải được chi tiêu hiệu quả, đúng mục đích, được kiểm soát chặt chẽ, công khai minh bạch có trách nhiệm để những vụ việc như Vinashin không xảy ra nữa. Để làm được điều đó, ngoài 6 giải pháp Chính phủ đã đề ra, tôi đề nghị trong năm 2011 Chính phủ cần cắt giảm những khoản đầu tư công không hiệu quả hoặc chưa thật cấp thiết để tăng cường đầu tư cho y tế và giáo dục để tạo ra sức khỏe và tri thức cho nguồn nhân lực là khâu trọng yếu, có tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế cả về chất lẫn về lượng. Đồng thời, Chính phủ cần tạo ra một đột phá để ngành y tế và giáo dục không chỉ trông đợi vào sự đầu tư của Nhà nước, còn có thể phát huy được nội lực, thu hút được ngoại lực để phát triển.

Trước mắt, tôi kiến nghị Chính phủ sớm thông qua đề án đổi mới cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với ngành y tế, điều chỉnh mức thu hợp lý đối với một giá dịch vụ y tế như ngày/gường, công khám, đổi mới phương thức chi trả dịch vụ khám chữa bệnh từ bao cấp cho cơ sở y tế sang hỗ trợ cho đối tượng hưởng dịch vụ. Đây sẽ là một bước cải cách quan trọng trong cơ chế tài chính y tế. Tôi cũng kiến nghị Quốc hội xem xét bổ sung chương trình phòng, chống HIV/AIDS và an toàn vệ sinh thực phẩm cùng với chương trình y tế và dân số kế hoạch hóa gia đình vào danh mục chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011 - 2015, đầu tư cho y tế và giáo dục là đầu tư cho phát triển, chính là đầu tư cho chất lượng tăng trưởng kinh tế. Tôi xin hết.



Nguyễn Đăng Vang - Bình Định
Kính thưa Chủ tọa cuộc họp.

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội.

Kính thưa các vị khách quý.

Chúng tôi có chuẩn bị về nhận định của kinh tế - xã hội năm 2010 và phương hướng của năm 2011 nhưng đã có nhiều vị đại biểu Quốc hội nói rất sâu sắc, cho nên chúng tôi tập trung lại hai ý kiến cơ bản là về vấn đề đầu tư cho nông nghiệp và ý kiến thứ hai là vấn đề tích tụ đất đai.

Vấn đề đầu tư cho nông nghiệp thì trong Báo cáo của Chính phủ có nêu đầu tư cho nông nghiệp nông thôn chưa tương xứng, nhưng báo cáo chưa đưa ra con số cụ thể cho nên khó thấy được mức độ sâu sắc của nhận định này. Thực ra không phải là năm 2010 mà đã lâu chúng ta đầu tư cho nông nghiệp chưa xứng tầm của nó. Đầu tư cho nông nghiệp năm 2009 chỉ bằng 6,26% tổng đầu tư cho xã hội, trong khi GDP của ngành này là 20,91%. Trước đó năm 2008 thì tỉ trọng này còn cao hơn một chút, tức là 6,45% và vào năm 2005 cách đây 5 năm thì còn được 7,50%, vào năm 2000, cách đây 10 năm còn được 13,85%. Nhưng từ đấy đến nay cứ giảm dần, giảm dần và chỉ còn 6,26%. Tôi e rằng năm 2011 sẽ còn giảm nữa và nếu như vậy sẽ gây tác động không tốt cho ngành nông nghiệp của chúng ta. Như vậy rõ ràng đầu tư cho nông nghiệp ngày càng giảm, hiện nay bằng 30% so với trung bình tương đương giá trị GDP của chính ngành này mang lại. Chúng tôi cũng thấy xem phân khúc tại sao đầu tư vào khu vực này lại thấp như vậy? Chúng tôi xem tiếp đầu tư nước ngoài FDI vào ngành này thì năm 2008 người nước ngoài đầu tư vào khu vực này chỉ chiếm 0,32% tổng đầu tư FDI của họ đưa vào Việt Nam, năm 2009 là 0,58%. Toàn giai đoạn từ năm 1988 đến 2009, 21 năm qua thì đầu tư cho ngành nông nghiệp của người nước ngoài vào lĩnh vực này có 2,3%, trong khi toàn bộ giai đoạn này nông nghiệp chiếm 27,7%. Rõ ràng không hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài, cũng không hấp dẫn nhà đầu tư trong nước, nhưng có thể nói cũng không hấp dẫn các nhà hoạch định chính sách. Đó là một điều chúng tôi rất đáng lo ngại.

Nói đến phát triển bền vững người ta thường hay nói là tăng trưởng kinh tế phải nhanh, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ và giữ gìn môi trường thì rõ ràng công bằng xã hội ở nông thôn là một vấn đề cần phải được quan tâm và bảo vệ môi trường cũng chính khu vực này.

Nước Anh vào năm 1900, tức là cách đây 110 năm họ cũng thấy tăng trưởng của nông nghiệp chậm nên không đầu tư vào. Sau 10 năm họ phát hiện rằng đó là một sai lầm và sai lầm đó suốt 100 năm nay họ không dám vi phạm trở lại. Đài Loan bắt đầu phải quay trở về chu kỳ 2, tái đầu tư trở lại cho nông nghiệp sau khi bị lãng quên. Hàn Quốc hiện nay riêng trong khuyến nông đầu tư cho 1ha là 850 đôla trong khi khuyến nông của chúng ta hiện nay đầu tư cho 1ha là 1 đôla, tức là bằng 1/850 lần so với Hàn Quốc.

Chúng tôi xin đề nghị năm 2011 không nên tiếp tục giảm tỷ lệ đầu tư ở khu vực này và cần phải có một chính sách đồng bộ theo cách gọi là khung lôgic hay là phương pháp ma trận mà bây giờ người ta không lệ thuộc vào ý chí của một người mà lệ thuộc vào một phương pháp tính toán hiệu quả kinh tế nhất. Tôi nói ví dụ như vừa qua để chuẩn bị kết thúc dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, Quốc hội đã có Nghị quyết 73 là đến năm 2011 sau khi dự án kết thúc thì dự án này được chuyển giao đầu tư theo chương trình trọng điểm quốc gia. Vừa qua chúng ta lại không đưa vào chương trình trọng điểm quốc gia mà Quốc hội đã nêu, cũng không đầu tư tiền tương tự như trước đây là 1.425 tỷ đồng vào năm 2011 thì năm nay chúng ta đưa vào 725 tỷ bằng nửa. Trong khi chúng ta lại tự kiểm điểm là độ che phủ rừng năm nay không đạt, như vậy không đạt phải tăng tiền lên thì lại giảm tiền đi. Tôi hỏi Bộ nông nghiệp là tại sao có chuyện như vậy, Bộ nông nghiệp bảo là Bộ kế hoạch và đầu tư không đồng ý. Như vậy rõ ràng có sự không đồng bộ tại đây và cần phải được sắp xếp một cách thật hợp lý, nếu không như thế này sẽ không có lợi cho sản xuất. Trong khi chúng ta nhập khẩu gỗ khoảng 1 tỷ đô la 1/ năm khoảng 20.000 tỷ đồng, chúng ta lại bảo rằng phải tránh nhập siêu, nhưng chúng ta có thể khai thác rừng, những rừng mà đã là 15 năm, từ năm 1994 của Chương trình 327 bây giờ có thể khai thác được, cây gỗ rừng già nó cũng chết, giống như người già phải chết, nhưng chúng ta cứ để đó mà không khai thác để giữ độ che phủ rừng thì là một thiệt hại lớn cho kinh tế của đất nước.

Vấn đề thứ hai, về tích tụ đất đai. Trong một số báo cáo của Đảng và Nhà nước, kể cả của Chính phủ có nói vấn đề tích tụ đất đai, nhưng hiện nay người ta hiểu tích tụ đất đai là đất sử dụng của người này chuyển cho người khác và đồng bằng có thể lên tới 3ha trên một hộ và đương nhiên chúng ta hiện bây giờ trên 9 triệu hộ nông dân và có 9 triệu hộ đất nông nghiệp thì có nghĩa là mỗi một hộ có 1ha. Nếu một hộ có 3ha thì các hộ đâu đó sẽ là không có đất đai, người kia sẽ đi làm thuê cho người này. Trên miền núi có khoảng 14 - 16 triệu ha đất lâm nghiệp hoặc đất rừng vì còn một số chưa trồng rừng hết. Như vậy mỗi một hộ trung bình khoảng 3 ha, nếu chúng ta cho phép chuyển sở hữu lên 50 ha thì một hộ nào đó có 50 ha sẽ có 17 hộ không có đất đai. Chính vì vậy sự giàu nghèo sẽ doãng ra tiếp tục. Hiện nay khoảng cách giàu nghèo của chúng ta đã doãng ra rồi vì theo thống kê của Tổng cục thống kê năm 2006 chúng ta 20% người nghèo nhất của xã hội và 20% người giàu nhất khoảng cách là 8,4 lần; năm 2008 sau 2 năm khoảng cách đó là 8,9 lần. Nếu tình trạng này còn doãng nữa vì một bên tăng trưởng 49%, bên khác tăng trưởng 58% thì giàu nghèo còn tiếp tục doãng ra. Nếu như vậy công bằng xã hội sẽ không đảm bảo và sự phát triển của xã hội không bền vững.

Chúng tôi thấy vấn đề tích tụ đất đai là một vấn đề hết sức tế nhị. Ở Đài Loan người ta mua đất của địa chủ để chia cho hộ nông dân mượn và tích tụ bằng công nghệ, tích tụ bằng chế biến, tích tụ bằng thu mua để thành một hàng hóa lớn. Còn không có tích tụ về sở hữu, năm 1955, 1956 chúng ta có đất đai chia cho nông dân, cho người cày có ruộng và tạo nên một hưng phấn mới, chính vì vậy cho nên chúng ta đã có nhiều thành công. Hiện nay tại Sơn La, Điện Biên, Lai Châu cũng một hình thức tích tụ như vậy, 13 ngàn ha với sự đầu tư của ngành cao su thì cũng đã hình thành một dạng tương tự như vậy. Và chúng tôi cho rằng đây là mô hình cần phải nghiên cứu để có thể đưa vào ứng dụng và không nên tích tụ đất đai theo hình thức quyền sở hữu mà hiện nay trong vấn đề này đang rất nguy cấp, chúng tôi đã có báo cáo trong bản Báo cáo là chuyển gần như đất đai của 26 ngàn ha của những hộ đang nhận khoán chuyển cho một doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp tư nhân thì mấy chục ngàn người kia họ sẽ sống bằng gì. Chúng tôi thấy cần phải được xem xét hết sức cẩn thận, chứ nếu không thì xã hội có thể sẽ phức tạp hơn nhiều, liên quan đến vấn đề đất đai. Xin trân trọng cảm ơn.



Ngô Tự Nam - Đồng Tháp
Kính thưa Quốc hội,

Sau khi nghiên cứu Báo cáo của Chính phủ, chúng tôi đồng tình với rất nhiều nội dung trong Báo cáo đã nêu, chúng tôi đồng tình với nhận định những hạn chế của hệ thống thể chế, cơ sở hạ tầng, nguồn nhân lực vẫn là những cản trở lớn. Chúng tôi nhất trí với Báo cáo nêu yêu cầu phải tổ chức thực hiện tốt 6 nhóm giải pháp với 27 giải pháp cụ thể, trong đó nhấn mạnh một số giải pháp như pháp điển kết cấu hạ tầng nông nghiệp và nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn nhằm tạo ra liên thông giữa các vùng miền, tạo điều kiện cho các vùng khó khăn phát triển, giảm bớt sự giãn cách giữa các vùng miền. Chúng tôi xin phát biểu 2 vấn đề về xây dựng cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực:

Một, về xây dựng cơ sở hạ tầng, nhu cầu về cơ sở hạ tầng của Việt Nam rất lớn, rất đa dạng, một trong những thách thức lớn đối với Việt Nam đó là khắc phục những thiếu hụt trong cơ sở hạ tầng. Chúng ta đang phải đối mặt với những đòi hỏi giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở hạ tầng yếu kém cũng ảnh hưởng tới đầu tư trực tiếp của nước ngoài cả hiện tại và trong tương lai. Đối với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, thời gian vừa qua cơ sở hạ tầng giao thông đã có bước phát triển rất đáng phấn khởi. Các công trình trọng điểm đề cập trong Quyết định 344 của Thủ tướng Chính phủ về phương hướng, nhiệm vụ và kế hoạch phát triển giao thông vận tải vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đều đã cơ bản hoàn thành mục tiêu giai đoạn 2010. Nhưng cũng có thể nói chưa đủ để tạo ra sức cạnh tranh. Một số tuyến đường trong khu vực nhỏ hẹp và xuống cấp không bảo đảm chuyên chở hàng hóa bằng công ten nơ, nhiều tuyến có đường nhưng chưa có cầu và ngược lại trên một số tuyến đường có nhiều cầu thì mỗi cầu lại có trọng tải khác nhau. Một số công trình triển khai chậm tiến độ, chưa kể thời gian các phương tiện giao thông chờ đợi qua phà. Thời gian và chi phí vận tải hàng hóa cao hơn so với các khu vực khác trong cả nước.

Thực trạng trên đây đã gây ra lãng phí lớn cả về thời gian và vật chất. Kết cấu hạ tầng giao thông chưa đồng bộ đang là một trong những nguyên nhân làm chậm sự phát triển kinh tế - xã hội của vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và sự liên kết giữa các tỉnh, các vùng miền trong cả nước nói chung ảnh hưởng đến tốc độ tăng tưởng kinh tế và đây cũng được xem là tác động có ảnh hưởng đến chỉ số cạnh tranh của khu vực này.

Cầu Cao Lãnh bắc qua sông Tiền và cầu Vàm Cống bắc qua sông Hậu đã được Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể. Theo đó, hai cây cầu này được ưu tiên đầu tư trong giai đoạn 2007-2010. Nhưng cho đến nay việc xây dựng 2 cây cầu này vẫn chưa được triển khai. Ngày 31/8/2010 Bộ Kế hoạch và Đầu tư có Báo cáo gửi đồng chí Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Tháp cho biết cầu Cao Lãnh và cầu Vàm Cống được thực hiện từ nguồn vốn ODA đang trong quá trình chuẩn bị thực hiện hỗ trợ kỹ thuật và triển khai vào năm 2012.

Cử tri tỉnh Đồng Tháp rất phấn khởi trước sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ triển khai việc thực hiện xây dựng 2 cây cầu này. Cảm ơn Chính phủ và nhân dân Australia đã hỗ trợ đầu tư xây dựng cầu Cao Lãnh, Chính phủ và nhân dân Hàn Quốc hỗ trợ đầu tư xây dựng cầu Vàm Cống. Cùng với các tuyến đường N1 và N2 Hồ Chí Minh cầu Cao Lãnh và cầu Vàm Cống được xây dựng sẽ nối liền miền Đông Nam Bộ và Thành phố Hồ Chí Minh với các tỉnh phía Nam sông Hậu đến các tỉnh cực Nam của Tổ quốc ngang qua tỉnh Đồng Tháp. Mở ra sự giao lưu trực tiếp về kinh tế - xã hội giữa vùng kinh tế trọng điểm phía Nam với vùng sản xuất lúa quan trọng nhất của cả nước. Vùng kinh tế biển, vùng cây trái, vùng có nhiều tiềm năng du lịch đồng bằng sông Cửu Long trong đó có tỉnh Đồng Tháp sẽ có cơ hội phát triển nhanh hơn. Chúng tôi xin đề nghị Chính phủ tăng cường chỉ đạo điều hành trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu tập trung và không đồng bộ như một số công trình thời gian qua.

Hai, về dạy nghề cho lao động nông thôn và thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yêu cầu cấp thiết của đất nước ta, đất nước có lực lượng lao động lớn nhưng chất lượng nguồn nhân lực thấp. Cử tri đồng tình với việc tiếp tục thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Hỗ trợ tạo việc làm và phát triển thị trường lao động giai đoạn 2011 - 2015, đặc biệt ở khu vực nông thôn để giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống 40% lao động xã hội vào năm 2015 và giảm tỷ lệ thiếu việc làm ở khu vực nông thôn. Theo dự báo quy mô lực lượng lao động nước ta sẽ tiếp tục tăng, lực lượng lao động được bổ sung là rất lớn, chủ yếu là lao động trẻ, trong đó có lao động trẻ nông thôn có tiềm năng, có thế mạnh nhưng lại gặp khó khăn khi tìm kiếm việc làm.

Để thực hiện có hiệu quả việc triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, chúng tôi xin đề nghị Chính phủ có các giải pháp đồng bộ để thực hiện có hiệu quả, trong đó giải pháp về huy động nguồn nhân lực là rất quan trọng. Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2011 đã bố trí 1000 tỷ đồng cho dạy nghề lao động ở nông thôn. Báo cáo của Chính phủ có đề nghị cân đối tối thiểu 3% tổng chi ngân sách Nhà nước giai đoạn 2011 - 2015 cho thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trong đó có chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm. Chúng tôi xin đề nghị xem xét nâng mức cân đối tối thiểu là 4% tổng chi ngân sách Nhà nước giai đoạn 2011 - 2015 cho việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trong đó có chương trình quốc gia về việc làm. Xin cảm ơn Quốc hội.

(Quốc hội nghỉ)